Evan phỏng vấn Dạ Ngân về GĐBM
 
 

 

 

 

Nữ nhà văn Dạ Ngân sinh năm 1952 tại Long Mỹ - Hậu Giang. Tham gia kháng chiến từ năm 16 tuổi, làm báo ở tỉnh, ở Khu, sau hoà bình mới bắt đầu viết văn. Dạ Ngân được chú ý từ thập kỷ 1980 với những truyện ngắn mạnh bạo, là hội viên Hội nhà văn VN từ năm 1987.

Dạ Ngân có cả thảy 5 tập truyện ngắn, 1 tiểu thuyết, 2 kịch bản phim nhựa và 2 truyện dài cho thiếu nhi, đoạt Giải thưởng Tạp chí Văn nghệ Quân đội 1987.

 

Dạ Ngân thích được gọi là nhà văn của cảm giác

 

Từ Nữ Triệu Vương ( Evan.com.vn)

 

Mới đây, tập "Miệt vườn xa lắm" của Dạ Ngân đã được trao Giải thưởng Hội nhà văn 2004. Nhà văn có cuộc trò chuyện với eVăn.

 

Khi viết xong một tác phẩm thành công, chị phải mất bao lâu để tách mình ra khỏi nỗi ám ảnh của nó để bắt tay vào trang viết mới?

- Không có thời gian cơ học như vậy cho một người viết đâu. Thường, hương vị của truyện ngắn đến với tôi từ một chi tiết đắt hay một ý tưởng, cái mà người ta quen gọi là thai nghén ấy mà. Nó lớn dần, “đẻ” xong là xong, thậm chí chán nó rất nhanh, quy luật tự nhiên để sáng tạo một cái khác hy vọng nó sẽ vượt lên cái vừa có. Cứ thế, hết truyện này rồi truyện khác, điều mà dân trong nghề gọi là nghiệp. Với tiểu thuyết thì không như vậy, tiểu thuyết ám ảnh người làm ra nó mãi, có khi là mãi mãi. Với một cuốn xoàng thì bứt rứt tại sao mình kém thế, nếu cuốn sách được đánh giá cao thì lại sợ cái bóng của chính nó.

 

Những nhân vật nữ như bà má, bà cô, bà chị của cô bé Tiệp trong “Miệt vườn xa lắm” hay như Đoan, như chị Mật trong những truyện ngắn của chị thường sống cam chịu, họ chỉ nổi loạn trong suy nghĩ. Tại sao chị lại hài lòng với những thân phận yếm thế như vậy?

 

- Phụ nữ Việt Nam mình giỏi lắm, anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang, tôi không nói theo khẩu hiệu đâu. Họ gan góc, giỏi giang, từ tâm trong cái khung của họ, chiến tranh khiến họ quên cái tôi đời thường của họ đi và khi có thanh bình thì họ trở lại với cái gánh nặng của nghìn năm phong kiến. Xã hội và gia đình đòi hỏi ở họ quá nhiều nhưng đời người thì quá ngắn. Tôi đâu có hài lòng với thân phận và nỗi niềm của họ, tôi chỉ tái hiện, đồng cảm và lên tiếng giúp họ thôi.

 

Tôi rất chịu cách khai thác nội tâm nhân vật nữ của chị, sự tinh tế của nhân vật Thảo khi cô “chợt thấy trên mặt má ngưng đọng vẻ hiu hắt và rám rỏi của hoàng hôn. Người phụ nữ trong cô bỗng hiểu: Chính vì vậy mà má cô hay mở mắt thao láo nhìn lên trần nhà, ở đó, đêm đêm cuộc chiến tranh vẫn chưa hề nguội lạnh”, đó là những câu trong truyện “Trên mái nhà người phụ nữ”. Hay “cảm giác bị dùng” của cô Đoan trong “Con chó và vụ ly hôn”, hay bi kịch tâm lý người thừa của bà mẹ trong “Người của mỗi người”, hay sự dằn vặt của Định trong “Sống với nhớ thương”... Nhưng truyện ngắn sống được là nhờ chi tiết, mà truyện của chị dường như không chú trọng đến việc cài cắm chi tiết. Chị nghĩ sao về điều này?

- Ai bảo tôi không chú trọng đến chi tiết? Bạn hãy nhắm mắt lại để nhớ trong “Con chó và vụ ly hôn” là những chi tiết gì. Truyện ngắn là một khoảnh khắc của đời sống chứ không phải toàn bộ đời sống, nó là cái mặt cắt của tấm thớt chứ không phải là cái cây, vì vậy mà tôi phải dành dụm chi tiết, bởi chi tiết là phải nhặt nhạnh bằng sự từng trải chứ không thể bịa ra được. Thế mạnh của tôi là miêu tả tâm lý và cảm giác, tôi thích được gọi là nhà văn của cảm giác.

 

Văn hoá miệt vườn thấm trong từng hơi thở và giọng nói của chị, nên trang viết về miền Tây không cần luyến láy, kỹ thuật mà vẫn tự nhiên hồn hậu. Xin hỏi chị, tính cách miền Nam khác với miền Trung, miền Bắc thế nào và chị có phải dụng công nhiều trong xây dựng tính cách nhân vật không?

- Trước hết, ta nên cùng ghi nhận là có văn hoá tiểu vùng do địa lý, thổ nhưỡng, tôn giáo, lịch sử, tập quán mà nên. Tôi sang Campuchia và thấy những người phụ nữ đội cà-om đi hàng một rất là trật tự trên đường. Tại sao vậy? Bởi vì họ phải đi rất xa để lấy nước nên phải đội thì đi mới bền được và họ đi hàng một là vì Phật giáo ở đây là quốc giáo, phụ nữ không thể dung dăng cười cợt lung tung ngoài đường.

Người miền
Nam được đánh giá là bộc trực, hào sảng, hồn hậu, cả tin... là vì trong họ có nắng gió ngay thẳng, có nỗi niềm di dân, có cảnh đơn độc đường trường. Có văn hoá Kinh bắc, rồi có văn hoá Nghệ Tĩnh và có văn hoá miệt vườn. Tôi là thế hệ thứ 9 của một ông tổ Bình Định mà trước đó nữa chắc là Hà Tĩnh hay Quảng Bình gì đó. Tổ tiên tôi có văn hoá cội nguồn đất Bắc, ngấm thêm tinh thần thượng võ của đất Bình Định và có hàng trăm năm nghề vườn ở Cao Lãnh. “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”, mỗi khi ngân nga hai câu thơ ấy bao giờ tôi cũng rưng rưng, tôi hài lòng vì sự mẫn cảm của mình với hành trình xuôi Nam của ông cha và tôi viết ra điều đó. Trời cho gì thì được nấy, tôi không bóc xóc với những điều tôi không thuộc, tôi không nghĩ mình sẽ động bút vào những vấn đề của nông thôn miền Bắc hay miền Trung vì thật sự chúng không cần tôi.

 

Nhân vật tôi trong “Miệt vườn xa lắm” là cô bé sống rất nhạy cảm, có những đoạn thế này: "Tôi không can dự vào những chủ trương và mâu thuẫn giữa những người lớn nhưng tôi thấy yên tâm dưới cây và lá vườn, trừ những lúc cánh đàn bà hành nhau vì cô đơn và cực nhọc quá sức”, hay là câu “Tôi thương sự chờ đợi vô vọng của anh Hai Hiền. Nhưng tôi biết chị Hoài không muốn có chồng, chị sợ cảnh goá bụa như cô tôi, sợ cảnh chờ chồng của má tôi”... Chị có cho rằng để một nhân vật mới học lớp 3 mà suy nghĩ như thế thì có quá già không?

- Cô bé Tiệp trong đó học hành đứt đoạn do chiến tranh, cô đã hơn 10 tuổi. Trong hoàn cảnh ấy con người ta khôn ngoan rất nhiều so với tuổi, thời Pháp, thời mất nước đen tối, các nhà văn nhà thơ đều thành danh lúc họ trên dưới 20. Thời bơ sữa làm cho trẻ con gà công nghiệp đi nhiều. Vả lại, nhà văn có quyền làm cho nhân vật mình già cóc già cụ đi, một em bé nằm trong bụng còn nghe thấy đủ điều nữa là. Vấn đề là nhà văn phải tạo không khí để độc giả có thể tin hay là không.

 

- Theo chị, tác phẩm viết cho thiếu nhi khác với viết cho người lớn như thế nào?

- Viết cho thiếu nhi khác lắm và khó lắm. Andersen trong veo mà hết sức lịch lãm và từng trải, đúng không? Dế mèn của cụ Tô Hoài vừa ngộ nghĩnh vừa có sức khái quát lớn. Những bài thơ của Trần Đăng Khoa thì chỉ có thể nói gọn là thần đồng mới làm ra nổi. Tôi viết được cho trẻ con - cho thiếu niên thì đúng hơn - cũng nhờ “ăn may” mà thôi. Tôi như con lạc đà, cái gì tôi chở được thì nó là của tôi và tôi tiêu hoá nó cho đường trường văn chương của mình. Tôi thấy hạnh phúc vì văn hoá miệt vườn trong trang viết của mình đã được bạn đọc cả nước thú vị và không ít bạn viết đã nghĩ: Sao mình cũng có một tuổi thơ của mình mà mình không viết ra? Ý nghĩa đích thực của một tác phẩm hay là ở chỗ nó cho người đọc niềm yêu thích văn chương và chính họ muốn đứng dậy, ngồi vào bàn dù chỉ để viết nhật ký.

Từ Nữ Triệu Vương thực hiện