Một câu hỏi buồn về hạnh phúc

(Đọc “Gia đình bé mọn”, tiểu thuyết của Dạ Ngân.

NXB Phụ nữ, in lần thứ ba, Hà Nội 2006)

 

 

                                                                  Nguyễn Chí Hoan

 

Câu hỏi về hạnh phúc trong thực tế là một câu hỏi căn bản chẳng kém là bao so với câu hỏi về tồn tại. Nói một cách khác thì đó cũng là một câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời. Gần đây, báo chí có đưa tin một vài  nhà khoa học đã lẳng lặng nghiên cứu trong nhiều năm truớc khi lập ra môn nghiên cứu về hạnh phúc. Họ muốn có một hình dung định lượng được về một khái niệm giá trị mà ở cõi trần gian này không ai không mong muốn và theo đuổi. Và, trong một nỗ lực tương tự như thế (Nhưng tất nhiên hoàn toàn khác về bản chất, về quá trình và kết quả ), văn chương từ bao đời nay cũng đã không ngừng nối nhau đặt câu hỏi và tìm kiếm câu trả lời trên chủ đề này, từ những góc độ và mức độ quan tâm hết sức khác biệt.

Có lẽ, một trong những đề tài gần gũi nhất, gần như là một với hạnh phúc là chuyện tình yêu hôn nhân gia đình. Cuốn tiểu thuyết mới này của tác giả Dạ Ngân xoáy sâu vào một câu chuyện như thế, một câu chuyện tình không thật kỳ lạ, nhưng thật khác thường. Câu chuyện tình đeo đẳng suốt những năm đẹp đẽ nhất trong đời một người đàn bà, là nhân vật Mỹ Tiệp, một nữ nhà báo sinh trưởng ở một vùng quê miền tây Nam Bộ, yêu văn chương và trở thành nhà văn. Nhân vật này được kể là con một liệt sỹ lừng danh ở địa phương và bản thân cô cũng sớm tham gia cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cô sớm có chồng là một người cùng hoạt động, mà sau ngày giải phóng, trở về đời sống dân sự hoà bình, có với nhau hai mặt con và người chồng đó dợm bước thăng quan tiến chức, thì cô dần dần nhận thấy cuộc hôn nhân này không có tình yêu. Chủ đề tình yêu tự do, đích thực, của một người đàn bà đã ràng buột với hôn nhân ngay từ đầu đã quán xuyến câu chuyện này. Nhân vật Tiệp, sau những biến cố có vẻ ngẫu nhiên gặp gỡ, khẳng định nhân vật Đính, một nhà văn Hà Nội, là “người đàn ông định mệnh” của cô. Và họ “xé rào” đến với nhau.Vì nhân vật Đính được kể là cũng đã có gia đình, với ba đứa con, mà vợ chồng cũng ông chằng bà chuộc. Đôi nhân vật này khớp với nhau như hai chiếc bánh răng của một cái đồng hồ. Chỉ có điều xung quanh họ là rất nhiều chiếc bánh răng khác và cái đồng hồ này vừa chậm vừa trục trặc. Thời gian của mối tình/ câu chuyện kéo dài hơn mười năm trước khi đôi nhân vật này cùng giành lại được tình trạng độc thân về pháp lý để chính thức xum vầy. Và toàn bộ ý vị của câu chuyện nằm trong cuộc chạy việt dã thời gian, vượt qua những giới hạn nhỡn tiền của nhân tình thế thái, mà thực tế đã xé tung cái phần đời vốn có của cặp nhân vật chính này.

Thật ra cuốn tiểu thuyết này chỉ có một nhân vật chính là nhà văn Mỹ Tiệp. Nhân vật nữ xinh đẹp và đa đoan đoan này thực sự nắm giữ hết các đường dây cốt truyện. Các nhân vật còn lại, kể cả nhân vật Đính đều không có được tuyến truyện riêng. Lịch sử cá nhân và hành trang của họ đều chỉ nổi lên như những chi tiết thuộc về bối cảnh những chiếc bánh răng phụ và trung gian cho các hoạt động của nữ nhân vật chính; trừ một ngoại lệ:  hai đứa con của Tiệp. Toàn bộ những phần bối cảnh, đan xen tỉ mỉ và ngẫu hứng, thể hiện một cách thú vị cái nhìn chăm chú và nhạy cảm của một người phụ nữ đang yêu và bất mãn với hiện trạng hôn nhân của mình; toàn bộ những bối cảnh ấy có thể chia một cách tương đối làm ba “mảng” lớn:các nhân vật trong gia đình của nhân vật Mỹ Tiệp một loạt những goá phụ hay cô muộn chồng, các nhân vật xung quanh Mỹ Tiệp ở thị xã nơi cô sinh sống và làm việc, và nhân vật Đính cùng  những người có liên quan với anh ta và câu chuyện tình này ở Hà Nội. Những tình tiết và sự kiện bối cảnh thêu dệt nên những câu chuyện nhỏ rất khác về các tập hợp nhân vật ấy, nhưng tất cả đều có một điểm chung: cách này hay cách khác họ đều bất hạnh trong tình yêu/ hôn nhân, dù là “bị lộ và chưa bị lộ” thì cũng vậy, dưới cái nhìn tâm lý của nhân vật Mỹ Tiệp; hay nói cách khác, phấn lớn họ đều có những quan niệm về hạnh phúc khác với Tiệp và do đó họ đều chống lại cô, hay ngược lại, ủng hộ và giúp đỡ cô.

Cái nhìn tâm lý của nhân vật Tiệp còn toát lên từ các tình huống, công việc, cảnh vật ở tất cả những nơi cô ta đặt chân tới. Mặc dù giọng trần thuật là một giọng của người kể chuyện “bên ngoài”, nhưng có thể dễ dàng thấy giọng đó luôn trùng khớp với biểu hiện tâm trạng của nữ nhân vật chính. Trong những phần đầu của câu chuyện, các cảnh huống đều đem lại một cảm giác bức bối bởi trần thuật mô tả một cách tỉ mỉ, riết róng những tình tiết đời sống gò bó khó khăn hay trì trệ bệ rạc thời “bao cấp” ở cái thi xã, vùng quê của nữ nhân vật chính cũng như ở Hà Nội. Đó cũng là những giai đoạn mà nữ nhân vật chính rơi vào sự bất mãn ngày càng tăng với hiện trạng hôn nhân của mìn, với người chồng mà cô ta thấy không có sự đồng điệuđến mức cô ta nghĩ rằng dường như người đó đã cưỡng đoạt cô bằng hôn nhân. Những mô tả tỉ mỉ và cường điệu cảm giác bức bối, đặt biệt là những cảnh ở Hà Nội khi nữ nhân vật chính ra để gặp người tình theo cách phải hẹn hò lén lút khổ sở, cho thấy rằng cái bối cảnh đời sống ở đây đều là phóng chiếu từ các cảm giác và tâm trạng nhân vật, theo lối “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Nguyễn Du)

Thế giớ xung quanh Tiệp dường như chia làm hai dưới cái nhìn tâm lý của cô: những người chống lại chuyện phá bỏ cuộc hôn nhân của cô, và những người thông cảm, ủng hộ. Cái thế giới này đầy sự chật hẹp, áp chế, tủn mủn khi nhân vật Tiệp bắt đầu vùng quẫy để chạy theo “người đàn ông định mệnh” theo ý cô ta; rồi khi các ý nguyện của cô ta dần dần trở nên hiện thực, bất chấp sự ruồng bỏ của gia đình và tình trạng “cấm vận” lặng lẽ của cơ quan, thì các bối cảnh và tình huống cũng dần trở nên bớt ảm đạm, sáng dần lên và gây cảm giác thông thoáng hơn. Xét theo thời gian trong câu chuyện, sự biến đổi này trùng hợp với những vận động biến chuyển nói chung của xã hội đất nước từ thời kỳ trì trệ/ khủng oảng chuyển sang thời chuẩn bị “xé rào cơ chế bao cấp” và Đổi Mới. Như vậy giọng trần thuật và bản thân nội dung câu chuyện/ trần thuật có cái vẻ  như một tất yếu khách quan.

Tuy nhiên, xét theo vai trò trung tâm của nữ nhân vật chính, thực ra câu chuyện này có một cấu trúc độc thoại. Độc thoại ở đây xin được không hiểu là “nói một mình”, mà là đối thoại với cái lặng im, đối thoại với cái vắng mặt hay phiếm chỉ, và đối thoại không cân xứng. ở  đây, trong câu chuyện này, chính là độc thoại dưới dạng đối thoại không cân xứng. Đó chính là đối thoại giữa nhân vật Tiệp và nhân vật Thu Thi,  con gái của cô ta. Nhân vật đứa con trai, tên Vĩnh Chuyên, là một vai phụ thêm vào  bên đối thoại của cô chị Thu Thi của nó. Như đã nói ở phần đầu, hai nhân vật hai đứa con này là một ngoại lệ trong số rất nhiều các nhân vật xung quanh nữ chủ nhân của độ thoại.

Ngay từ những cảnh truyện đầu tiên, giữa những dòng trần thuật tỉ mỉ chì chiết và bức bối về hoàn cảnh, có thể thấy giọng trần thuật luôn “chùng xuống”, trìu mến đầy tình cảm mỗi khi kể về/ nói đến hai nhân vật Thi và Chuyên. Nét riêng này duy trì không đổi trong suốt tác phẩm và được đẩy tới tột đỉnh trong cảnh chia tay khi mà nữ nhân vật chính lên đường ra Hà Nội sum hợp với người chồng mới, ngoảnh nhìn một lần nữa đứa con gái vẫy tay từ biệt và đứa con trai quay lưng đi vào nhà, và nhớ đến “cái bộ dạng còi còi, cội cút” (tr.276). Đó là một chi tiết mang tính cáo giác trong cuộc đối thoại không cân xứng giữa mẹ và con.

Cặp nhân vật hai đứa con hầu như luôn gắn với mỗi sự xuất hiện của nữ nhân vật chính. Hai nhân vật này, đặc biệt là nhân vật đứa con gái, thường không nói gì nhiều, nhưng chúng luôn không chỉ là một chi tiết bối cảnh trong truyện. Có ba lần nữ nhân vật chính nói ra lời (độc thoại nội tâm) niềm ân hận về việc phá vỡ mái ấm gia đình (tất nhiên, cô ta không chấp nhận được cái nóc nhà hiện tại đó) thì cả ba lần đều gắn với sự có mặt của hai đứa con (tr.85, tr.202, tr.276). Vai trò phản biện, thầm kín hay thành lời, của cặp nhân vật Thu ThiVĩnh Chuyên là một ám ảnh lớn dần lên trong suốt câu chuyện, trên quá trình ngày càng xa nau giữa người mẹ và hai đứa con và ngay giữa hai đứa con với nhau. Dưới bề ngoài là sự trưởng thành của hai đứa đứa trẻ, sự xa rời chia tách đó đã mang bóng dáng một biểu trưng cho sự tan rã của gia đình hạt nhân (gián tiếp nữa là gia đình truyền thống) trước tác động  của lối sống mà cuộc tình có sức tàn phá của nữ nhân vật chính là một biểu trưng khác. Vậy là, gia đình như một trong những hiện thân giá trị của hạnh phúc đã trở thành một phương tiện đáng ngờ trong việc kiếm tìm hạnh phúc?

Câu chuyện của “Gia đình bé mọn” thực ra đã kết thúc ở cuối phần 19 của cuốn sách (tr.281) khi nữ nhân vật chính băn khoăn nếu được làm lại cuộc đời thì cô ta nên chọn giữ tình mẫu tử hay cứ giành cho được tình yêu theo ý muốn như cô đã làm. Đó quả là một câu hỏi quá buồn thảm về một cái gì đó giống như là hạnh phúc; hay là một sự hoài nghi về cái gọi là hạnh phúc trên đời. Mà thực ra cô ta đã tự trả lời. Một câu trả lời khá tệ.

Phần còn lại, phần 20 của cuốn sách, giống như một đoạn vĩ thanh về nơi ẩn náu cuối cùng mà nhân danh nó nữ nhân vật chính đã đến trong suốt tuổi thanh xuân của mình: tình yêu với/ của một người đàn ông do cô ta lựa chọn và con đường theo đuổi văn chương. Cả hai điều ấy rốt cục đã thành tựu, nhưng giọng trần thuật ở đây không nhuốm niềm vui mà cho thấy lơ lửng một gánh nặng không gọi nên lời. Và tấn bi kịch trong chủ đề hạnh phúc được nhắc lại: nhân vật đứa con gái viết thư gọi mẹ trở về làm chỗ dựa tinh thần cho nó vì tay chồng nó đã ngoại tình.

Đây không phải là chuyện “quả báo”. Đây chính là một kiểu kết thúc “có hậu”, một cái “hậu” không trọn vẹn nhưng nó nhắc nhở rằng câu trả lời đã lựa chọn về hạnh phúc là một câu trả lời không đúng và nó cho phép một lần nữa trả lời lại.

( Tạp chí Văn Nghệ Công Nhân tháng 10/2006)