Cha tôi



Dạ Ngân

 

Tôi mới có bốn tuổi thì ba tôi bị giặc bắt. Ký ức của một cô bé bốn tuổi thật ít ỏi và lõm bõm. Mới bốn tuổi thì đứa trẻ đã biết gì và nhớ gì? Nhưng tôi vẫn nhớ, nhớ những trận khóc vật khóc vã của bà tôi, nhớ những tiếng chặc lưỡi trong đêm dài của ông tôi, nhớ kiểu ngồi bất động trong bóng tối của má tôi, nhớ đôi chân chạy vạy thoăn thoắt của cô tôi, nhớ nỗi niềm già khốc của chị em chúng tôi từ khi đó. Không gì lớn hơn nỗi đau này vì ba tôi là con một, lúc lâm vào cảnh lao tù ba tôi mới ba mươi sáu tuổi.

 Tôi bắt đầu tuổi đến trường bằng những hy vọng mỗi ngày. Tôi chỉ hy vọng hôm nay, khi tôi từ trường về thì ba tôi đã có mặt ở trong nhà. Tôi nhớ những buổi trưa, từ trường về phải đi qua một giang đồng, hình ảnh con cò trắng trên lưng trâu thật cảm động và thanh bình nhưng sao trong nhà tôi không có thanh bình, ba tôi đâu, sao tôi không thể là con cò trên lưng ba tôi như vậy? Những buổi chiều mưa giông, nếu hôm ấy phải học vào buổi chiều thì tôi sợ sấm sét đến mức hai chân quíu lại, lúc ấy tôi chỉ ước ba tôi đang đứng ở hậu vườn để giang tay ra. Tôi nhớ một trận mưa rất to, chị tôi và tôi đi học về, chúng tôi tìm thấy mấy trái xoài xanh rụng trong mương nước ngầu đục, sao trận mưa lại khủng khiếp buồn như vậy dù chúng tôi đã vớt được mấy quả xoài để nheo mắt ăn chua? Vì cây xoài ấy liên quan đến ba tôi, cô tôi kể rằng năm Thìn bão lụt ấy, năm má tôi vừa sinh tôi ở xa nhà, ba tôi đã về qua vườn nội và ông đã đích thân cưa cây xoài sau hè để trồng một cây khác xa hơn mái nhà, cây cho các con, xoài cho các con mà nhà thì không bị đe dọa nếu lại giông bão nữa. Vậy đó! Tuổi thơ tôi có tất cả, chỉ thiếu một người. Tôi có ông nội quắc thước và mẫu mực, người vào thập niên 30 của thế kỷ trước đã dám đem theo vợ con và bốn người em trai vượt sông Tiền đi dài theo kênh xáng Xà No để gây dựng nghề vườn bên bờ sông Nước Đục ở cuối trời Hậu Giang. Tôi có bà nội hát bội rất hay và biết làm nhiều thứ bánh ngon. Tôi có bà má nhẫn nại bền gan mà lại có thêm người cô út trí tuệ, can cường, sáng rỡ. Tôi có chị có anh và có mảnh vườn quanh năm cây lành trái ngọt, không phải thèm khát thứ gì. Tôi chỉ khát thèm mùi mồ hôi của cha, đôi bàn tay cha, sự ân cần của cha, tất cả, những thứ mà tôi không thể tìm thấy ở ông nội hay anh trai của mình.

Người lớn trong gia đình kể rằng ba má tôi có tám người con nhưng duy nhất tôi là không chôn nhau cắt rốn trong vườn nhà. Ba tôi theo kháng chiến năm 1946, hơi muộn vì ông nắm níu ông bà nội tôi quá. Rồi không khí Toàn quốc kháng chiến đã lôi kéo ông, trong Tuần lễ vàng ông đã hiến cho nhà nước xưởng dệt gia đình để đầu quân cho Vệ quốc đoàn. Bà nội tôi đã lên đơn vị khóc lóc van nài ba tôi mới chịu sang một cơ quan Dân chính để đỡ phải trực tiếp với súng đạn. Ông ở tận U Minh Thượng, má tôi phải đem hai con gái theo ở cùng bà để cho gần với chỗ ông. Và tôi đã được sinh ra cùng với nước phèn của vùng Chắc Băng – Rạch Giá. Sau này tôi nghiệm ra, tôi có số xê dịch đa đoan hơn các chị trong nhà là vì khi còn trong bụng mẹ tôi đã rày đây mai đó. Cũng vì là con một nên ba tôi không đi tập kết để có bằng cấp lớn hơn, ông đã chịu phần ở lại và bị giặc bắt vào năm 1956.

Ký ức rất hay dần dà ở cái mốc này, lúc tôi mới bốn tuổi ấy. Tôi nhớ một chiếc tam bản lớn có mui vòm bằng lá dừa nước, trong đó má tôi, chị Hai chị Ba (để cầm chèo) và ba đứa nhỏ lít nhít sau cùng. Chiếc ghe đi mãi đi mãi trong đêm rồi sang ngày trên những dòng sông mỗi khắc mỗi phình ra, hãi hùng. Chị Hai tôi bảo Xẻo Rô đây rồi, Xẻo Rô là địa danh ven thị xã Rạch Giá, nơi giặc tạm giam ba tôi để dụ hàng, nếu không được thì sẽ đưa ông lên Chí Hòa – Sài Gòn ra tòa chịu án. Ông là “Việt Minh thứ dữ”, hay lên Sài Gòn nằm vùng kết nối làm ăn để gây quỹ cho kháng chiến và trong một lần về lại căn cứ ở Rạch Giá, cùng chuyến xe với bí thư Tỉnh ủy, các ông đã bị những người phản bội mật báo để giặc phục bắt ở dưới Cần Thơ một đỗi. Khi cảnh sát tuýt còi: “Trên xe ai là Ba Hương xin mời bước xuống”, ba tôi đã làm Lê Lai cứu chúa, chiếc xe lại lao vút đi. Về đến Cần Thơ, qua bọn chỉ điểm, cảnh sát mới vỡ lẽ đây là Ba Triêm chứ không phải Ba Hương, mật danh của ông Lâm Văn Thê, bí thư Tỉnh ủy Rạch Giá. Đối phương tặc lưỡi: “Cá lớn cá bé gì cũng cá, không Ba Hương thì Ba Triêm cũng được!”

Tôi nhớ khu tạm giam ở Xẻo Rô có rất đông người. Hôm nào em gái út hai tuổi của tôi cũng khóc thét không chịu vào thăm ba, vì nó sợ mấy gã cai tù. Đêm cuối cùng chia tay, một viên cai đã chỉ đúng vào tôi: “Cho con nhỏ nầy ngủ với ba nó một đêm đi!” Thế là tôi được giữ lại và đưa vào một căn phòng lót gạch, có một chiếc mùng cũ và có hình ảnh ba tôi ngồi dậy rất nhiều lần trong đêm để đập muỗi cho tôi. Đường về thăm thẳm, những nhịp chèo mất hết hy vọng trong đêm, bọn nhỏ chúng tôi nhìn nước mặn nhảy nhót lân tinh để giải khuây trong im lặng não nùng, vì nếu có cất tiếng thì má tôi và chị Hai chị Ba tôi sẽ khóc òa.

Tôi nhớ một lần, khi bom đạn còn chưa làm bình địa vườn nhà, tình cờ tôi tìm thấy trong mớ đồ lưu niệm cô tôi vẫn chôn trong một cái thùng những kỷ vật liên quan đến những ngày Chí Hòa của ba tôi. Đó là một rẻo báo cắt từ tờ báo in ở Sài Gòn đưa tin phiên tòa xử ba tôi, tên tù Lê Văn Triêm về tội làm chính trị, án 20 năm khổ sai Côn Đảo. Khổ sai ư, trong trí óc tôi khổ sai là tuyệt đường, là suốt ngày ôm càng cối xay như trong sách báo ấy. Khổ sai Côn Đảo là không có ngày về trừ phi vượt ngục được bằng bè cây. Cùng với mẩu báo là một chiếc ví thắt bằng dây cườm rất khéo dành tặng má tôi, những người tù không có gì cho người thân ngoài th thời gian dằng dặc. Nhưng chiến tranh đã đốt phá tất cả, rẻo báo, kỷ vật và tất cả giấy tờ sổ sách ghi chép của nhà tôi. Không còn một dòng bút tích nào của ba tôi nữa, may sao người con gái thay ông đi tập kết, người chị thứ Tư của tôi đã giữ được một bức ảnh hồi ông ở Chắc Băng và một cuốn sổ ghi những điều ông dặn dò khi đưa chị xuống tàu ra Bắc.

Một buổi sáng thàng Bảy ngâu dầm sùi sụt, một hung tin đã giáng xuống nhà tôi: Ba tôi đã chết trong xà lim biệt cố vì đã làm lộ tờ giấy gì đó của chi bộ nhà tù. Ông mới thụ án được có 6 năm, chưa đầy 1 phần 3 thời gian khổ sai. Ông nội tôi gục ngã luôn, chỉ bảy tháng sau thì ông qua đời. Bà nội tôi khóc khô vì nước mắt cạn, má tôi bất động thường hơn, lâu hơn, cô tôi khóc lăn khóc lộn hết ngày dài lại đêm thâu, tất cả đã bị cuốn phăng, không còn một bóng mát đàn ông nào trong tâm tưởng cũng như trên mái nhà của chúng tôi nữa, vĩnh viễn. Anh tôi, con trai một của ba tôi được bí thư Lâm Văn Thê đem vào Khu, giấc mơ kiến trúc sư không thành, một lần tôi thấy anh khóc ba tôi trong ngày giỗ, so với chúng tôi, tiếng khóc ngắn và hộc lên như bị bóp cổ cho thấy hết tâm trạng của một người con trai mồ côi cha là như thế nào, nó nặng tựa ngàn cân, vì vậy, nó không thay đổi.

Chúng tôi lớn lên vững vàng trong nước mắt như vậy. Đứa con nào cũng già trước tuổi và có một khoảng trống vô biên trong lòng. Người chị cả và đứa em út hai tuổi ở Xẻo Rô ngày ấy bám lại vườn nhà với má với cô và thành vợ liệt sĩ, hai liệt sĩ cùng với bức ảnh ba tôi trên bàn thờ, tối nào nhà cũng nghi ngút khói nhang. Mấy đứa con “khúc giữa” của ông ai cũng nguyên vẹn khi ra khỏi chiến tranh, chắc là vì đã có ông đóng góp máu xương cho. Ngay sau 1975 anh tôi ra Côn Đảo, Ban di tích chưa hoàn thành xong sơ đồ mộ chí, ở những nơi bạn tù của ba tôi chỉ dẫn thì nước và cỏ ống lút đầu, ba tôi có mộ không trong cánh rừng mồ mả của Hàng Dương? Chúng tôi luôn có ba ở trong lòng nhưng không có nấm mộ của ba thì thật ngoài sức tưởng tượng của chúng tôi.

Mãi đến khi kinh tế nước nhà khấm khá, đại gia đình chúng tôi mới tổ chức nổi một chuyến gồm bầu đoàn thê tử ra đảo để xin một nắm đất Hàng Dương đem về vườn nhà. Tôi dám chắc không đâu trên đất nước này tiếng gió tiếng lá nghe u hoài như ở Côn Đảo. Ba khu mộ của ba thời kỳ chiến tranh, khu tiền khởi nghĩa mộ không tên nhiều vô kể, khu chống Pháp nổi bật bởi phần mộ linh thiêng của chị Võ Thị Sáu và ba tôi lạc trong khu C của thời chống Mỹ. Tôi đi quanh quẩn giữa những nấm mồ khang trang bằng đá núi, được nhân viên Ban di tích dọn cỏ mỗi ngày. Chân tôi dần dừ mãi bên trụ bia hoa cương đề Liệt sĩ Lê Văn Thêm, tôi thấy bồn chồn một niềm tin rằng những chỉ dẫn của bạn tù cho gia đình tôi đã không lầm. Tôi chạy ù vào văn phòng Ban di tích, những anh chị em vi tính đã làm hiện lên tên tuổi cùng ngày mất của ba tôi trong khi bia mộ đã khắc nhầm Lê Văn Triêm thành Lê Văn Thêm. Không gì sánh nổi với giây phút ấy. Cả nhà chúng tôi đã đoàn viên, kẻ mất người còn nhưng đã đoàn viên giữa hương hồn của hàng vạn người ở Hàng Dương. Bên dưới tấm mộ bia đồng loạt bằng hoa cương của sau này, chúng tôi tìm thấy một tấm mộ đá rất thấp tạc số tù của ba tôi, tên họ của ông bà nội tôi, bản quán Cao Lãnh của dòng họ tôi và dĩ nhiên, ngày âm cùng với ngày dương của liệt sĩ. Những người bạn tù của ông đã chu đáo và vội vã khắc nguệch ngoạc lên đó không thiếu một thông tin gì. Ba tôi đã được chăm sóc âm thầm để chúng tôi có lại ông như vậy, hôm nay.

Một người cha là như thế nào, đứa con nào cũng thường trực câu hỏi ấy khi đi tìm chân dung hoặc đầy đủ hoặc thoáng qua của cha mình. Bởi người cha là nóc nhà, nhà chúng tôi có tới hai lớp, lớp ngoài của ông nội tôi và bên trong là ba tôi, càng ngày tôi càng nghiệm thấy sự vững chắc đó trong tư chất, cốt cách và sự nghiệp của chính mình. Ba tôi cho tất cả anh chị em tôi gene văn hay chữ tốt nhưng tôi là đứa thừa hưởng rõ rệt nhất. Và hơn thế, trên tất cả là tiết tháo, lẽ sống và sự xả thân với cuộc đời này. Không ít lần tôi tự hỏi, nếu ba tôi còn sống để thành người thành đạt cùng thời với những bạn bè rường cột quốc gia của ông thì chúng tôi sẽ ra sao, chắc sẽ là những cô cậu hãnh hỗ và giàu sụ. Hay là ông sẽ rút lui sớm, đi ẩn tại vườn nhà và mỉm cười độ lượng với nhiểu nhương? Hay ông sẽ uất ức mà chết vì nhìn đâu cũng thấy dân chúng bị lãng quên và bị phản bội? Không biết nữa, chỉ biết là ba tôi như vậy, một tấm gương để tôi tự hào và để tôi phải làm cho ông được tự hào.

                                                                                                    D.N      

 
Comments