KÝ ỨC


CHUYỆN LÁ CỜ TỔ QUỐC BÊN BỜ VĨ TUYẾN 17

đăng 23:30 25-07-2009 bởi PHÚC DƯƠNG

Hiệp định Giơnevơ ký kết năm 1954, con sông Bến Hải - vĩ tuyến 17 ở Quảng Trị tạm thời trở thành ranh giới chia cắt đất nước. Theo qui định của Hiệp định Giơnevơ, tất cả các đồn công an giới tuyến đều được treo cờ Tổ quốc lên hàng ngày và lá cờ đỏ sao vàng Tổ quốc là biểu tượng thiêng liêng nhất. Chuyện về cột cờ và lá cờ là cuộc đấu tranh chính trị căng thẳng và không kém phần gian nguy giữa ta và địch suốt mấy chục năm trời giữa hai đầu cầu giới tuyến.

  • Cuộc chiến dựng cột cờ hai bên bờ Hiền Lương

Lần theo nguồn sử liệu, trong những năm từ 1954 - 1956 các chiến sĩ của ta làm cột cờ bằng một cây phi lao có chiều cao 12m và treo cờ Tổ quốc khổ 3,2m x 4,8m. Khi lá cờ của ta tung bay làm nức lòng của đồng bào hai miền thì Pháp cắm cờ tam tài lên nóc lô cốt Xuân Hòa ở bờ Nam cao 15m.

Theo yêu cầu của đồng bào giới tuyến “Cờ ta phải cao hơn, đẹp hơn cờ địch” nên các chiến sĩ an ninh vũ trang lặn lội vào rừng sâu tìm được cây gỗ cao 18m về thay cột cờ cũ, trên đỉnh treo lá cờ 24m2 ngày ngày những người dân dọc sông Bến Hải luôn luôn mắt dõi theo về lá cờ Tổ quốc và đặt trọn niềm tin về ngày mai chiến thắng.

Hốt hoảng trước cảnh đồng bào miền Nam thường tổ chức chào cờ Tổ quốc khi đi làm đồng hoặc lên nương rẫy, ngay sau đó Ngô Đình Diệm cho dựng trụ cờ bằng xi măng cốt thép cao 30m tại bờ Nam và trên đỉnh cho treo một lá cờ ba sọc cỡ lớn, có hệ thống đèn nêông nhấp nháy đủ màu để thách đố. Chúng còn cho loa chiến tranh tâm lý chõ sang bờ Bắc khiêu khích suốt đêm ngày. Được Trung ương giúp đỡ vào tháng 7-1959 các chiến sĩ công an vũ trang dựng cột cờ bằng ống thép cao 34,5m. Trên đỉnh gắn một ngôi sao vàng 5 cánh bằng đồng có đường kính 1,2m.

Trên 5 đỉnh ngôi sao đều gắn những chùm bóng điện loại 500w (15 bóng) với lá cờ 108m2. Khi Mỹ-ngụy tiếp tục cho làm lại cột cờ của chúng cao 35m, chính phủ đã điều một đơn vị xây dựng chở vật liệu từ Hà Nội vào xây dựng lại cột cờ cao 38,6m, treo lá cờ đại 134m2, nặng 15kg. Lá cờ đỏ sao vàng như sự hiện diện thường xuyên của miền Bắc XHCN ngay sát bên cạnh miền Nam đang kiên cường đấu tranh với Mỹ - Diệm. 

  • Người chiến sĩ may, vá cờ Tổ quốc

Ông Nguyễn Đức Lãng sinh năm 1940 ở Cam Lộ - Quảng Trị, năm tuổi 15 cũng là lúc dòng sông Bến Hải quê ông trở thành giới tuyến tạm thời cắt chia nước non. Ông quyết một lòng xin cha mẹ để hòa vào dòng người làng quê tòng quân lên đường theo kháng chiến. Vượt tuyến ra Bắc rồi 4 năm sau ông được phiên về Công an vũ trang Vĩnh Linh, công tác ở Ban hậu cần. Lúc này nhiệm vụ cấp trên giao cho ông là đi nhận cờ Tổ quốc ở Quân khu 4 về cho đồng đội treo lên trên cột cờ Hiền Lương.

Lá cờ treo trên độ cao 42m với khổ cờ rất lớn 96m2 nên rất dễ bị gió mưa làm rách và cứ vài ngày lại thay lá khác. Để có cờ treo liên tục 24/24 từ năm 1959 đến 1961 ông Lãng thường xuyên một mình đi nhận cờ. Ông Lãng kể, mỗi lần kéo cờ lên là phải cuốn thành một hình khối, nếu không một tiểu đội cũng không thể kéo nổi bởi lá cờ khi thấm nước mưa nặng gần cả trăm ký. 

Khi cuộc chiến dựng cột cờ của ta đã chiến thắng, ông nghĩ phải sản xuất cờ tại chỗ nên đề nghị cấp trên cấp cho ông một chiếc máy may và các vật dụng khác. Đáp ứng nguyện vọng ấy ông được cấp ngay một chiếc máy may. Khi trở về đơn vị ông bắt đầu tự mình mày mò ngồi may cờ. Sau hơn một tuần lễ thức trắng đêm nghiên cứu, cắt, vẽ, xóa đi làm lại, cuối cùng ông đã may được lá cờ.

“Ngày may được lá cờ đầu tiên, tui sướng lắm, đồng đội tui mừng đến chảy nước mắt và từ đó nghề may cờ đã theo suốt cuộc đời tui trong kháng chiến” - ông Lãng cho biết. Vào mùa gió Lào (gió Tây-Nam) và gió mùa Đông-Bắc, cờ luôn bị gió, mưa đánh rách, có ngày phải thay 2 lá, nên công việc may, vá cờ một mình ông phải làm suốt ngày đêm mới đảm bảo. 

Trao đổi với chúng tôi, anh Nguyễn Bình - Phó Giám đốc Sở Văn hóa-Thông tin Quảng Trị cho hay, dự án tôn tạo cụm di tích đôi bờ Hiền Lương đã được Chính phủ phê duyệt, một số hạng mục thi công đã hoàn thành như cầu Hiền Lương, nhà truyền thống, cổng chào phía bờ Bắc...

Riêng cột cờ, lá cờ ngày ấy là một trong những hạng mục trọng điểm phía bờ Bắc sẽ vừa phục hồi, vừa tôn vinh gọi là kỳ đài cao trên 40m (gồm hai phần: đài và kỳ), dự kiến sẽ hoàn thành trước ngày 30-4-2005 để kịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

HỮU HOÀNG (SGGP)

GẶP NGƯỜI CẮM CỜ ĐỎ SAO VÀNG LÊN NÓC PHỦ KHÂM SAI

đăng 23:21 25-07-2009 bởi PHÚC DƯƠNG   [ đã cập nhật 00:28 26-07-2009 ]

Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc toà nhà Phủ khâm sai lúc đó là niềm kiêu hãnh, là sự cổ vũ vô cùng lớn lao cho khí thế đấu tranh của hàng vạn người dân Hà Nội.
Ông tên thật là Nguyễn Hữu Hậu, tên thường gọi là Quang Ngọc, năm nay 80 tuổi, hiện ở tại quận Cầu Giấy, Hà Nội. 63 năm trước ông là người vinh dự được giao nhiệm vụ cắm cờ đỏ sao vàng lên nóc toà nhà Phủ khâm sai (Hà Nội) sáng ngày 19/8/1945. Nhớ lại những giây phút lịch sử ấy, ông kể:

Hôm ấy (19/8/1945) là ngày Chủ nhật, từ mờ sáng, cả Hà Nội sục sôi khí thế của ngày đấu tranh quyết định – ngày Tổng khởi nghĩa. Cờ treo rợp trời trước cửa các gia đình, nhuộm đỏ các khu phố. Các tầng lớp nhân dân cả nội ngoại thành, từ công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên, công chức, tiểu thương… cùng các lực lượng tự vệ vũ trang như những dòng thác nước từ các ngả đường đổ dồn về Quảng trường Nhà hát Lớn. Hướng nào cũng đông nghịt người, nhưng hàng ngũ rất chỉnh tề, khí thế lẫm liệt, ai cũng tỏ rõ tinh thần ủng hộ Việt Minh.

Tôi thấy chưa bao giờ Hà Nội được chứng kiến những giây phút huy hoàng đến thế. Đứng dưới lá cờ đỏ sao vàng, mọi người cùng hát vang bài “Tiến quân ca”.

Cuộc mít tinh bắt đầu. Trên lễ đài, thanh niên tự vệ bồng súng, cầm gươm đứng gác nghiêm chỉnh. Hàng vạn mái đầu cúi xuống dành một phút mặc niệm các chiến sĩ cách mạng đã hy sinh vì nền độc lập của Tổ Quốc. Tiếp sau, ba phát súng bắn lên trời báo hiệu lễ chào cờ bắt đầu. Nhạc “tiến quân ca” hùng tráng nổi lên, lá cờ đỏ sao vàng to lớn từ từ kéo lên cột cờ dựng trước cửa Nhà hát Lớn. Ai ai cũng nắm chặt bàn tay phải giơ lên ngang tai, hướng về lá cờ tươi thắm, nét mặt đầy tin tưởng.

Từ trên tầng cao của Nhà hát Lớn, hàng loạt truyền đơn bay xuống rải rộng ra như đàn bướm trắng khổng lồ, tiếng vỗ tay hoan hô của quần chúng nhân dân nổi lên ầm ầm như sấm dậy. Sau bản hiệu triệu khởi nghĩa của vị đại biểu Mặt trận Việt Minh, cả biển người lại vỗ tay vang dội và hô to nhiều khẩu hiệu lớn.

Gần trưa, biển người chia thành hai hướng: Một hướng cuồn cuộn tiến đi chiếm Phủ khâm sai, Toà thị chính, Sở kho bạc… một dòng ào ạt cuộn về lối Hàng Bài chiếm trại Bảo an binh và Ty liêm phóng.

Lúc ấy, khí thế cách mạng sục sôi lắm. Tôi cũng nhanh chóng hoà mình vào dòng người tiến về Phủ khâm sai. Lúc đoàn người chúng tôi tiến đến, hai cánh cổng sắt ở đây đóng chặt, tất cả số lính canh bên trong hoảng sợ bỏ chạy hỗn loạn. Cả khoảng sân phía trước và hai bên tiền sảnh không thấy một ai. Chẳng kịp mở cổng, một tốp tự vệ chiến đấu dẫn đầu đoàn quân cùng mọi người ào ạt trèo qua hàng rào sắt. Các anh nhanh nhẹn tước ngay súng của bọn lính canh để chúng tôi xông vào từng phòng trong phủ.

Hầu hết các phòng đều không có người, bàn ghế đồ đạc lộn xộn. Tôi cùng ông Nho xách súng chạy thẳng lên tầng hai, đang lúc ngó quanh tìm lối đi thông sang các phòng bên cạnh, thì bất ngờ có một người chạy lao tới trao cho tôi lá cờ đỏ sao vàng được gấp vuông vức cẩn thận, rồi nói rất to và nhanh: “Treo ngay cờ lên”. Tôi cũng chẳng kịp nhận ra đó là ai, nhưng đoán chắc là người chỉ huy, vì nom anh rất nhanh nhẹn, xông xáo, luôn miệng hướng dẫn mọi người. Thế là một tay cầm cờ, một tay xách khẩu súng cứ lần theo lối cầu thang, tôi chạy ngược lên sân thượng của toà nhà.

Lên tới nơi nhưng một mình lúng túng quá, loay hoay một lúc tôi cũng buộc được lá cờ vào dây rồi kéo lên, giữa tiếng hò reo vang dậy của đoàn người ở dưới lòng đường. Trong màu nắng vàng nhạt của mùa thu Tháng Tám, lại có gió thổi nhẹ, lá cờ cứ xuôi theo chiều gió phần phật tung bay. Đứng trên nóc toà nhà cao tầng nhìn xuống, tôi được chứng kiến cảnh hàng nghìn người đang đứng chật kín cả một đoạn đường, ai cũng giơ tay vẫy vẫy, miệng hô vang khẩu hiệu “Đả đảo bọn đế quốc”, “Việt Nam độc lập muôn năm”, “Ủng hộ Mặt trận Việt Minh”…



Khi ấy được thực hiện một nhiệm vụ này, lại ở vào thời khắc lịch sử quan trọng, tôi vô cùng sung sướng và hạnh phúc. Nhưng thú thực lúc ấy tôi cũng chưa hiểu hết ý nghĩa to lớn của việc mình làm. Sau này ngẫm lại tôi mới thấm thía rằng: Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc toà nhà Phủ khâm sai lúc đó là niềm kiêu hãnh, là sự cổ vũ vô cùng lớn lao cho khí thế đấu tranh của hàng vạn người dân Hà Nội. Nó minh chứng cho sức mạnh đoàn kết của dân tộc ta triệu người như một, nhất tề đứng lên chiến đấu và chiến thắng. Bắt đầu từ đây, một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam ta, của cách mạng nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, đã ra đời.

… Cuộc đời tôi lạ lắm, nhiều việc cứ diễn ra trùng hợp với lịch sử làm tôi không thể nào quên. Một tháng sau (9/1945), tôi xung phong tòng quân, được trên biên chế cùng 31 thanh niên Thủ đô vào Chi đội 3 đoàn quân Nam tiến. Đây là Chi hội Nam tiến đầu tiên chi viện cho chiến trường miền Nam. Năm 1950, do yêu cầu của trên, tôi lại được điều sang thành lập lực lượng Thanh niên xung phong Trung ương đầu tiên theo chỉ thị của Bác Hồ. Cứ mỗi độ thu về là những kỷ niệm lịch sử ấy lại trở về nguyên vẹn trong tâm trí tôi./.
BTK-theo VOV

1-2 of 2