Nhật Tuấn: "Chủ nghĩa hiện thực nghiêm nhặt trong GĐBM"
 

Nhật Tuấn

(Tác giả tiểu thuyết "Đi vê nơi hoang dã")

ĐỌC SÁCH    

“Chủ nghĩa hiện thực nghiêm nhặt trong  “Gia đình bé mọn “ 

 ( Tiểu thuyết của Dạ Ngân – NXB Phụ Nữ 2005)

  Thế là đã kết thúc hẳn, kết thúc thật, kết thúc hoàn toàn cái cuộc chiến tưởng như là vô định ấy. Thế là yên ổn, trọn vẹn, mãi mãi sao ? “

 Không , không yên ổn, cũng không trọn vẹn -  câu hỏi của Tiệp, một cô gái Nam bộ rặc, lên  “cứ “ tham gia cách mạng từ năm 14 tuổi, ba là liệt sĩ Côn Đảo, chồng là Tuyên – cán bộ tuyên huấn, lại là nhà văn  “có thẻ hẳn hoi “ , lập tức có câu trả lời : không và không .

Ngay từ những ngày hoà bình đầu tiên, sự bất an và dang dở đã đeo bám lấy nàng; để sống cho được  “là chính mình “, là tính cách và lương tri của chính mình, nàng buộc phải đương đầu với  một cuộc chiến mới – đau đớn và kinh hoàng không kém chống Mỹ : cuộc chiến  chống lại cái xấu xa, cái ti tiện đang dâng lên như nước lụt khắp bốn xung quanh nàng.

Trước tiên là gã đàn ông, chồng nàng,  thuộc nhóm máu cá, xa môi trường nước của công sở một lát là không chịu nổi và sự tận tuỵ tuyệt đối của anh ta với cương vị phó phòng tuyên truyền của Ban là đáng được đề cao… “. Nàng lấy hắn từ hồi còn ở trên  “cứ “, bất hạnh thay,  hồi mới cưới, con tim nàng không rung động, nó cứ lên tiếng rằng đây không phải người đàn ông của mình, đây là cuộc xô đẩy của chiến tranh , của bom đạn giặc giã nước lụt bụi cây sạp xuồng. “ . Với gã, con cái không quan trọng bằng  “phác đồ sống “ :  “phó tổ thì cố mà lên trưởng – phó phòng rồi thì trưởng – vợ chồng sẽ lần lượt đi Học viện chính trị quốc gia và rồi sẽ phó Giám đốc ( hay Phó Ban) và lên nữa, lên mãi “.

Trong con mắt nàng gã chỉ là  một con ngựa đã bị bịt mắt với đường trường quan lộ của mình “. Chính vì vậy  “ Tuyên đã âm thầm tính toán mọi bề. Thì ra Tuyên muốn việc trục thai này diễn ra ở một nơi thật xa, trong im lặng, trong bí mật, nếu không thì bên vợ, bên chồng và cả những người chung cơ quan sẽ không hiểu nổi sao người ta lại có thể bỏ đi giọt máu hạnh phúc có ý nghĩa kỷ niệm một giai đoạn mới của vợ chồng và của đất nước… “ .

  Tiếc thay,  “ Giai đoạn mới “ của đất nước hoàn toàn không giống những gì nàng  hy vọng và mong chờ khi còn ở trên “cứ “. Chưa nói tới thiên đường xa xôi của chủ nghĩa cộng sản, chỉ miếng ăn hàng ngày cũng là một cuộc vật lộn gian truân :

 Sau trận lụt lịch sử năm ngoái , kẻ chèo người dong buồm lá dừa nước vừa đi vừa đổi cả tư trang , bàn ghế và tủ thờ để lấy gạo chờ cơn sốt tập đoàn hoá hợp tác hoá qua đi, trong khi những người cầm trịch trên cao hô hào một thời điểm cấp bách khiến Hai Khâm liên tục thúc giục Tuyên phải báo cáo tiến độ của cuộc đại cách mạng ấy với ông ta mỗi tuần “.

Hai Khâm chính là đồng chí Trưởng ban tuyên huấn, một thành viên trong giới quyền lực nhất tỉnh, thủ trưởng trực tiếp của Tuyên, chồng nàng. Cái  “cuộc đại cách mạng  “ ấy chính là phong trào hợp tác hoá đã phá tan cái  “vựa lúa miền Nam “ khiến ngay cả những người  “chiến thắng trở về từ trên cứ “ như gia đình nàng cũng phải ăn bo bo, phải thức đêm làm đá cục bằng tủ lạnh, phải nuôi heo bởi lẽ  “ hai đầu lương chỉ đủ nhét kẽ răng “.

Cán bộ đã vậy còn dân thì sao ?

Chị Hoài, chị của nàng phát biểu với  “giọng bất mãn thâm căn cố đế “ :  để dân miền Tây ăn độn thì đúng là trời còn phải chịu thua mấy ông hợp tác hoá “.

Có lẽ chưa có cái thời nào lạ lùng như thời này, đàn bà con gái đi thử thai phải nộp tới 750 ml nước tiểu hoá để y tá, bác sĩ ø dùng  nước tiểu thì bán cho dân trồng rau còn chai thì bán lại cho bọn sản xuất rượu lậu." Nhân viên nhà nước rặt một loại hống hách và vô cảm như  “mụ bưu vụ “  “ mụ nhân viên nhà vé nà và nàm “.

Thế còn hàng ngũ cán bộ lãnh đạo tỉnh liệu có tử tế hơn lính của họ ?

 Trưởng Ban kiểm tra, hồi trong cứ bà từng có tiếng là hay vấn an đêm phó Bí thư Tỉnh uỷ, quả nhiên chỉ mấy tháng sau khi bà vợ nông dân của ông này chết vì một tai nạn gì đó thì bà trở thành vợ quá độ của ông cho đến khi ông mãn tang xong, từ đó cả hai dắt tay nhau bước vào ngôi vị cao hơn cho đến khi vị Bí thư đột ngột qua đời bỏ lại bà vợ ngang sức ngang tài và sự nghiệp cách mạng còn dang dở… “ .

 “Trưởng ban tổ chức …bỗng nổi tiếng với dân  “cứ “ bằng vụ xì căng đan với cô văn thư hay xuống hầm bí mật cùng và chị này phải bỏ ngũ vì vì mức án đồng đều mà đáng ra ông phải  “nặng hơn “ vì ông nhiều  “giác ngộ “ hơn. “

 “ Giám đốc Sở văn hoá…có một địa chỉ ông mặn mà nhất , đó là nhà của một phụ nữ đứng tuổi có giọng cười như bị cù nách và một ông chồng hiu hắt nghe đồn bị liệt dương… “ 

Dựng lên một loạt chân dung cán bộ đầu tỉnh và tác giả hạ một câu kết luận :

  “Vậy đó , toàn những đồng chí  “bị lộ và chưa bị lộ“…

 Sống với người chồng và  “môi trường cán bộ “ sặc mùi ti tiện và giả dối như thế, lẽ tất nhiên nàng phải đào thoát khỏi cái cộng đồng  đó, tìm cho mình một tình yêu thực sự, một  “nền văn minh cho nàng”,  “một nhân loại của nàng “. Và như vậy, thực sự nàng đã bước vào một trận chiến chống  lại chồng, chống lại gia tộc, chống lại nền  “văn minh cán bộ miệt vườn “ còn ác liệt và vô vọng hơn cả thời chống Mỹ cứu nước .

Cái việc bị chồng bỏ mặc trên đường dẫn tới sảy thai như một giọt nước tràn ly khiến nàng  chợt thấy tai chồng mình nhỏ như tai chuột, theo nhân tướng học , nó cho thấy một sự nghiệp long đong dù người đó có hy sinh cả những mối quan hệ nhân nghĩa riêng tư cho nó… “  và chẳng bao lâu sau nàng đã dũng cảm  “nổ một phát súng “ mở đầu cho chiến dịch ly hôn dài đằng đẵng của mình :

 Anh Tuyên này , tôi biết chuyện viết lách của tôi, tính khí, sở thích của tôi và cả những mối quan hệ của tôi hay làm anh lo ngại bực mình. Tôi với anh bị chiến tranh đưa đẩy, tôi thấy không nên kéo dài cuộc hôn nhân không có tình yêu này. Mà đã khi nào anh nghĩ tôi âm thầm có người khác không ? “.

Cái  “người khác  “ ấy là người thế nào ?

Rất may cho nàng, chỉ sau có một lần sa sảy với một gã nhà báo hèn nhát  bỏ của chạy lấy người về Sàigòn “ , nàng đã gặp ngay được người đàn ông đích thực cho mình : một  “ nhà văn miền Bắc “  chỉ sau một lần tình cờ gặp gỡ ở bến xe.

Đính, ông nhà văn Hà Nội lần đầu tiên vào thăm đồng bào miền Nam ruột thịt đã la oai oái :  Ở dưới địa ngục người ta cũng không đối xử với tóc dài quần loe như mấy ông văn hoá thông tin xứ này… “. Hoá ra ông  “ đang đi , vụt cái tiếng còi, còi hẳn hoi nhá, một tổ ba ông băng đỏ hẳn hoi ở đâu đã túa ra hỏi giấy túm tay như mình bị truy nã. Thếù rồi áp vô gốc cây dùng kéo sởn một nhát nhanh như AQ bị người ta cách mạng cái đuôi sam đi… “.

Ân tượng ban đầu là thế, nhưng để có tiền lặn lội đi tìm người yêu ông nhà văn vẫn cứ   với một nhà xuất bản ngoài đó một tập bút ký về vùng sâu, vùng xa của miền Tây “  tất nhiên là phải ca ngợi đứt lưỡi sự thay da đổi thịt của làng quê sau giải phóng bởi lẽ ông quan niệm dứt khoát :  viết văn là một trò chơi nguy hiểm, muốn được yên cái thân để ngồi viết thì phải tính kế bảo an cái đầu ! “ . Thế nào là  “bảo an cái đầu “ ? Chắc là giữ sao cho nó khỏi sản xuất ra thứ văn chương có tên trong sổ đen của Cục 78 – tức Cục an ninh văn hoá thời bấy giờ. Thua xa bản tính quyết liệt của nàng, trong quan hệ gia tộc, ông nhà văn cũng là một mẫu mực cho sự phải đạo. Oâng không dám từ bỏ cô vợ lăng loàn, hung  dữ như con cọp cái chỉ  vì sợ ảnh hưởng tới con cái , mẹ già,  ông sợ mẹ tới mức không dám vào Nam thăm người yêu chỉ vì  “ Anh nhớ em điên đầu, nhưng năm nay anh đã bốn mươi chín, mẹ sợ mẹ cấm anh không được đi đâu xa… “.

Mãi tới khi tất cả con cái đã trưởng thành,  mẹ già đã khuất núi được 3 năm, ông nhà văn mới giành lại được quyền tự do không phải tự do sáng tác từ Đảng và Nhà nước mà là quyền tự do kết hôn từ …cô vợ đầu, kéo dài tới 20 năm cuộc chiến giành hạnh phúc của nàng, đúng bằng thời gian thực hiện công cuộc giải phóng miền Nam.     

Lặn lội đi tìm chàng, lần đầu tiên nàng ra Hà Nội, thấy hình ảnh của nó thực khác với những gì nàng mường tượng về miền Bắc xã hội chủ nghĩa hồi còn làm cách mạng ở trên cứ.

 “ Đám hành khách cán bộ trên xe cũng lần đầu tiên ra Hà Nội xì xào thất vọng, họ chỉ cho nhau nhìn thấy một đám đông như họp chợ trên  một đoạn vỉa hè vung vãi rác kem que, một ngài đại uý mặc quân phục quân hàm hẳn hoi đi từ chỗ xếp hàng ra vừa đi vừa mút một cách rất là nhịp nhàng cả hai que kem trên tay như một anh hề tung hứng… “.

Cái cảnh xe đạp tràn ngập đường phố khiến nàng ngỡ ngàng :

 “ Miền Bắc thiên đường, thiên đường là xe đạp có biển đăng ký vậy sao ? “.

Chàng cười khờ khớ :

 “ Xe đạp còn có biển đăng ký thì em hình dung , con người còn bị kiểm soát tới mức nào ? “.

Tuy nhiên phải mãi tới khi Nhà nước ban bố cái lệnh bỏ biển đăng ký xe đạp, chàng mới tháo nó ra và  “nói với vẻ đoạn tuyệt giận dữ :

 “ Đã đến lúc phải kết thúc vai trò lịch sử khốn nạn của nó … “. 

Rồi cả cô bạn gái của nàng cũng dặn dò :

 “Rồi Tiệp sẽ thấy người ta hung tợn như thế nào ? Chật chội, khổ cực, thiếu thốn , bất mãn quá mà… “.

Và đây là quán phở nổi tiếng Hà Nôi  “trong mắt nàng:  “mùi than đá, mùi thịt thà lưu cữu, những dãy người chen chú , gần như là xếp hàng , đi ăn mà phải tì vai, áp lưng, giơ phiếu như thị trường chứng khoán thì Tiệp chưa thấy bao giờ. “ Nhưng lạ nhất với nàng vẫn là những chiếc thìa bị đục lỗ khiến chàng phải giải thích :

 Người ta làm thế để chống ăn cắp. Chỉ có những thằng ăn cắp thành thần thì mới nghĩ ra cách chống ăn cắp độc chiêu thế này"

Tuy nhiên cái hình ảnh  của chính  “chàng “ do bà cụ hàng nước vẽ ra mới thực ấn tượng với nàng:

  “Khổ, cái anh này suốt ngày bã bèm với heo cúi, ban đêm máy chữ rào rào, cũng kiểu đội con đội vợ lên đầu chị vợ mới hư thế… “.

Và cả cái nơi chàng rón rén đưa nàng  tới tân hôn trong lén lút cũng không kém phần kinh hoàng:  “ Tiệp  không đáp, chỉ lùa mấy ngón tay vào tóc Đính lúc anh trôi dài xuống bụng nàng, Những cố gắng đền bù của anh với hoàn cảnh không đánh thức nàng tận cùng như nàng nghĩ. Tại sao lại cứ hình ảnh cục phân vàng vàng trong bể nước, tại sao vẫn cứ cái hình thù của tấm ri-đô và những tấm cót ép chung quanh, tại sao vẫn bị chi phối bởi người đàn ông chủ nhà đang nín thở trên giường và đứa bé tim tím vì mồ côi mẹ và thiếu đói ? “ .

Tình yêu là trăng sao bên bãi biển, là hoa bướm trong không gian thoang thoảng mùi con ong làm mật ngọt, vậy mà cái nơi nàng thụ hưởng trái ngọt của tình yêu kinh hãi đến thế đủ biết sự hy sinh của nàng lớn lao biết chừng nào.

Vậy nhưng chớ nên cho rằng  nàng đã dâng hiến hết cho tình yêu mà bỏ bê con cái. Ngược hẳn thế, trong dông bão của cuộc đời, nàng xù cánh như con gà mẹ bảo bọc đám gà con. Không thể để chúng sống kéo dài trong chật chội góc phòng cơ quan, nàng  “liều mình “, cam chịu khom lưng xuống một chút để tới tận nhà riêng đồng chí Chủ tịch tỉnh xin cho con một căn hộ. Ba tối liền nàng cầm cuốn tiểu thuyết và cắp con đến chầu ngoài cổng,  cuối cùng gã bảo vệ có bộ mặt của tay công an mẫn cán cũng hé cổng chuyển quyển sách và thư đi… “. Thế rồi đồng chí  Chủ tịch tỉnh ,  chú Ba quần đùi áo thun lá tự nhiên như nhiên trên bộ salon nệm dày trong phòng khách, thím Ba hiện thoáng ra chắc để xem con người kiên trì cầu cạnh kia là cái con nào rồi biến vào nhà trong… “  “ vảnh tay xe xe mớ lông chân trên bộ đùi rõ ràng gốc gác nông dân  “, ngoáy mấy chữ vào góc đơn :  “ Sáng mơi cô vô Uỷ ban gặp tay phó của tui nó giải quyết cụ thể… “.

Như thế đấy, hoá ra ông Chủ tịch tỉnh xét cấp một căn hộ chẳng gì một mớ rau. Sau này vô tình ghé qua nhà nàng trong một đợt vi hành, nhìn thấy tấm bảng  “bán đá cục “, vị chủ tịch tỉnh thắc mắc :  nhà văn mà phải bán đá cục sao ? “, nàng  đáp như trả hận cái nỗi nhục phải quỵ luỵ :  “ Bán đá cục để khỏi bán lương tâm chớ, chú Ba… “.

Tình yêu của nàng cứ trôi qua trong những tháng năm phải chống chọi như vậy. Sự bền bỉ và tận tuỵ của nàng với tình yêu dường như không chấn động được lòng người nhưng động tới được từ tâm của …ông trời. Cứ bằng vào sự trợ lực , khuyến khích của chàng và của cả những người xung quanh thì người ta phải nghĩ tới…Thượng đế, đúng thế, chỉ có Ngài mới giúp được nàng vượt cạn qua trùng trùng trùng khổ ải, vượt hàng núi những khó khăn, trắc trở trong suốt đằng đẵng 20 năm.. Bất hạnh  thay cho nàng, yêu đường đúng vào thời kỳ băng hà của tâm hồn con người nên tình yêu của nàng  thật chẳng khác con khủng long cuối cùng chưa bị tuyệt diệt. Cứu chuộc được nàng chẳng phải cái đẹp của tình yêu như người đời thường nói mà chính là cái sức mạnh của cả một dòng sông chín khúc tiềm ẩn trong những cô gái miền Nam bề ngoài tưởng dịu dàng, nhẫn chịu mà khi  lâm sự  “thấy chuyện bất bằng chẳng tha “, sẵn sàng xù lông, xù mỏ bảo vệ những gì tốt đẹp nhất mà ông cha và dòng họ  truyền lại lại cho nàng.

Gia đình bé mọn  của Dạ Ngân thật ra chẳng bé mọn chút nào, nó chứa đựng một dung lượng đồ sộ về đời sống của cả xã hội Việt Nam đương đại, nó diễn tả cái bi kịch lớn của dân tộc đang diễn ra hàng ngày hàng giờ : cái đẹp, cái cao cả đang bị cái xấu, cái ti tiện lấn át và tiêu diệt, nó lên tiếng cảnh báo về sự dãy chết của chủ nghĩa lãng mạn  dưới bàn tay lông lá của chủ nghĩa vị kỷ cực đoan đang lan tràn hiện nay.Gia đình bé mọn  của Dạ Ngân thực sự là một cuốn tiểu thuyết được diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ chắt lọc, nhịp điệu nhanh với lượng thông tin nén chặt.. Khác hẳn chiều hướng lảng tránh  hiện thực tạo nên một thứ văn chương tào lao đày rãy trên văn đàn hiện nay, nhà văn Dạ Ngân thực sự đã dũng cảm rọi đèn vào những góc tối, khuất tất của cuộc sống, làm hiện rõ toàn cảnh bức tranh xã hội đầy nhức nhối hiện nay.

Trong  cuốn  “ Nhớ lại “, NXB Văn hoá Thông tin xuất bản  năm 2002, nhà cvăn Đào Xuân Quý viết  :  Có lần chúng tôi ở lại Cần Thơ hơn hai tháng theo lời mời của anh Nguyễn Bá, Tổng thư ký Hội văn Nghê Hậu Giang để mở lớp đào tạo văn nghệ. Lớp có hơn 40 học viên, nhưng thực ra số năng khiếu không nhiều, sau này chỉ có Dạ Ngân là cây bút khá hơn cả… “

Qua những sáng tác của Dạ Ngân trong gần 20 năm sau đó, người ta thấy ông Đào Xuân Quý quả có con mắt tinh đời…

                             

                                  28-8-05

                                 NHẬT TUẤN                   

Ý kiến của bạn?