Quỳnh Nga: "Cám ơn Dạ Ngân" (Đọc GĐBM)
 
 

Cảm ơn Dạ Ngân

(Đọc “Gia đình bé mọn”- Dạ Ngân)

 

                                                                                                                                                    Hoàng Thị Quỳnh Nga

 

            Hai mươi mốt tuổi, tôi vẫn giữ nguyên sở thích ngồ ngộ từ hồi tóc còn để chỏm: thích những cái tên là lạ, hay hay. Đó không nhất thiết phải là một cái tên trau chuốt, mỹ miều hay đài các, chỉ đơn giản - ít người có cái tên ấy và nó gọi thức ở người nghe một liên tưởng, một cảm giác hay một ấn tượng nào đó. Vì vậy, khi lang thang trong những cửa hàng sách ở Đinh Lễ, tôi đã chọn Dạ Ngân với cuốn “Gia đình bé mọn”. Dạ Ngân- một cái gì đó lấp lánh và óng ánh như giọt bạc ngân lên giữa đêm tối, cảm giác thật trong sáng, dịu dàng. Và “Gia đình bé mọn”- nghe thương thương, tồi tội như câu hát “Một mình” của Thanh Tùng: “nhớ em vội vàng trong nắng trưa, áo tơi trời đổ cơn mưa, băn khoăn khi con đang còn nhỏ, tan ca bố có đón đưa”. Dạ Ngân và “Gia đình bé mọn” sẽ đưa tôi về đâu? Những câu chuyện trong cuộc sống gia đình bộn bề cơm áo? Những tâm sự của một người phụ nữ tần tảo…Có lẽ, nên dừng lại những dự đoán và bắt đầu cuộc hành trình cùng “Gia đình bé mọn”.

     Cuốn tiểu thuyết dày 295 trang kể về số phận của một nữ nhà văn tên Tiệp. Có cá tính, nhan sắc và khát vọng yêu đương mãnh liệt- điều mà Tuyên, chồng cô không thể mang lại, Tiệp đã sẵn sàng từ bỏ hạnh phúc bề ngoài giả tạo ngột ngạt để đến với người mình yêu. Và trong hành trình gian khổ ấy, nàng đã phải đối mặt với sự dèm pha của xã hội, sự chì chiết của họ tộc, thói tiểu nhân của người chồng cằn cỗi, bão táp từ giới chức trong tỉnh…, nhưng đau đớn và day dứt hơn cả là sự giằng xé và níu kéo của tình mẫu tử, mặc cảm của một người mẹ không thể đem lại cho các con mái nhà êm ấm. “Sự khổ ái của yêu đương và xác thịt, sao sức mạnh của nó lại ghê gớm vậy, Khi nàng rời các con, nàng thấy rõ tình mẫu tử sâu kín và bền chặt trong lòng, còn khi có người đàn ông này thì từng tế bào nàng lại được cựa quậy, tái sinh. Tại sao như là mâu thuẫn và cứ luôn bập bềnh đến như vậy?”. Đề tài về những người đàn bà nổi loạn theo quan niệm đạo đức không có gì mới, cốt truyện cũng khá đơn giản. Nhưng có lẽ điều thành công của Dạ Ngân ở cuốn sách này là khả năng miêu tả sâu sắc và tinh tế những cảm giác, cảm xúc rất phụ nữ của Tiệp khi được nghĩ về Đính và được sống bên Đính - người tình của nàng, cũng như tâm trạng dằn vặt đến quặn thắt của một người mẹ luôn mặc cảm không sống hết mình cho con. Chính sự bấp bênh, mâu thuẫn ấy là mảnh đất tốt để Dạ Ngân thể hiện sở trường của mình: nắm bắt và miêu tả cảm giác của nhân vật.

     Mỗi thiếu nữ khi bước vào ngưỡng cửa tuổi trưởng thành, khi ý thức được sự bừng dậy của nhan sắc và khát vọng đều phải đối mặt với lựa chọn: làm một chén nước thánh khiêm cung kính cẩn trong ánh mắt trọng vọng của người đời hay tự chưng cất mình thành một thứ rượu tình nồng nàn say đắm làm chao đảo cả cuộc đời này. Với cá tính của mình, lẽ ra Tiệp đã thành men say, nhưng chiến tranh không cho con người ta quyền lựa chọn, nàng đã bị đẩy vào cuộc sống gia đình buồn tẻ bên cạnh người chồng yêu heo hơn con, ham viết báo cáo để được thăng chức hơn là ngắm nhìn vợ. Còn gì mỉa mai chua xót hơn cảnh anh chồng vội vã bỏ vợ lại một mình trước cửa bệnh viện sản phụ để nhanh nhanh đến cơ quan giữ chân thư ký mẫn cán, vung tay chém gió giảng giải về “nếp sống mới, con người mới”. Tẻ ngắt. Vì vậy, Tiệp không thể mãi mãi làm một chén nước thánh để Tuyên, dòng tộc và cả cái tỉnh lẻ miền Tây ấy tôn thờ. Chất men nồng nàn trong huyết quản đã thôi thúc nàng từ bỏ danh vị “cán bộ nguồn” để trở về với công việc viết lách đấy cảm hứng, đã bứt nàng ra khỏi Tuyên để nhào vào vòng tay hào hoa của một nhà báo - mối tình đơn phương quá nhiều đam mê và bẽ bàng. Thể nhưng phải đến khi gặp Đính, Tiệp mới thức sự bước vào con đường đi tìm hạnh phúc của mình - con đường đầy nỗi đau, tủi nhục, sự mất mát, cả hy sinh ghê gớm nhưng không thiếu những cảm giác, cảm xúc say đắm đến ngây ngất, chuếnh choáng. Mỗi lần đắm mình trong dòng suy nghĩ của Tiệp hướng về Đính hay những giây phút hai người ở bên nhau, tôi luôn có cảm giác một dòng xung động lan chảy khắp cơ thể, thôi thúc tim đập nhanh dồn máu lên não, nhan sắc hồng hào và một điều gì đó quẫy đạp vùng vẫy trong cảm xúc yêu đương vốn đã ngủ yên. “Tiệp bỗng thấy mọi thứ xung quanh như bị đẩy ra, đúng hơn, như nàng đang trồi lên từ một ốc đảo, bồng bềnh, mụ mị nhưng cách biệt dịu dàng…tiếng Đính chơi vơi  một hồi rồi oà lên như anh cũng vừa thoát ra, trai trẻ, vui vẻ, run rẩy”.Giây phút chờ một tiếng chuông điện thoại trong đêm vắng, hồi hộp nhấc máy lên nghe dăm ba lời yêu đương nồng nàn ngắn ngủi, vừa ngây ngất say đắm vừa đau nhói vì khoáng cách quá xa, muốn tan ra thành sóng âm ào tới một miền đất khác để rồi lại tranh phần bỏ máy trước, vội vã lao vào những câu thơ tầm gai của Vi Thuỳ Linh, đôi khi trống trải và hoảng loạn vô cùng giữa đêm rỗng. Tôi nên giận dỗi hay cảm ơn Dạ Ngân khi mỗi câu văn chị viết ra  không phải chỉ về Tiệp, về mình, cho Tiệp, cho mình mà cho bao người phụ nữ khác vẫn đêm đêm chờ một tiếng chuông vang lên. Rồi “Những câu chuyện thì thầm cùng thịt da nguyên sơ, nàng trôi trên người Đính như lúc nãy Đính đã cẩn trọng trên tứng xăng ti mét thịt da nàng. Tiệp thấy mình bạo dạn và lão luyện, sự nhịp nhàng của thịt da đằm thắm, ngọt ngào. Từ thế thủ nàng ào sang thế chủ, một cực khác lần đầu, nàng bốc cháy từ gót chân lên tới đỉnh đầu và thực sự không biết mình đang bồng bềnh ở đâu, chính danh hay không chính danh, tà dâm hay không tà dâm, chỉ thấy mình đúng là mình trong tưởng tượng, thoả mãn một cách hài hoà sâu sắc…mùi thịt da của hai người trong giấc ngủ chập chờn, bùi bùi, da diết. Mọi thứ lại bồng bềnh, và dường như nó hoàn hảo và tận cùng  hơn, địa ngục và thiên đường, trần trụi và thiêng liêng, nàng chưa như thế bao giờ ”. Những cảm giác về âm thanh, hình ảnh, màu sắc, nhịp điệu, hương thơm; những suy tưởng về tôn giáo, đạo đức…tất cả hoà chảy nhuần nhụy tạo thành một dòng sông mật nồng nàn quấn lấy người đọc. Đó là một vũ điệu của thân thể và cảm xúc hay một nghi lễ tôn giáo có tính nguyên hợp của loài người từ thủa ban sơ? Thật khó để dùng lý trí tỉnh táo trả lời bất cứ câu hỏi nào trong thời khắc này bởi văn chương Dạ Ngân như muôn ngàn chiếc chìa khoá tỉ mẩn mở ra muôn ngàn ô cửa nhỏ trên làn da của tôi, cho cảm giác, cảm xúc ùa vào xâm chiếm cả tâm hồn và thể xác bỗng chốc trở nên quá đỗi mẫn cảm. Nếu bạn có chung sở thích được bồng bềnh trôi trong thế giới nội tâm của nhân vật, hãy cùng tôi thả mình vào những dòng suy nghĩ của Tiệp. Bạn sẽ có một kho bí mật những cảm giác riêng, tinh tế, nghệ sỹ và nữ tính để đêm đêm có thể mơ màng ngắm nghía trước khi chìm vào giấc ngủ. Hương thơm của bông mận trắng khe khẽ nở như lời an ủi cho những hờn tủi về đêm, nỗi ám ảnh xám lạnh gắn với bầu trời tai tái cuối năm và gốc cây cụt ở sân toà án, niềm thanh thản được nằm trong vòng tay người yêu giữa một đêm đông lạnh, nghe tiếng anh nói như một điệu ru đều đặn, chập chờn…, tất cả, tất cả, niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc, khổ đau, thậm chí một phút nhói lòng đều được Dạ Ngân tái hiện trong một văn phong khi dịu dàng, khi bùng cháy, đặc biệt tinh tế và sâu lắng. Có thể ví ngòi bút cảm giác của Dạ Ngân đẹp như một người phụ nữ ở lứa tuổi ba mươi, đằm thắm và chín chắn, khác với vẻ phong nhiêu, mãnh liệt, ào tung qua mọi giới hạn của văn phong Đỗ Hoàng Diệu- văn phong mang trong mình nhan sắc hai mươi.

     Bố mẹ tôi sinh con một bề. Thế nhưng người hay buồn bã vì nỗi nhà chỉ có hai cô con gái lại là mẹ chứ không phải bố. Mẹ thương chúng tôi không có được nhan sắc như mẹ nhưng lại kế thừa đầy đủ sự mẫn cảm và yếu đuối của bà, cộng với cá tính ngang tàng mãnh liệt của bố, chúng tôi sẽ đi về đâu khi một ngày kia hai chị em sẽ trở thành phụ nữ - những người luôn luôn phải chịu quá nhiều hy sinh và ràng buộc. Lúc còn nhỏ, mỗi lần nghe mẹ nói như vậy tôi lại cười nhăn nhở, nghĩ thầm chắc tại mẹ mình đọc nhiều mục chị Thanh Tâm quá. Nhưng càng lớn, tôi càng thấm những điều mẹ nói.  Nhỏ là chuyện ăn nói đi đứng, lớn là chuyện gia đình chồng con, rồi yêu đương, rồi lựa chọn…Quẩn quanh trong “Gia đình bé mọn” có lúc rùng mình khi nghĩ rằng nểu là Tiệp, mình sẽ phải làm gì? Sao có thể bỏ mặc những đứa con đang gào khóc sau lưng để ào đến với người mình yêu? Nhưng cũng không thể bó thân câm lặng mặc cho thương nhớ và hứng háo đêm đêm dày vò. Và thế là ra bắc vào nam, và thế là luôn luôn khắc khoải: giá thân này có thể xẻ làm đôi, và thế là phải gồng mình lên để vừa làm chỗ dựa cho hai đứa con, vừa được sống hết mình, say đắm cuồng nhiệt với người mình yêu. Một trong những điểm thành công nhất của Dạ Ngân có lẽ là những đoạn miêu tả tâm trạng giằng xé ấy. Ở bên Đính, Tiệp cồn cào nhớ con, về với con, nàng lại thèm Đính đến mụ mị cả người. Giữa tình yêu và tình mẫu tử, giữa cảm giác che chở và được che chở tại sao luôn luôn phải lựa chọn, luôn luôn phải nín nhịn, tranh đấu, đau đớn, hy sinh. Tại sao nàng không thể cùng lúc có cả Đính, cả Thu Thi, Vĩnh Chuyên. Lặng lẽ theo gót Tiệp những ngày ra bắc, đôi lúc thấy ngậm ngùi và tủi phận vô cùng với tâm trạng ngổn ngang của Tiệp, nghe lời mẹ Đính mà chạnh lòng thương con, thương cả gia tộc, thương mình . Rồi những buổi ba mẹ con côi cút trên căn gác nhỏ ở cơ quan, giấc mơ về chiếc xe đạp mới tan tành theo cái chết của năm con vịt xiêm, đứa con gái nhỏ chắt bóp từng đồng tiền chợ để người mẹ nghèo bớt gánh nặng cơm áo, dồn sức cho văn chương. Hình như, để có được hạnh phúc, người phụ nữ phải đi con đường dài gấp ngàn lần hành trình của người đàn ông, bởi họ là người mẹ. “Nàng nghẹt thở bên Đính không phải vì tâm trạng của một nàng dâu, một người vợ chính danh mà vì nàng là một người mẹ đã bỏ vãi các con ở xa mình hàng nghìn cây số để đi lấy chồng, ý nghĩ ấy càng lúc càng cộm lên như giữa nàng và Đính đang có một cái dằm…Nàng đứng yên và bỗn dưng ôm bụng đổ ập xuống, nàng đổ xuống một cách thê thảm, quằn quại như một cai cây trong bão, nàng muốn được gào khóc, được đào bới, nàng muốn được vạch đất xé trời để được thấy các con, giá có thể chạy bổ mà trở về được, giá có thể được nhìn thấy chúng một lần nữa…Để được sống với người mình yêu cũng có nghĩa là phải thường xuyên gào khóc với lương tâm làm mẹ vầy sao, cái giá này nàng đã ước lượng hết chưa và phải trả đến bao giờ…Nàng khóc rỉ rả trong tay Đính và lại nghĩ như muôn ngàn lần trong mười mấy năm qua, rằng nếu có kiếp sau thì nàng sẽ chọn gì, tình yêu hay tình mẫu tử? phải, nếu có kiếp sau ấy thì nàng sẽ chọn sao cho hai thứ tình ấy có trong nhau, sinh ra cho nhau và vì nhau mãi mãi, suốt đời”. Quá nhiều day dứt và đau đớn, khi đã đến được cái đích hạnh phúc mà mình hằng đeo đuổi hơn chục năm cũng là lúc mặc cảm mẫu tử trỗi dậy mãnh liệt nhất. Nó gào thét, cắn xé, sôi sục, nó hất tung cả những rung cảm bồi hồi ngây ngất, nó đeo đuổi dai dẳng qua mọi khoảng không gian, thời gian, mọi quãng đời đau khổ hay hạnh phúc, luồn lách vào mọi ngõ nghách tâm hồn, nó chập chờn hiện lên trong nỗi sợ về nghiệp quả  sẽ ập tới một ngày không xa. Nỗi ám ảnh của một người mẹ bỏ con ra đi, dẫu là nước chảy cũng không mòn, dẫu là cái vuốt ve tình tứ nhất của người mình yêu cũng không thể xoa dịu.

 

Đồn công an ngày…tháng…năm

-Cô là ai?

-Tôi là Mỹ Tiệp, Mỹ Tiệp bỏ con

-Cô làm nghề gì?

-Tôi là một nhà văn, một nhà văn bỏ con

-Cô đang sống ở đâu?

-Tôi đang ở Hà Nội, tôi là một kẻ tha hương bỏ con

-Cô bao nhiêu tuổi

-Tôi…tuổi, tôi bỏ con đã hơn mười năm rồi

-Chồng cô tên là gì?

-Anh ấy tên là Đính, vì anh ấy mà tôi bỏ con

-Cô đánh mất thứ gì?

-Tôi đánh mất sự thanh thản, vì tôi là người mẹ bỏ con…bỏ con…bỏ con…bỏ con…bỏ con…bỏ con…bỏ con…bỏ con…bỏ con… bỏ con…bỏ con…bỏ con…bỏ con…bỏ con…

            Có một bóng ma tên là mặc cảm mẫu tử dồn đuổi nhân vật, dồn đuổi người đọc từ đầu tới những trang cuối cùng. “Tình duyên lận đận, học hành dở dương, con cái nhỏ dại, cái vòng của nàng chưa khép lại mà vòng tròn của con gái nàng đã chồng lên, cái bóng của con nàng, cái bi kịch của nàng và đó cũng là phần thiếu hụt mà nàng luôn cảm thấy khi chưa đi hết con đường mẫu tử của mình”. Tiệp! Em muốn giúp chị, em sẽ gọi 113, em sẽ gọi Đính, em sẽ gọi đồng bóng… Tiệp cười vô vọng và lặng lẽ quay đi, bóng ma đã dần dần có hình có sắc vì được nuôi dưỡng bằng những năm tháng day dứt của Tiệp. Tôi rùng mình chới với lo sợ một ngày kia bóng ma ấy sẽ choán hết thể xác và tâm hồn chị, hoá thành chị và nhảy múa trên những trang viết của Dạ Ngân.

            Ngoài những trang viết tinh tế xúc động về cảm giác và sự giằng xé, “Gia đình bé mọn” còn hấp dẫn người đọc bởi bức tranh xã hội thời kỳ bao cấp. Với những người như bố mẹ tôi, đó có lẽ là một sự nhắc nhớ, còn đối với tôi và bạn bè, nó giống như một thước phim được xem lần đầu. Cảnh xếp hàng bằng chổi cùn gạch vụn, thìa nhôm đục lỗ để chống nạn trộm cắp, hãi hùng nhất là hình ảnh nhà vệ sinh công cộng luôn bập bềnh những vật thể lạ có màu có mùi không nên gọi tên ra ở đây. Rồi ri đô, gác xép. Hình ảnh người tình hiện lên như một chàng lãng tử, nhưng sao quần chàng lại vá thế kia, chiều chiều chàng cưỡi “cá xanh” đi bỏ mối rượu và chàng bắn thuốc lào thật điệu nghệ. Mẹ tôi bảo cái thời ấy nó thế! Phải, cái thời ấy nó thế, đói khổ, xập xệ, nhếch nhác là thế mà họ vẫn có thể lãng mạn, có thể nồng cháy, có thể hy sinh và sống chết cho nhau. Có lẽ, bởi tình yêu đã vá lành tất cả, tô hồng đói nghèo và ướp hương ngọc lan vào mùi nước điếu chẳng dễ chịu chút nào của anh yêu!

       Thú thực, khi đọc 9 phần đầu của cuốn tiểu thuyết, tôi cảm thấy hơi thất vọng so với ấn tượng ban đầu về những cái tên. Không lấp lánh, không là lạ, hay hay, câu chuyện trôi đi trong mạch kể rệu rã: một cô nhà văn quẫy đạp chút chút, có dăm ba cái chuyện ngắn được in, dăm ba cái tên đàn ông đầy ngẫu hứng, dăm ba cuộc gặp gỡ chóng vánh, hơi mùi mẫn “cải lương”: nàng gặp chàng và biết ngay mình sẽ yêu người đàn ông này, rồi chân dung chàng lãng tử quậy quậy ở bến xe, rồi quyết tâm bỏ chồng…ôi! bao la những buồn tẻ. Thêm vào đó, việc sử dụng quá nhiều ngôn ngữ địa phương đôi khi gây khó hiểu và cảm giác xa lạ cho người đọc. Tôi lật lật từng trang sách và thấy mình bị lạc giữa một vùng đất không trù phú không kỳ bí như người đời vẫn ca ngợi, tai bị ù đi vì những “nầy, chớ, vầy, rỉ rả, chụp giựt…”, mắt hoa lên không hiểu cô nhà văn này định làm gì. Chỉ đến phần thứ mười, câu chuyện mới thực sự đi vào mạch chảy của nó và Dạ Ngân mới thực sự là giọt bạc long lanh trở lại trong tôi với những trang viết sâu lắng, đằm thắm, xúc động về cảm giác và thân phận của nhân vật. Tôi hiểu Tiệp, yêu Tiệp, hiểu Dạ Ngân và yêu Dạ Ngân cũng từ phần mười ấy. Dường như cuốn tiểu thuyết là hiện thân sống động nhất cho hai nửa trong cuộc đời Tiệp, cho hai người đàn ông nàng từng chung sống: nửa đầu chuyện là Tuyên - người chồng cằn cỗi buồn tẻ với tình yêu bị đánh cắp, nửa sau là Đính - đam mê say đắm quyện lẫn với đau đớn, dằn vặt.

       Một điểm nữa hơi gợn trong “Gia đình bé mọn” là việc miêu tả tâm lý Thu Thi và Vĩnh Chuyên, hai đứa con của Tiệp. Cả hai, đặc biệt là Thu Thi, dường như chỉ là cái bóng của Tiệp, sự phân thân của Tiệp. Nói cách khác, Dạ Ngân xây dựng Thu Thi như một món quà để vỗ về an ủi Tiệp hơn là một đứa trẻ có tâm lý thực, có cá tính riêng. Tiệp đơn phương từ bỏ gia đình-Thu Thi ủng hộ, Tiệp trốn búa rìu gia tộc-Thu Thi về phe mẹ, Tiệp yêu Đính-Thu Thi nghiễm nhiên gọi người đàn ông chưa một lần gặp mặt ấy là ba rồi cùng mẹ thương nhớ, đợi chờ, ngóng vọng. Nhận được lá thư người đàn bà xa lạ tố cáo Đính- nó lập tức kết tội kẻ  “chọc gậy bánh xe”. Một đứa trẻ dù có lớn sớm khôn sớm đến mấy cũng không thể thuần tính ngoan hiền và dễ dàng chấp nhận sự đổ vỡ hay hình thành những mối quan hệ phức tạp của người lớn đến vậy. Bên cạnh đó, Thu Thi còn thường xuyên nói những câu quá tuổi “Mẹ là nhà văn nhà báo rồi mà dì hai cứ cái giọng hình sự đó. Mẹ ra không? vậy mà con tưởng mẹ thoát rồi. Phải nói người nhà mình truy tội dai, mẹ há?”. Đó không phải là lời của một đứa trẻ mà là những gì Tiệp nghĩ, Tiệp muốn nói để cứu vớt mình trong cuộc luận tội của họ tộc. Thu Thi làm tôi nhớ đến những đứa trẻ trong các bộ phim truyền hình dài dằng dặc của Nam Mỹ, bốn tuổi đã biết líu lo nắm tay bố mẹ ngợi ca “Con là giọt tình của bố mẹ”. Hãi hùng!

            Vĩnh Chuyên cũng vậy, một cậu bé vừa mới vỡ giọng, đói cơm còn chạy về khóc với mẹ vậy mà đã biết dùng khổ nhục kế để được ba chia cho ngôi nhà tập thể. Cái miệng vừa mếu ngắn mếu dài ngay lập tức đưa ra một bài toán khiến người lớn phải rợn mình, “Chuyện đâu có như Hai, phải biết nhịn chục để được cái lớn chớ Hai”, rồi quyết tâm bám tỉnh nhà để lấy ông bố quyền chức làm bàn đạp thăng tiến. Dường như có một sự vênh lệch khá lớn giữa suy nghĩ, hành động và lứa tuổi của hai nhân vật này.

      Trên đây là những suy nghĩ tản mạn của tôi về Dạ Ngân và “Gia đình bé mọn”, những cái được và chưa được, những điều làm tôi say mê, đau đớn và cả run sợ. Khép lại 295 trang sách, tôi muốn cảm ơn Dạ Ngân không chỉ bởi chị đã cho tôi thêm một cái tên thật đẹp, giúp tôi hiểu hơn nỗi buồn của mẹ, mà còn bởi chị đã cho tôi một thân phận, một cuộc đời để tôi có thể sống, trải nghiệm và suy ngẫm, dù chỉ là qua những trang viết mà thôi.

 

 

Hà Nội 8/2005