Tiếng Việt với một phụ nữ Mỹ



Tiếng Việt với một phụ nữ Mỹ

Dạ Ngân

 

Một buổi tối Hà Nội cách nay đã 15 năm, Rosemary xuất hiện trong căn hộ của chúng tôi. Sau vài câu chào hỏi, chủ nhà ngẩn ngơ vì cô em xa nửa vòng trái đất này ruột rà với tiếng Việt như một Việt kiều. Chúng tôi chưa thấy một người ngoại quốc nào rôm rả và thành thạo tiếng Việt như vậy. Khách còn bạo dạn nhận xét: “Nhà anh chị có gác xép, điển hình cho kiểu nhà Hà Nội thời bao cấp, há?” Trời đất, tiếng Việt của em vừa chuẩn Hà Nội vừa pha một ít phương ngữ Sài Gòn, sao em giỏi một cách kỳ lạ vậy cô em?

      Đó là một buổi tối không thể nào quên. Trong đời, chắc ai cũng có những kỷ niệm như vậy riêng cho tình bạn. Có tiếng Việt, khách đã có chìa khóa để có thể bước vào bất kỳ ngôi nhà Việt Nam cởi mở nào và khi ta biết khách đã chọn tiếng Việt làm niềm vui sống thì không cớ gì ta không quý không yêu? Nhìn vào gương mặt đặc Mỹ của Rosemary và nghe từ đôi môi ấy một thứ tiếng Việt điêu luyện, giống như ta đang xem một nghệ sĩ tài năng trên sân khấu. Sau này Rosemary hay gặn hỏi tôi: “Khi em nói sao chị hay tủm tỉm vậy?” Tôi không đừng được tiếng cười: “Vì tiếng Việt ở em quá siêu, chị không bao giờ hết thú vị và ngưỡng mộ!”

       Năm đó trên tấm card của Rosemary chưa có họ Nguyễn của chồng. Năm đó cô vừa tốt nghiệp khoa mỹ thuật của đại học Yale và xung phong một dự án văn học với trường mình: đánh đường sang Việt Nam rồi đích thân tìm ở tuần báo Văn nghệ những truyện đặc sắc của những tác giả đương đại để chuyển ngữ một tập truyện ngắn. Và cô đã chọn dịch Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Quang Thân (2 truyện), Lê Văn Thảo, Phạm Hoa, Nguyễn Quang Lập, Trần Trung Chính, Kim Sa Trung, Dạ Ngân. Tin tuyệt đối vào thẩm định cá nhân của người dịch, kiểu dùng người ấy đã cho đại học Yale tập song ngữ Nine storys from Việt Nam writers union newspaper Báo Văn Nghệ, một trong những đầu sách tư liệu quý dành cho giảng dạy ở Mỹ về văn học Việt Nam. Rosemary còn kiêm luôn trình bày sách và minh họa cho từng truyện ngắn.

     Duyên và nghiệp của mỗi người là một con đường bí ẩn như thể đã được lập trình không sao giải thích được, điều mà người Việt chúng ta vẫn tin là số phận. Chính Rosemay cũng không ngờ từ lúc cái tên Việt Nam chỉ lờ mờ trong ký ức trẻ thơ bởi “hội chứng Việt Nam” lộ ra trên nhiều bình diện ở Mỹ, vậy mà sau này cô đã chọn thứ tiếng của đất nước ấy để lập thân, để mưu sinh và rồi thành con dâu của xứ người ta. Cô kể, thời trẻ cô đã muốn chọn một nơi của châu Á để làm tình nguyện viên và cô đã được cử đến Trại tị nạn của người Việt ở Hồng Kông để giúp họ học tiếng Anh. Cô ghi nhận ở người Việt tài xoay xở và khả năng giỏi thich nghi, riêng tiếng Việt của họ thì quá khó phát âm, “không dễ xơi được”. Một lần trong khuôn viên Trại, cô nhìn thấy một người đàn ông châu Âu đứng tuổi khiến những người Việt vây quanh ông rất hứng khởi bởi thứ tiếng Việt lưu loát ở ông. Cô chợt muốn mình được thông thạo tiếng Việt và cũng được quý trọng như vậy. Người ấy làm việc ở sứ quán Thụy Điển tại Hà Nội, đã chăm chú nghe cô trình bày nguyện vọng bằng tiếng Anh và ngay lập tức, ông thấy có cảm tình đặc biệt với cô gái tóc vàng này. Và ông đã làm hết sức mình để Rosemary có tấm visa vào Hà Nội sau khi cô phải nằm chờ ở Thái Lan 6 tháng (lúc ấy Việt Nam và Mỹ chưa chính thức đặt bang giao).

      Hà Nội thời bao cấp ngập tràn xe đạp, nghèo khó nhưng không ít lãng mạn. Sinh viên theo học tiếng Việt, những người không thuộc khối XHCN phải ở bên ngoài trường Đại học Ngoại ngữ, khá xa Cầu Giấy. Rosemary nói “Tái Ông mất ngựa”, nhờ vậy mà cô lục lạo được nhiều nơi và học được rất nhiều ở những bà hàng nước vỉa hè. Hai năm kẽo kẹt, về Mỹ, cô bắt đầu kiếm sống bằng phiên dịch cho các vụ xử liên quan đến người Việt ở tòa án nhưng hóa ra, có thứ tiếng Việt “khủng khiếp” của người miền Trung, kiểu “tui biết một ít tiếng Phốp chứ không nói được tiếng Eng”. Lại có những người Việt gốc Sài Gòn kêu: “Tui không thích người phiên dịch nói tiếng Hà Nội, tòa tìm cho tui người nói giọng miền Nam đi!” Một lần nữa cô hiểu thêm sự phức tạp trong thế giới nội tâm của người Việt di tản. Và cô lại khăn gói sang Sài Gòn sống cùng với xe đạp và vỉa hè để bổ sung vào kho tiếng Việt của mình nhiều phương ngữ Nam bộ. Về lại Mỹ lần này cô mới thực sự nổi danh là một phiên dịch “khét tiếng” ở các tòa án cấp bang trong các vụ xử khó. Thế là tiếng Việt đã dắt dẫn cô đi sâu hơn nữa, với trái tim nghệ sĩ, cùng với khả năng sinh ngữ kỳ tài, cô để mắt đến văn học Việt Nam qua những Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Phan Thị Vàng Anh… những tác giả  có “hộ chiếu tiếng Anh” vào Mỹ khá sớm. 

       Cuộc đời vẫn chưa hết những bất ngờ, hữu duyên. Và rồi run rủi của tiếng Việt đã thu xếp cho đời cô một chàng kỹ sư tin học gốc gác Cần Thơ. Lần này cô đã có một “kho Nam bộ” ngay trong nhà mình, trời cho chứ còn gì nữa. Cô càng đắt khách hơn. Không cần nhiệm sở, không cần phải vật lộn đường xá mà vẫn thung dung với nghề “phiên dịch thương mại” – chữ của cô. Tiếng Việt đã cho cô cuộc sống ngoài mong đợi. Cô thạo ca dao thành ngữ đến nỗi, cô đã tự trào về người chồng thấp lùn của mình: “Chồng thấp mà lấy vợ cao, như đôi đũa lệch so sao cho vừa!”. Từ Mỹ, Rosemary gửi cho chúng tôi tấm thiệp báo hỷ do chính tay cô thiết kế cùng với lá thư dài trong đó có câu: “Chị và anh biết không, anh Hiếu và em đã có một đêm trăng mật dưới mái lều, trước khi đi ngủ, bọn em đã thức rất khuya để ngồi ngắm những con sao”. Một lần duy nhất chúng tôi bắt được cô một lỗi về tiếng Việt. Cô bảo cô sợ nhất đại từ nhân xưng trong tiềng Việt và những hình dung từ, ví như ngựa ô, mèo mun, dầu hắc, quần lãnh, răng nhức hạt na… và không biết khi nào thì con, cái, chiếc mà lại có thêm cả từ ngôi để chỉ đình đền chùa chiền nữa. Trong suy luận của cô, sao là phải là con chứ không thể là ngôi được, vì có phải chỗ để thờ cúng đâu mà.  

Mùa Giáng sinh năm 2005, sau mấy năm vừa nuôi con nhỏ vừa dịch một tập truyện ngắn của nhà văn Đoàn Lê để in ở Mỹ, Rosemary cùng chồng và con gái rời Mỹ để sống hẳn 2 năm ở Hà Nội. Cho hay việc di dời với người Mỹ vừa nhẹ nhàng vừa hợp lý đến mức ai nghe cũng phải suy nghĩ và thán phục. Tại sao lại phải 2 năm và phải ở Hà Nội? Là vì Nguyễn Ngọc Hiếu có kế hoạch bảo vệ luận án cao học ở trường Hawai phân hiệu hợp tác với Đại học Quốc gia Hà Nội, Rosemary thì ở gần tác giả tiểu thuyết An In significant Family (tên tiếng Anh của “Gia đình bé mọn”) để hoàn thành bản dịch theo hợp đồng với Nhà xuất bản Curbstone Press; và nữa, việc này lại có vẻ quan trọng hơn cả: con gái Ly Ly của cô đã đến tuổi lớp Một và cô muốn nó có 2 năm tiếng Việt để vào đời, cô hy vọng nó sẽ phong lưu và độc đáo như mẹ, ở Mỹ. Một mũi tên ba mục đích, đúng là tư duy Mỹ, thiết kế Mỹ và cung cạch dấn bước của người Mỹ. Cô và chồng đã bán nhà, đã sống 2 năm thuê chỗ ở Hà Nội, nhẹ nhàng, thích nghi. Cuối năm 2007, cả nhà về lại Seatle bang Washington, mọi thứ hoàn tất mỹ mãn, như đã được lên kế hoạch bằng máy.

Hai năm nay hè nào cô cũng trở lại Việt Nam để cho con gái về thăm quê cha, để gặp lại bạn bè thân thiết và để lượn lờ ở các nhà sách tìm một tác phẩm nào đó khiến cô muốn tiếp tục cống hiến cho độc giả Mỹ bản dịch với thương hiệu là Rosemary Nguyen. Mỗi lần về lại Mỹ, hành lý của cô là một va ly sách, trong đó có những cuốn dành để đọc hàng đêm cho con gái học ôn tiếng Việt. Trong một lần chúng tôi trò chuyện về việc chuyển ngữ văn học, cô nói cô đã luôn cố gắng dịch đúng những gì mình cảm nhận về nguyên tác, lúc ấy cô bé Ly Ly nói góp ngay: “Không, mẹ phải nói là dịch sát chứ không phải là dịch đúng, mẹ ạ”. Vậy đó! Từ một ước nguyện mơ hồ về tiếng Việt, một phụ nữ Mỹ đã thành danh và rồi cô con gái 8 tuổi đã được thiết kế một tương lai đầy hứa hẹn cũng bằng tiếng Việt.

Mọi chuyện đều do ý chí, rồi mới là niềm đam mê và trên tất cả, là tình yêu và cái nợ ân tình mà người ta đã sống vì nó và đã làm nên những điều kỳ diệu khác.

Comments