Hoàng Phủ Ngọc Tường - Nỗi niềm của lửa

(Báo Văn Nghệ ) 12/2006)

                     

                                                                      Dạ Ngân

Thời điểm tôi đang nhớ để bắt đầu cho bài viết này cách nay đã 35 năm. Thời gian chớp mắt nhưng thời gian cũng âm thầm là công việc sàng lọc mọi giá trị chứ không riêng gì văn chương. Lúc ấy, vào  năm 1971 ấy tôi mới là cô gái ham đọc sách, một "con mọt" của nguồn sách báo đưa từ Bắc vào. Lúc ấy chúng tôi không được biết chúng đi bằng đường biển hay đường bộ, chỉ biết là nó thấm đẫm mồ hôi nước mắt và cả máu xương của các chiến sĩ giao bưu. Tình cờ trong mớ sách đựng trong những chiếc thùng gò bằng tôn của "Thư viện di động" thuộc Ban Tuyên Huấn Khu Chín đóng ở U Minh, tôi tìm thấy tập bút ký đầu tay Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn lâu của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Hoàng Phủ mà còn thêm Ngọc Tường, cái tên lấp lánh một cách kiêu kỳ thi thoảng tôi vẫn nghe thấy trong chương trình Văn Nghệ của Đài Tiếng nói Việt Nam hoặc Đài Phát Thanh Giải Phóng. Bên cạnh mạch văn sôi sục của Nguyễn Trung Thành (tức Nguyên Ngọc), những bài ký của nhà văn xứ Huế ấy mảnh dẻ  như tiếng đệm của một thứ nhạc cụ thâm trầm. Đúng hơn, đó là một ánh lửa ở chân trời cho dù nó rất xa nhưng dù sao lớp trẻ của chúng tôi cũng đã nghe thấy và nó có ý nghĩa an ủi nhiều hơn là hiệu triệu, thôi thúc.  

Trong mươi tác giả để lớp thanh niên trong Cứ nhớ được, có Hoàng Phủ Ngọc Tường và ngay lúc đó tôi xếp anh song song với Nguyễn Tuân. Thích sự minh triết nhân văn chứ không hâm mộ sự khệnh khạng chính sự, âu cũng là cái tạng đọc của mình. Chúng tôi mong ngóng được Hoàng Phủ Ngọc Tường cho thấy một ánh lửa nữa nhưng Huế với miền Tây quá xa hay nhà văn này khảnh viết? Mãi đến sau hoà bình, chúng tôi mới "tao ngộ" với tác giả mà mình yêu quý lần nữa, cũng vào một thời điểm đặc biệt, không thể nào quên. Đó là thời kỳ tối tăm một cách kỳ quặc, sau trận lụt lịch sử năm 1978 khiến dân miền Tây cũng phải ăn độn cùng lúc với sự xuất hiện dày đặc của lũ lục bình làm thê thảm thêm khung cảnh nông thôn đang tiêu điều vì cơn sốt tập đoàn hoá hợp tác hoá. Những buổi chiều ở miền Tây dạo đó rất u tịch, các dòng sông không có tiếng máy ghe thuyền vì dầu còn không có để thắp sáng nói gì một giọt xăng, vậy nên tiếng bìm bịp nghe khắc khoải hơn và hoàng hôn trong biền lá đỏ thẩm lạ lùng. Rất nhiều ánh lửa, tập bút ký thứ hai của Hoàng Phủ Ngọc Tường xuất hiện và nó đi dài xuống miền Tây cùng với tiếng vang của Giải thưởng Hội nhà văn. Lập tức chúng tôi đón nhận nó bằng sự nồng nhiệt xứng đáng trong không khí oi ngột cuối đất cùng trời. Quả thật chúng tôi đã được tiếp thêm sinh lực. Rõ ràng chúng tôi thấy trong ngọn gió có niềm an ủi, thấy lũ lục bình có vẻ ít uy hiếp hơn và tiếng chèo khuya của ai đó cũng ít tuyệt vọng hơn. Chúng tôi thấy trong con người mình có lửa, ánh lửa được thắp lên từ bên trong và đó là điều quan trọng mà nhà văn đã đem đến cho chúng tôi, hồi đó.

Không ngờ nẻo văn chương khiêm nhường của tôi sau "Con chó và vụ ly hôn" rồi cũng đưa tôi bước ra, nơi có những tán cây đã từng đổ bóng xuống khát vọng của tôi. Kia rồi Hoàng phủ Ngọc Tường trên đại lộ, lúc ấy anh đã có thêm Ai đã đặt tên cho dòng sông, tập bút ký thứ ba khiến dư luận đồng thanh trầm trồ, anh đúng là một ông hoàng  của thể ký, sân chơi ai cũng có thể dạo qua nhưng được độc giả tôn vinh thì không dễ. Một gương mặt nhiều trán, một đôi mắt tinh anh, những nếp nhăn suy nghiệm và cái nốt ruồi dị tướng bên góc cằm và cái cơ thể, chao ơi, nó gầy còm cũng rất ư là dị thường. Bắt tay, khích lệ, bù khú, tưng bừng, trong không khí hội hè vừa sôi động vừa sóng gió của Đại hội nhà văn IV, Hoàng Phủ đã cho tôi một lời khuyên để gối đầu giường: “Với một nhà văn, không phải chức tước hay lứa đôi là hạnh phúc mà chỉ có kiến thức mới là hạnh phúc tối thượng của đời người, nghe!”. Lúc đó tôi mới ba mươi bảy tuổi, tôi khao khát hạnh phúc gia đình ngang với khao khát trí tuệ, tôi lắng nghe anh nhưng chưa thấu suốt được điều đó như bây giờ. Sau này, trong Bản di chúc cỏ lau, hay Ngọn núi ảo ảnh, hay Mượn đá để ngồi, thậm chí trong Miền gái đẹp, anh đã cho chúng tôi thấy anh đã khổ ải vì tín điều đó như thế nào và bù lại, anh đã lịch lãm và đã "tới cõi" như thế nào.

Tôi nhớ một buổi tối cuối xuân năm 1995, lúc đó Hoàng Phủ chưa tới tuổi sáu mươi, cái thời điểm khá xa sau Đại hội nhà văn V và dĩ nhiên, cũng đã rất xa không khí lịch sử của Đại hội nhà văn. Lần đó Lâm Thị Mỹ Dạ đi vắng đâu còn tôi thì một thân một mình vào Huế công tác. Hoàng Phủ có tiếng là hay đàn đúm nhưng cũng được khen là chưa bao giờ kè nhè, anh luôn làm chủ sự tỉnh táo của mình như một vị tướng trước hàng quân hay như một người đẹp ý thức thường trực về nhan sắc nổi trội của mình. Thấy tôi tìm đến, anh vồn vả ngay: “Anh cảm ơn em vì không bắt anh đưa đi lăng tẩm với thành nội, bù lại anh sẽ chiêu đãi em món cà phê vườn bảo đảm rất nhiều muỗi của Huế”. Cái quán cà phê lọt thỏm trong khu vườn không khiến tôi nhớ bằng ánh mắt của cánh trẻ trong quán khi Hoàng Phủ Ngọc Tường xuất hiện - sau Trịnh Công Sơn thì anh là người thứ hai được dân Huế thuộc mặt. Sự ngưỡng mộ của đám đông khiến anh trở nên trang trọng một cách khác thường. Cuối cùng, cũng vì sợ lũ muỗi của cà phê vườn nên anh em chúng tôi đã chọn một chiếc bàn trong nhà, giữa không khí ồn ào không còn mấy chất Huế, chiếc bàn có chiếc cửa sổ vớí thứ dây leo gì đó. Tưởng rằng sau câu chuyện về hai gia đình giống nhau cái cảnh chồng vợ đều “sẵn sàng thất thường cho văn chương thơ phú” thì sẽ là chuyện kinh nghiệm yêu đương của mỗi người hay chuyện gió trăng của ông nầy bà kia thân quen trong giới để thư giãn một cách thích hợp với cà phê. Nhưng chúng tôi đã không thoát nổi đề tài muôn thuở là văn chương và thời thế. Anh nói về quan niệm có dẫn chứng từ lịch sử giữa chính trị và văn nghệ, nói về khát vọng tự do muôn thuở của người nghệ sĩ, nói về lòng dân và không khí Đổi Mới, nói về quy luật tiến thoái của đời người cũng như của một quốc gia một dân tộc và nói về nỗi tiếc nuối với Huế xưa...Đã chuẩn bị sẵn, Hoàng Phủ Ngọc Tường rút bút đề tặng Nguyễn Quang Thân và tôi bản in bút ký Ngọn núi ảo ảnh cắt từ tạp chí Hợp Lưu bên Mỹ, chữ ký rất bướng và rất khoẻ. Anh "chua" thêm: "Anh tâm đắc nhất bút ký nầy, cũng tự thấy nó hay nhất trong gia tài ký của anh. Hôm viết xong sướng quá gởi sang cho Khánh Trường đọc thẩm định xem, không ngờ Trường cho in bên đó luôn, giờ muốn in lại trong nước cũng khó". Thật tiếc, quá tiếc, sau nầy tôi đọc đi đọc lại nhiều lần Ngọn núi ảo ảnh, tôi càng thấy tiếc hơn, đó là một áng văn với ý nghĩa vinh quang nhất của từ này nhưng khi in vào sách thì độc giả sẽ không nhiều và hiệu quả xã hội cũng không mạnh bằng in trên Văn Nghệ nếu được in và dĩ nhiên, nó cần được trích vào sách giáo khoa nữa thì mới thoả. (Tôi vẫn giữ bản in có chữ ký của anh Tường như báu vật và có thể sẽ tặng cho Bảo tàng Hội Nhà văn chăng?)

Tôi lại nhớ lùi về một lần trước khi anh em chúng tôi có buổi cà phê mà tôi đang nhắc. Hôm đó chúng tôi đi cả đôi từ Hà Nội vào và trong khi Mỹ Dạ với Thuỳ Mai đưa Quang Thân và tôi đi thuyền rồng dọc sông Hương thì Hoàng Phủ ngồi lại trên bờ – như đã nói, anh phải hướng dẫn quá nhiều bè bạn nam bắc đông tây đi tham quan di tích nên anh ví công việc đó là một hình thức kỷ luật. Anh ngán việc đi Lăng nhưng anh mê không khí tụ tập bạn bè nên anh ngồi trên bờ và đợi. Anh ngồi thong dong suốt một buổi, lúc đó anh vẫn gầy còm nhưng rất tráng niên và vừa viết xong một thiên bút ký mà sau nầy tôi mới biết đó là Ngọn núi ảo ảnh. Trông anh phong độ như biết mình đang đứng trên cái đỉnh của chính mình. Anh ngồi chay để thả lỏng mọi ưu tư và tỏ vẻ cực kỳ hưng phấn khi thấy chúng tôi trở về. Anh gọi bia cho cả nhóm rồi gửi cái nhìn tri kỷ với Quang Thân và bắt đầu, thao thao, tất cả, xuất thần, như anh đang bước những bước độc hành sảng khoái trong cánh rừng trí tuệ của mình và chốc chốc lại cúi xuống nhặt một ý tưởng lên cho vào bị trên tấm lưng ngất ngưởng, lặc lè của mình. Suốt buổi rồi sang đêm, anh nói, cái dáng ngồi trang trọng không mỏi mệt, đến một người hay tranh luận như Quang Thân cũng phải im lặng để nuông chiều cuộc du hành ngẫu hứng và trác việt của anh. Chúng tôi đã há hốc nghe anh như trong một giảng đường, không, một thánh đường thì đúng hơn. Và anh đã được chia sẻ, anh đang đốt anh bằng lời nói thay vì ngọn lửa ấy phải được thắp lên trên trang giấy để in ra mặc là in trong nước hay ngoài nước, phải, giá như anh được viết ra, tuôn trào, mọi điều, như anh nói, hôm ấy. Anh có nhiều nỗi niềm, rất nhiều nỗi niềm và đó nỗi niềm của lửa, một ngọn lửa muốn được bùng lên phỉ chí nhưng mà vẫn phải kềm nén, có lẽ vì thế mà nó cứ mãi hun đúc, âm ỉ.

Cũng như nhiều bạn bè, chúng tôi cảm thấy nỗi trống hoác kỳ lạ khi nghe tin anh lâm vào cảnh ngặt nghèo, anh đã không thể dạo chơi một cách minh tường trong cánh rừng của chính mình như ngày nào được nữa. Hoàng Phủ Ngọc Tường, ôi, Hoàng Phủ Ngọc Tường, cái khoảng trống mà chúng tôi cảm thấy ấy thật ra đó là chỉ khoảng trống của vật thể, một sự hốt hoảng thương yêu bạn bầy. Thật ra anh đã làm được trọn vẹn một công việc vĩ đại là một mình một con đường, một mình một sân riêng và đã để lại cho đời những áng văn. Hôm ghé qua nhà sách Tràng Tiền cầm lên bộ Tổng tập đồ sộ của Hoàng Phủ Ngọc Tường, tôi vui sướng ngắm anh trên bức ảnh kỹ thuật số rất hiện đại choán hết phông bìa rõ đến nỗi cái nốt ruồi ấy như động đậy và biết trêu ngươi. Những bài báo, những bài thơ mấy năm gần đây trên chiếc xe lăn anh đã cố để người đọc thấy rằng anh còn lửa, đúng, anh đã hồi phục một cách dị thường nhưng anh hãy tin rằng, ngọn lửa mà anh vun quén cả một đời trong những trang bút ký đã được in lại đầy đủ kia vẫn còn nguyên sự ấm nóng của một tài năng mẫn tuệ và rồi một lúc nào đó chúng sẽ được tưởng thưởng, ghi danh, nhất định phải là như thế./.