READING ECONOMIC ARTICLES


PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN CÁC VẤN ĐỀ KINH TẾ

 


TRANG CHỦ

GIỚI THIỆU 

 FORUMS


Tin tức

English News

Trường Đại học

Báo Kinh tế

 

Các tổ chức KT


Học bổng


Mua và bán


Việc làm cho SV

 

Giải trí

Email Links


Download:


 

Kinh tế học đổi mới - học thuyết chi phối chính sách KH&CN trong thế kỷ 21


Nguyễn Mạnh Quân

Vai trò của KH&CN đối với tăng trưởng kinh tế đã được phản ánh qua quá trình tiến hóa của các học thuyết kinh tế chi phối chính sách kinh tế, chính sách KH&CN ở những nền kinh tế lớn trên thế giới, đặc biệt là ở Hoa kỳ nửa cuối thế kỷ 20. Đó là sự nổi lên của các học thuyết Kinh tế học tân cổ điển, Kinh tế học Keynes mới và gần đây nhất là sự xuất hiện của Kinh tế học đổi mới (Innovation Economics).
Bài viết này điểm lại những đặc điểm chủ yếu của các học thuyết kinh tế nêu trên đồng thời chỉ ra những kinh nghiệm cần lưu ý đối với Việt Nam trong việc vận dụng cách tiếp cận của Kinh tế học đổi mới để bổ sung cho các chính sách kinh tế vĩ mô đã và đang được thực thi ở nước ta những năm gần đây, mà về cơ bản vẫn mang “dáng dấp” các học thuyết kinh tế Tân cổ điển và Keynes mới và còn rất xa lạ cách tiếp cận của với Kinh tế học đổi mới.

1. Kinh tế học tân cổ điển

Học thuyết Kinh tế học tân cổ điển (Neo-Classical), bao gồm cả Tân cổ điển bảo thủ (Conservative) và Tân cổ điển tự do (Liberal) quan niệm động lực cho tăng trưởng kinh tế là vốn và lao động. Thị trường như một “bàn tay vô hình” thông qua cân bằng cung cầu đứng ra điều tiết và quyết định việc xã hội sử dụng các nguồn vốn và lao động khan hiếm để sản xuất và phân phối sản phẩm cho các đối tượng khác nhau. KH&CN được quan niệm chỉ là yếu tố ngoại sinh, nằm bên ngoài quá trình sản xuất, không phải là biến số chính, trực tiếp tạo ra tăng trưởng kinh tế như vốn đầu tư và lao động.

“Mỗi học thuyết kinh tế đều có “kinh thánh” của nó. Và kinh thánh của Kinh tế học tân cổ điển là tác phẩm kinh điển của Adam Smith viết năm 1776 nhan đề Một khảo cứu về Tự nhiên và nguồn gốc của tài sản quốc gia. Mặc dù Kinh tế học tân cổ điển, học thuyết kinh tế vẫn còn đeo bám các nhà kinh tế ở Washington cho đến tận hôm nay, đã đổi mới rất nhiều kể từ khi Adam Smith viết quyển sách đó, nhưng cả hai trường phái bảo thủ và tự do của học thuyết này về cơ bản vẫn dựa trên các quan điểm, nguyên tắc mà Adam Smith đã vạch ra” [1, p.4]

Học thuyết kinh tế học tân cổ điển mà Adam Smith đặt nên tảng được dựa trên năm nguyên tắc chủ yếu sau:

Thứ nhất, tích lũy vốn là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chính nhờ công trình xác lập mối liên hệ trực tiếp, vai trò của vốn và lao động đối với tăng trưởng kinh tế mà nhà kinh tế học của MIT, Robert Solow đã nhận được giải thưởng Nobel. Trong hàm sản xuất của Solow, KH&CN không phải là biến số nội sinh, mà thể hiện một cách ngoại sinh thông qua vai trò của tiến bộ kỹ thuật được cho là có đóng góp thông qua phần dư còn lại không thể giải thích được bằng các yếu tố vốn và lao động. Xuất phát từ quan niệm về vai trò động lực tăng trưởng của yếu tố vốn đầu tư, các chính sách kinh tế tân cổ điển đều tập trung cho mục tiêu tiết kiệm chi tiêu cá nhân và chi tiêu công để tạo điều kiện tăng vốn đầu tư. Vốn đầu tư vào cơ sở vật chất và đôi khi đầu tư cho con người được tin là yếu tố duy nhất quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế. Các nhà kinh tế học tân cổ điển nói chung “từ chối, hoặc giảm thiểu tối đa vai trò của công nghệ, thậm chí không tin vào vai trò của tiến bộ công nghệ” [1,p.5]. Hoạt động nghiên cứu và phát triển về cơ bản không phải là đối tượng chính của chính sách vì được coi là yếu tố ngoại sinh nằm bên ngoài cỗ máy tăng trưởng kinh tế.

Thứ hai, tăng trưởng kinh tế đạt được là nhờ tối đa hóa hiệu quả phân bổ nguồn lực. Vốn đầu tư, lao động, hàng hóa và dịch vụ được phân bổ và tiêu dùng theo giá cả thị trường sẽ có tổng lợi ích mang lại là lớn nhất khi không có các quy định, các chính sách kinh tế làm sai lệch, làm méo mó giá cả như là tín hiệu thị trường đưa ra. Các chính sách điều chỉnh về thuế khóa, chi tiêu công hay chính sách KH&CN không phản ánh trung thực giá cả thị trường, không bảo đảm hiệu quả phân bổ nguồn lực được quan niệm là cản trở tăng trưởng.

Thứ ba, tâm điểm của nền kinh tế là thị trường và giá cả. Các nhà kinh tế học tân cổ điển có niềm tin gần như tuyệt đối vào vai trò của giá cả và thị trường tự nhiên dẫn dắt nền kinh tế đạt được hiệu quả tối ưu như trong toán học và lý tưởng về xã hội mà không cần đến các chính sách can thiệp của nhà nước. Đây cũng là một trong những lý do giải thích tại sao các mô hình toán học thường hay được sử dụng trong các phân tích kinh tế học kiểu tân cổ điển. Văn hóa, tâm lý xã hội, KH&CN và đặc biệt là các thiết chế (bao gồm cả tổ chức và chính sách) không thể thay thế được thị trường và giá cả trong điều tiết nhịp độ và tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Thứ tư, nền kinh tế có xu hướng cân bằng. Theo nguyên tắc này, trạng thái cân bằng trong nền kinh tế là khuôn khổ chung cho các biến đổi về cơ cấu và được cho là kết cục tất yếu của các quan hệ cung cầu, của các hành vi sản xuất, phân phối và tiêu dùng dựa trên giá cả thị trường của các doanh nghiệp và người tiêu dùng. Vai trò của các chính sách kinh tế là làm sao loại bỏ hoặc giảm thiểu các cản trở nền kinh tế đạt tới trạng thái cân bằng, đảm bảo cho giá cả phản ánh đúng giá thành sản xuất. Trên quan điểm này, các chính sách sử dụng vốn và lao động đầu tư cho các dự án không mang lại hiệu quả kinh tế trong một không gian, thời gian nhất định được cho là làm nền kinh tế mất cân bằng, ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô (trong đó có đầu tư cho KH&CN) và được cho là không có lý do để được ưu tiên thực hiện.

Thứ năm, các cá nhân và công ty có thể tối đa hóa lợi nhuận và phản ứng được với các kích thích kinh tế một cách hợp lý. Theoquan điểm của Kinh tế học tân cổ điển, các cá nhân và công ty trong khi theo đuổi lợi ích của riêng mình thì cũng đồng thời do sự dẫn dắt của “bàn tay vô hình” làm thỏa mãn những lợi ích công. Sở dĩ như vậy là do “con người thay đổi hành vi của họ khi các khuyến khích thay đổi, đặc biệt là thuế”. Một trong những công cụ đắc lực của chính sách kinh tế tân cổ điển tiếp cận từ phía cung là giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế đánh vào tiết kiệm và thuế đầu tư đánh vào tầng lớp có thu nhập cao trong xã hội.

2. Học thuyết kinh tế Keynes mới

Kinh tế học Keynes ra đời trong thời kỳ Đại khủng hoảng kinh tế thế giới đầu những năm 30 thế kỷ 20 với tác phẩm kinh điển của nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes Lý thuyết tổng quát về việc làm, lợi tức và tiền tệ xuất bản năm 1936. Khác với Kinh tế học tân cổ điển, Kinh tế học Keynes nhấn mạnh vai trò can thiệp, điều chỉnh kinh tế của các chính phủ thông qua tăng chi tiêu công để kích thích nhu cầu kinh tế và chính sách bảo đảm việc làm đầy đủ cho công nhân nhằm khắc phục những khuyết tật của thị trường trong Kinh tế học tân cổ điển và tăng cường quản lý để duy trì các chu kỳ kinh doanh.

“Kinh tế học Keynes được chấp nhận và sử dụng rộng rãi sau Chiến tranh thế giới thứ hai và là học thuyết kinh tế phổ biến ở Mỹ cho đến những năm 1970…Khi khủng hoảng kinh tế đầu những năm 1970 xảy ra phái bảo thủ muốn thay thế tư duy kinh tế của Keynes bằng học thuyết kinh tế Tân cổ điển, nhiều người thuộc phe tự do lại vẫn muốn duy trì học thuyết kinh tế của Keynes. ..Một nhóm lớn các nhà kinh tế tự do tiếp tục dựa trên các tư tưởng của Keynes để thích ứng với điều kiện kinh tế mới..” [1,p.10]

Học thuyết kinh tế Keynes được cải biến cho phù hợp với bối cảnh kinh tế những năm 1970 sau khủng hoảng kinh tế thế giới được gọi là Học thuyết Keynes mới thịnh hành ở Mỹ cho đến ngày nay mà đại diện tiêu biểu là Viện Chính sách kinh tế, Trung tâm Nghiên cứu chính sách và kinh tế, Viện Kinh tế Levy, Trung tâm tiến bộ Mỹ,.. Kinh tế học Keynes mới dựa trên 3 nguyên tắc chủ yếu:

Thứ nhất, nhu cầu là động lực tăng trưởng kinh tế. Học thuyết kinh tế Keynes mới cho rằng chính nhu cầu hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp, chính phủ và người tiêu dùng tạo ra động lực cho tăng trưởng kinh tế. Tổng các nhu cầu này tăng lên, đặc biệt là tăng chi tiêu công của chính phủ sẽ là một kích thích kinh tế gia tăng đầu tư xã hội. Để thúc đẩy tăng trưởng Chính phủ cần chủ động tăng chi tiêu công, tăng lương cho người lao động để họ có thêm thu nhập, kích thích tiêu dùng nhiều hơn tạo ra thu nhập lớn hơn cho nền kinh tế.

Thứ hai, phân phối công bằng của cải có vai trò trọng yếu trong tăng trưởng kinh tế. Trong điều kiện và hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nhất là vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế, các nhà kinh tế học Keynes mới cho rằng có rất ít khả năng và rất ít điều Chính phủ có thể làm được để tăng năng suất, thành thử việc phân phối của cải một cách công bằng trở nên quan trọng. Chính sách cắt giảm thuế cho tầng lớp thu nhập thấp trong xã hội để họ có thể chi tiêu nhiều hơn còn quan trọng hơn và có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hơn là đưa ra các chính sách thuế có lợi cho đổi mới công nghệ hoặc cấp tín dụng ưu đãi cho hoạt động R&D.

Thứ ba, quản lý chu kỳ kinh doanh ngắn hạn là mục đích trước tiên. Thay vì chú trọng các mục tiêu dài hạn, học thuyết kinh tế học Keynes mới chủ trương duy trì cân bằng kinh tế ngắn hạn miễn sao nền kinh tế không rơi vào khủng hoảng, cho dù chỉ là trong một vài năm trước mắt. Đây là ưu tiên hàng đầu của các chính sách kinh tế kiểu Keynes mới. Tư duy kinh tế ngắn hạn này không khuyến khích và dành ưu tiên cao cho các đầu tư chỉ phát huy tác dụng trong dài hạn như đổi mới công nghệ, giáo dục đào tạo.

3. Kinh tế học đổi mới

“Nếu Adam Smith là vị thánh của Kinh tế học tân cổ điển và Keynes là của Kinh tế học Keynes mới thì Joseph Schumpeter chính là cha đẻ của Kinh tế học đổi mới. Kinh thánh của Kinh tế học đổi mới phải là tác phẩm kinh điển ông viết năm 1942 nhan đề: Chủ nghĩa tư bản, Chủ nghĩa xã hội và Nền dân chủ “[1, p.12]

Đối với J.Schumpeter, không chỉ vốn và lao động, hay chi tiêu chính phủ mà cụ thể hơn chính các thiết chế tổ chức, các nhà kinh doanh và đổi mới công nghệ mới chính là trái tim của nền kinh tế và là động lực cho tăng trưởng. Ông lý giải nguồn gốc của cải mà chủ nghĩa tư bản tạo ra như sau:

“Điểm thiết yếu cần nắm vững là khi đề cập đến chủ nghĩa tư bản là chúng ta tiếp cận một quá trình tiến hóa…Cái xung lực cơ bản thiết lập và bảo đảm cho cỗ máy của chủ nghĩa tư bản vận hành được là do sự xuất hiện của những hàng hóa mới, phương pháp sản xuất mới, phương tiện vận tải mới, những thị trường mới và những hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp mới mà các xí nghiệp tư bản tạo ra” [1, p.14]

Chính do sự thống trị của Kinh tế học Keynes trong suốt hơn 40 năm vừa qua mà quan điểm của Kinh tế học đổi mới chưa bao giờ thực sự được đề cao cho đến những năm gần đây. Và thật sự thì “chỉ trong vòng 15 năm trở lại đây, lý thuyết và mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào đổi mới bắt nguồn từ lý thuyết của Schumpeter mới xuất hiện” [1, p.12]. “Học thuyết kinh tế mới này được biết đến với tên gọi “Kinh tế học đổi mới” hoặc một số tên gọi khác như: “Kinh tế học thể chế mới”, “Kinh tế học tăng trưởng mới”, “Lý thuyết tăng trưởng nội sinh”, “Kinh tế học tiến hóa” và “Kinh tế học Schumpeter mới” đã cung cấp một khuôn khổ lý thuyết giúp lý giải và thực hiện các chính sách thúc đẩy sự hình thành và phát triển của nền kinh tế dựa trên tri thức hôm nay [1, p.14; 2, p.19]. Có 6 nguyên tắc cơ bản cấu thành nên Kinh tế học đổi mới.

Thứ nhất, đổi mới là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Kinh tế học đổi mới không giống với Học thuyết kinh tế tân cổ điển và Kinh tế học Keynes mới thịnh hành tại Hoa Kỳ cho đến những năn gần đây vốn coi tri thức và công nghệ là những quá trình xảy ra bên ngoài hoạt động kinh tế. Động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế tri thức hôm nay,theo quan niệm của Kinh tế học đổi mới không phải là tích lũy vốn như Kinh tế học tân cổ điển quan niệm mà là đổi mới.

Theo quan điểm của Kinh tế học đổi mới, nếu các chính sách khuyến khích đổi mới của chính phủ có làm sai lệch tín hiệu giá cả thị trường và có trước mắt gây một tổn thất nào đó cho nền kinh tế thì cũng chấp nhận được vì hiệu quả phân phối không phải là yếu tố chủ yếu chi phối tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế dựa trên tri thức của Thế kỷ 21.
“Những thay đổi chủ yếu trong nền kinh tế Hoa Kỳ 15 năm qua đã diễn ra không phải bởi vì nền kinh tế tích lũy nhiều vốn hơn để đầu tư nhiều hơn vào các nhà máy thép lớn hơn, nhà máy sản xuất xe hơi lớn hơn mà nó đã diễn ra nhờ vào hoạt động đổi mới. Nền kinh tế Hoa Kỳ đã triển khai hàng loạt công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin và triển khai áp dụng công nghệ thông tin một cách rộng rãi trong toàn bộ nền kinh tế. Và mặc dù cần phải có vốn thì mới có những công nghệ này nhưng vốn đầu tư không phải là động lực mà chỉ là một thứ hàng hóa ngắn hạn” [1, p.14].


Hàng loạt các nghiên cứu kinh tế trong thời gian qua từ William Baumol, Brad Delong đến Richard Nelson đều đã chứng minh rằng “các biến số tân cổ điển (trong hàm sản xuất truyền thống - ám chỉ vốn và lao động) không giải thích được sự khác biệt về năng suất giữa các hãng”. Robert Hall và Charles Jones nghiên cứu 127 nước và đã phát hiện ra một số nước đã phát triển nhanh hơn: “Năm 1998, sản lượng một công nhân làm ra tại 5 nước có năng suất cao nhất lớn gấp 31,7 lần sản lượng một công nhân làm ra tại 5 nước có năng suất thấp nhất” và nguyên nhân của sự chênh lệch này “ xuất phát tương đối ít” từ những khác biệt về vốn vật chất và vốn con người”. Klenow và Rodriguez-Clare cũng phát hiện ra rằng: “hơn 90% của chênh lệch về mức tăng trưởng thu nhập một công nhân tạo ra bị quyết định bởi cách thức sử dụng vốn, trong khi khác biệt về vốn tài chính và vốn con người chỉ quyết định có 9%” [1, p.15]. Như vậy cách thức sử dụng vốn, phân bổ theo thời gian (ngắn hạn, dài hạn) và không gian (trong nước và ngoài nước), hình thái vốn (vốn thiết bị hay công nghệ, hay vốn con người) và tổ chức sử dụng vốn (các loại quỹ, chính sách tài trợ) thông qua các đổi mới về thiết chế chính sách mới là động lực tạo nên những khác biệt về tăng trưởng và năng suất giữa các quốc gia và các nền kinh tế.

Thứ hai, động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế là các hiệu quả sản xuất và hiệu quả thích nghi. Nếu như Kinh tế học tân cổ điển tập trung nghiên cứu tạo ra hiệu quả phân phân bổ nguồn lực theo đó “các xã hội sử dụng các tài nguyên khan hiếm như thế nào để sản xuất ra các hàng hóa có giá trị và phân phối chúng cho các cá nhân khác nhau trong xã hội” thì Kinh tế học đổi mới lại chủ yếu tìm cách nâng cao hiệu quả sản xuất thông qua việc “nghiên cứu các xã hội đã tạo ra những hình thái sản xuất mới, các sản phẩm mới và mô hình kinh doanh mới như thế nào để mở mang thêm của cải và nâng cao chất lượng cuộc sống” [1, p.15]. Theo quan điểm của Kinh tế học đổi mới, nếu các chính sách khuyến khích đổi mới của chính phủ có làm sai lệch tín hiệu giá cả thị trường và có trước mắt gây một tổn thất nào đó cho nền kinh tế thì cũng chấp nhận được vì hiệu quả phân phối không phải là yếu tố chủ yếu chi phối tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế dựa trên tri thức của Thế kỷ 21.

Hiệu quả thích nghi là một khái niệm quan trọng trong Kinh tế học đổi mới. Đó là khả năng của một nền kinh tế và một thể chế có thể tự đổi mới tùy theo thời gian thông qua áp dụng, đổi mới công nghệ để thích ứng với tình hình mới. Đó là các quy tắc quyết định một nền kinh tế tiến hóa theo thời gian, là mong muốn của cả một xã hội tìm kiếm tri thức mới, dám chịu rủi ro để tiến hành những đổi mới sáng tạo vượt lên trên các quy tắc cân bằng của kinh tế học tân cổ điển và tầm nhìn ngắn hạn của học thuyết Keynes mới. Đó cũng là các cấu trúc tổ chức mang tính đổi mới và sáng tạo giúp cho một xã hội tìm ra hình thái tồn tại phù hợp với những biến đổi của tình hình bên ngoài. Không phải chủ yếu là cách thức các cá nhân và doanh nghiệp một mình phản ứng với các tín hiệu giá cả thị trường mà quan trọng hơn là cách thức các doanh nghiệp và cá nhân tương tác với nhau và được hỗ trợ mạnh mẽ bởi các cơ sở nghiên cứu mạnh, các mạng lưới liên kết công-tư, các tiêu chuẩn chung sẽ quyết định hiệu quả sản xuất và phân phối trong xã hội thay vì chỉ có thị trường và giá cả.

Thứ ba, các thiết chế (tổ chức và chính sách) tìm kiếm và phổ biến tri thức là chìa khóa cho tăng trưởng. Thị trường và giá cả là yếu tố trung tâm trong hệ thống kinh tế theo quan điểm tân cổ điển. Những yếu tố này quy định và hướng dẫn các doanh nghiệp và người tiêu dùng hành động theo quy luật cung cầu qua đó tối đa hóa lợi nhuận để đóng góp chung cho tăng trưởng kinh tế. Trong quan điểm của Kinh tế học đổi mới, không có thị trường hoàn hảo, không có giá cả thị trường thuần túy duy nhất quyết định hành vi của các tác nhân kinh tế. Tri thức mới, công nghệ mới, luật pháp, các hình thức tổ chức, chính sách mới, văn hóa, chuẩn mực và các mạng lưới liên kết cùng với các lực lượng thị trường tham gia quyết định hiệu quả của một nền kinh tế. Thành thử, không chỉ phản ứng theo tín hiệu thị trường, các tác nhân kinh tế còn phải tìm kiếm và áp dụng tri thức mới, công nghệ mới, thích nghi với các văn hóa, thị hiếu tiêu dùng và chuẩn mực xã hội khác nhau thì mới có thể tồn tại và tạo ra các giá trị mới đóng góp cho tăng trưởng.

Thứ tư, nền kinh tế dựa trên tri thức có xu hướng biến động hơn là đi đến cân bằng. Cân bằng kinh tế, theo quan điểm của Kinh tế học đổi mới chỉ có trong một số thị trường và ở vào những thời điểm nhất định. Do vậy, duy trì trạng thái cân bằng và cân đối kinh tế vĩ mô không phải là mục tiêu tối thượng trong Kinh tế học đổi mới. Trái lại, học thuyết kinh tế này chấp nhận và khuyến khích tạo ra các “trạng thái phá hủy mang tính chất sáng tạo” (nói như J.Schumpeter về “Creative distruction”), các mất cân đối tạm thời, ngắn hạn thông qua các đột phá công nghệ mới, hình thức tổ chức mới, cấu trúc kinh tế mới, mạng lưới liên kết kiểu mới vừa cạnh tranh vừa hợp tác trong xã hội đẻ hướng tới các hiệu quả dài hạn.

Thứ năm, các cá nhân và doanh nghiệp không thể tối đa hóa lợi nhuận một cách hợp lý theo cung cầu thị trường. Nền kinh tế dựa trên tri thức theo quan niệm của Kinh tế học đổi mới luôn luôn bất định. Rất khó, thậm chí các cá nhân và doanh nghiệp không thể đưa ra các quyết định tối ưu trong điều kiện bất định mà chỉ dựa vào các tín hiệu do giá cả thị trường phát ra. Lại càng không có sự chắc chắn đảm bảo cho các cá nhân và công ty trong khi theo đuổi những lợi ích riêng cũng đồng thời bảo đảm lợi ích công. Sự gia tăng của giá cả năng lượng và những ngoại ứng tiêu cực (negative externalities) về môi trường ngày càng khác xa với những phản ánh của giá cả trên thị trường, làm cho giá cả thị trường không thể và không còn là tín hiệu đúng hoặc duy nhất đúng làm cơ sở cho hoạch định chính sách. Cũng cần phải thấy rằng, xét về các ngoại ứng tích cực (positive externalities) không thể tính hết những đóng góp mà mạng internet toàn cầu đã mang lại cho tăng trưởng và phát triển thế giới thập kỷ qua và trong tương lai nếu chỉ dựa vào giá cả thị trường.

4. So sánh các học thuyết kinh tế học Tân cổ điển, Keynes mới và Kinh tế học đổi mới

Có thể thấy, cho dù là dựa vào vai trò của thị trường hay của các chính phủ thì cả Kinh tế học Tân cổ điển hay Kinh tế học Keynes mới đều chủ yếu quan tâm đến các cân bằng thị trường, cân đối kinh tế vĩ mô và chính sách kinh tế vĩ mô. Khi thì áp dụng các hình thức can thiệp về chính sách tiền tệ, khi thì sử dụng chính sách tài khóa để cân bằng kinh tế vĩ mô, cân bằng cung cầu thị trường, khi thì từ phía cung, khi thì phía cầu. Những định đề đã ngự trị từ lâu về vai trò của thị trường, các cân bằng kinh tế vĩ mô và cân bằng cung cầu trong hai học thuyết kinh tế này một mặt dẫn đến hệ quả là không tính đến vai trò của đổi mới tri thức và công nghệ đã đóng góp trong tăng trưởng kinh tế thế giới giai đoạn từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến giữa những năm 1970. Mặt khác, những định đề đã trở thành giáo điều này cũng làm chậm trễ việc tạo điều kiện về thiết chế, chính sách để tích hợp và tập trung khai thác các giá trị mới tạo ra bởi sáng tạo và phổ biến tri thức khoa học, công nghệ trong tăng trưởng và phát triển kinh tế. Khủng hoảng tài chính, tiền tệ và kinh tế thế giới những năm1997-1998 và 2008 gần đây cho thấy vấn đề không phải là ở các định đề của Kinh tế học tân cổ điển về vai trò của thị trường bị vi phạm mà là các định chế, các thiết chế tài chính quốc tế và quốc gia đã trở nên xơ cứng chậm đổi mới không thích nghi được với bối cảnh mới. Theo các tác giả của [1], kinh nghiệm ở Hoa Kỳ cho thấy:

“ Bước vào Thế kỷ 21,…trong khi nền kinh tế Mỹ đã thay đổi, chuyển hóa về bản chất do công nghệ, toàn cầu hóa và mô hình kinh doanh mới, các học thuyết dẫn đường cho hoạch định chính sách không theo kịp mà vẫn đóng khung trong khuôn khổ các khái niệm, mô hình và lý thuyết trong Thế kỷ 20” [1, p.1].

Bảng 1. So sánh ba học thuyết kinh tế phổ biến tại Hoa Kỳ và Học thuyết kinh tế học đổi mới (Nguồn: trích trong [1])

  Học thuyết kinh tế tân cổ điển    
       Nhân tố Tân cổ điển bảo thủ
(Tiếp cận phía cung) 
Tân cổ điển tự do
(Tiếp cận Rubinomics)
Học thuyết kinh tế
học Keynes mới
Học thuyết kinh tế
học đổi mới
Khu vực tạo ra
tăng trưởng kinh tế
Từ phía cung (các cá
nhân và tổ chức)
Từ phía cung (các cá
nhân và tổ chức)
Từ phía cầu Từ phía cung (các tổ
chức, doanh nhân
và chủ thể tiêu dùng)
Nguồn gốc tạo ra
tăng trưởng kinh tế
Tích lũy vốn Tích lũy vốn Chi tiêu Năng suất và đổi mới
Đối tượng chủ yếu
của chính sách
Người tiêu dùng Người tiêu dùng Người công nhân Tất cả mọi cư dân
Mục tiêu chủ yếu
của chính sách kinh tế
Tăng trưởng và quản lý
các chu kỳ kinh doanh
Hiệu quả và quản lý
các chu kỳ kinh doanh
Sự công bằng và quản lý
các chu kỳ kinh doanh
Tăng trưởng và đổi mới
Quá trình kinh tế
then chốt
Đạt hiệu quả
phân bổ nguồn lực
Đạt hiệu quả
phân bổ nguồn lực
Nhu cầu người tiêu
dùng và việc làm
Hiệu quả sản xuất
và hiệu quả thích nghi

Phương tiện chủ yếu
Thuế thấp và giảm
điều chỉnh
Kỷ luật tài khóa, điều
chỉnh chính sách kinh tế
Chi tiêu công, thuế lũy
tiến, điều chỉnh
mạnh hơn
Thuế, chi tiêu và các chính
sách điều chỉnh thúc
đẩy đổi mới, nâng cao kỹ
năng, đầu tư thiết bị mới,
cạnh tranh và kinh doanh

Lý thuyết thương mại Thị trường tự do nâng
cao hiệu quả phân bổ
nguồn lực và phúc lợi
người tiêu dùng
Thị trường tự do nâng
cao hiệu quả phân bổ
nguồn lực và phúc lợi
người tiêu dùng, nhưng
chính sách của chính
phủ phải bù đắp cho
những thiệt hai do
thương mại gây ra
Thương mại có thể gây
hại cho tầng lớp công
nhân và giảm nhu cầu
người tiêu dùng
Thương mại có thể mang
lại hiệu quả, cơ bản phải
thông qua cạnh tranh
và tiếp thu công nghệ
nhưng để hiệu quả nhất
các chính sách chống lại
các lệch lạc mang tính
đầu cơ để thúc đẩy
đổi mới trong nước
Tổ chức của Chính phủ Rất nhỏ gọn Tập trung vào những
chức năng cơ bản
Chính phủ lớn và mạnh Cải tổ lại chính phủ,
dựa nhiều hơn vào xã hội
dân sự và hợp tác công tư

Quỹ đạo hoạt động Thị trường các loại Thị trường các loại Các thiết chế
và tổ chức
Các thiết chế
và tổ chức
 
 Về bản chất, đó là các học thuyết coi nhẹ vai trò của đổi mới và công nghệ trong tăng trưởng và phát triển kinh tế. Do vậy, đổi mới các thiết chế tài chính quốc gia và quốc tế cho đồng bộ với kiểu chu kỳ kinh doanh mới dựa trên tri thức và công nghệ với sự đa dạng có ngắn hạn, có trung hạn và có dài hạn hiện đang là đòi hỏi bức thiết mà Kinh tế học đổi mới có thể cung cấp các giải pháp thích hợp.

Một khía cạnh khác rất đáng lưu ý khi so sánh các học thuyết kinh tế nêu trên là sự khác biệt về tầm nhìn về thời gian, không gian tương tác và liên kết của các tác nhân kinh tế. Trong khi các học thuyết kinh tế học tân cổ điển và Keynes chú trọng vai trò của hoặc thị trường hoặc nhà nước, hoặc người tiêu dùng, hoặc người công nhân thì Kinh tế học đổi mới coi trọng cả vai trò của nhà nước và thị trường, tính đến vai trò của cả người tiêu dùng, người công nhân, các tổ chức phi chính phủ và tất cả các cư dân tham gia vào các hoạt động đổi mới. Việc chú trọng kết hợp giữa các chu kỳ gắn hạn, trung hạn và dài hạn trong tăng trưởng và phát triển kinh tế, giữa nhà nước, thị trường và xã hội dân sự đã tạo ra khuôn khổ rộng lớn hơn, không gian rộng lớn hơn cho tạo lập các hiệu ứng hợp trội trong hiệu quả sản xuất và hiệu qủa thích nghi với những biến của môi trường bên ngoài.

5. Bài học kinh nghiệm gợi suy cho Việt Nam

Nhiều nghiên cứu và kinh nghiệm hoạch định chính sách kinh tế tại Hoa Kỳ và một số nước phát triển trong thập kỷ gần đây đã cho thấy xu thế bất cập của Kinh tế học tân cổ điển và Kinh tế học Keynes mới trong giải thích nguyên nhân tăng trưởng và tạo lập khuôn khổ chính sách đổi mới phù hợp với bối cảnh nền kinh tế dựa trên tri thức trong Thế kỷ 21.

Các thảo luận gần đây tại Hoa Kỳ và một số nước phát triển khác liên quan đến lựa chọn các học thuyết kinh tế phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển sang kinh tế dựa trên tri thức KH&CN để thích nghi với mức độ bất định ngày càng tăng trong Thế kỷ 21 cho thấy sớm hay muộn Học thuyết kinh tế học đổi mới với những quan điểm, cách tiếp cận hiện đại và phù hợp sẽ (thực tế đã và đang) chi phối Hệ thống đổi mới toàn cầu và dần dần trở thành chuẩn mực chung cho phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới trong những thập kỷ tới.

Việt Nam đang trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới. Các chính sách kinh tế vĩ mô gần đây được cho là đã đi đúng hướng, giúp nền kinh tế giành được những thành tựu nhất định về tăng trưởng kinh tế và xóa đói, giảm nghèo. Tuy nhiên, các thành tựu đạt được là chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp. Có thể nhận định là mô hình và chính sách kinh tế áp dụng những năm gần đây ở Việt Nam chủ yếu dựa quá nhiều vào thâm dụng vốn đầu tư kiểu Tân cổ điển hoặc các biện pháp kích cầu kiểu Keynes. Tri thức khoa học, công nghệ và các nguồn lực kiểu đổi mới khác như năng lực thích nghi về tổ chức, quản lý, thiết chế chính sách thúc đẩy các loại liên kết trong hệ thống đổi mới, như liên kết giữa tri thức KH&CN và sản xuất, liên kết giữa các thiết chế, chính sách, liên kết hợp tác công tư, liên kết giữa các vùng theo quan niệm của Kinh tế học đổi mới chưa được quan tâm đầu tư và khai thác. Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao ban đầu thời gian qua đang có xu hướng chậm lại và điều quan trọng là chỉ số đổi mới của Việt Nam vẫn ở thứ hạng rất thấp ( năm 2009 xếp hạng 78 trong số 110 nước trên thế giới, dưới cả Philippin xếp hạng 54) [3, p.14].

Để có một tương lai phát triển bền vững và một nền kinh tế có năng lực đổi mới, sáng tạo cao khả dĩ có thể đưa Việt Nam tham gia và leo lên nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam rõ ràng cần nhanh chóng chuyển sang mô hình tăng trưởng kinh tế kinh tế theo chiều sâu, sử dụng nhiều hơn tri thức khoa học, công nghệ và đổi mới để tạo ra các hợp lực phục vụ phát triển. Để có thể hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi đó, ít nhất về mặt lý thuyết, Học thuyết Kinh tế học đổi mới, bên cạnh Kinh tế học tân cổ điển và Kinh tế học keynes mới cần được nghiên cứu sâu hơn và đưa dần vào trong tư duy, cách tiếp cận và tạo lập khuôn khổ cho hoạch định chính sách đổi mới thay vì hoạch định riêng rẽ các chính sách kinh tế, tài chính, tài khóa, chính sách công nghiệp và chính sách KH&CN như trong thực tế ở Việt Nam hiện nay.

Tài liệu tham khảo

1.    Robert D.Atkinson (2008), David B.Audretsch (2008); Economic Doctrines and Policy Differences: Has the Washington Policy Debate Been Asking the Wrong Questions?; The Information Technology & Innovation Foundation (ITIF).

2.     Kevin Bryant (1999), Alison Wells (1999); A New Economic Paradigm? Innovation – Based Evolutionary Systems; Department of Industry, Science and Resources; Canberra ACT, Commonwealth Australia.

3.    Carlos Aquirre B. (2011), SWOT Analysis of the Vietnamese STI System: Trends and Policy Recommendations, UNIDO, Vienna, 5-2011.

4.    Nguyễn Mạnh Quân (2010), Xã hội hậu khoa học và những gợi suy cho Việt Nam, Tia Sáng, N.8/2010


Vai trò hiện nay của toán trong kinh tế học

Trước khi thảo luận vai trò của toán trong kinh tế, chúng ta nên xem xét ý nghĩa của hai từ: kinh toán học (mathematical economics) và kinh tế lượng học (econometrics).  Từ nhiều năm nay, sinh viên kinh tế trên khắp thế giới, kể cả Việt Nam, rất quen thuộc với hai từ này. Danh từ kinh toán học thường được dùng với hai nghĩa chính sau đây:

  • Một ngành riêng biệt của bộ môn kinh tế trong đó sự ứng dụng và phát triển của các kỹ thuật toán được dùng để làm sáng tỏ các vấn đề kinh tế;
  • Một tập hợp các phương pháp phân giải dùng để trình bày, phân tích và thông hiểu các hiện tượng kinh tế.

Nhiều người xem kinh toán học là phần tương ứng lý thuyết của kinh lượng học, một ngành có mục đích phân giải các hiện tượng kinh tế bằng các phương pháp thống kê.  Tuy nhiên, sự phân chia này có tính cách tiện lợi, giáo khoa hơn là xác thật bởi vì thống kê cũng chỉ là một ngành toán.  Rất nhiều nhà kinh tế hiện đại làm việc trong cả hai lĩnh vực này.  Vì thế chúng ta có thể xem kinh lượng học là một ngành trong kinh toán học.

Dù kinh toán học được thông hiểu theo nghĩa nào đi nữa, chúng ta thấy rõ toán đóng một vai trò không thể thiếu trong kinh tế học. Vai trò này đuợc thể hiện qua nhiều khía cạnh khác nhau, từ giảng dạy, nghiên cứu đến chính sách kinh tế. Dễ thấy nhất là sự phổ thông của từ kinh toán học trên mạng Internet. Đánh chữ “mathematical economics” (trong ngoặc kép) vào Google, chúng ta sẽ kiếm thấy hơn một triệu mục từ cho từ này (tuy rằng nhiều mục từ trùng nhau).

Về phương diện giáo dục và đào tạo, sinh viên cử nhân môn kinh tế tại phần lớn các đại học trên toàn thế giới đều phải bắt buộc học một vài môn toán và thống kê nhập môn.  Ngoài ra, hệ thống tín chỉ linh động cho các ngành khoa học xã hội còn cho phép sinh viên kinh tế theo chuyên đề toán, hoặc theo học các môn có sẵn trong ban kinh tế, hoặc học thẳng từ ban toán. Khi học bằng cử nhân kinh tế cách đây hơn 30 năm, tôi đã chọn khoảng 25% tổng số môn học từ ban toán.  Tôi học toán giải tích đến năm thứ ba và làm một đề án vận trù học năm thứ tư. Ngày nay, nhất là tại các quốc gia nói tiếng Anh, một số đại học còn phát bằng cử nhân với danh hiệu “kinh tế và toán” hay “toán và kinh tế”.  Một vài thí dụ tiêu biểu bao gồm Đại học Yale (Mỹ), London, Essex và Warwick (Anh), và Newcastle và Wollongong (Úc).  Khi lên đến cấp hậu đại học, sinh viên cao học và tiến sĩ ngành kinh tế nhất thiết phải đạt đến một trình độ toán tối thiểu nào đó, nếu không sẽ rất chật vật trong việc hoàn tất các môn học bắt buộc.

Dụng cụ chính yếu của giảng dạy là sách giáo khoa. Mở bất cứ cuốn sách giáo khoa kinh tế nào ra, dù là vi mô hay vĩ mô, dù là nhập môn hay cấp cao, người đọc cũng dễ dàng nhận thấy vai trò quan trọng của toán, nhất là đại số và vi tích sơ cấp, trong việc trình bày và truyền đạt các ý niệm và lý thuyết kinh tế.  Mức quan trọng của toán trong kinh tế có xu hướng càng lúc càng tăng, nhất là với các mô hình lý thuyết về thị truờng tài chính trong hai, ba thập kỷ sau này.  Điều này cũng đúng cho các tạp chí học thuật trong bất cứ tiểu ngành nào của bộ môn kinh tế. Đa số các nhà kinh tế ngày nay thích dùng toán để diễn đạt các kết quả nghiên cửu của mình. Chỉ cần nhìn thoáng qua ba tạp chí học thuật hàng đầu của kinh tế (Jounal of Political Economy, American Economic Review và Econometrica) là đủ.  So sánh các tạp chí học thuật kinh tế ngày nay với 50 năm trước cho thấy sự gia tăng ghê gớm của các biểu thức toán.  Blackhouse (1998) báo cáo tỉ lệ bài viết dùng đại số trong hai tạp chí American Economic Review và Economic Journal (tạp chí hàng đầu tại Mỹ và Anh) tăng từ dưới 10% năm 1930 đến khoảng 75% năm 1980 (xem thêm Grubel và Bolan, 1986; Dow, 1999).

Trên bình diện chính sách kinh tế, các mô hình kinh toán và kinh lượng được các viện nghiên cứu và các cơ quan chính phủ sử dụng rộng rãi và thường xuyên trong việc đánh giá và dự báo ảnh hưởng của các chu trình, xu hướng kinh tế hay các chính sách kinh tế công (đang đuợc đề nghị hay đã được thực thi).  Không kể các viện nghiên cứu công và tư, các cơ quan chính phủ bao gồm: Bộ Kinh tế, Ngân hàng Quốc gia, Tổng cục Thuế, Tổng cục Thống kê, v.v.  Các mô hình được sử dụng bao gồm: cân bằng tổng thể khả tính (computable general equilibirium model), kinh lượng vĩ mô quy mô lớn (large scale maccoeconomic econometric model), mô  hình  hoá vi mô  (microsimulation model), chuỗi thời gian (time series), v.v. (xem, thí dụ như, Bank of England, 1999; Statistics Canada, 2002; Centre of Policy Studies, 2006).

Nhưng đóng góp của toán học trong kinh tế có lẽ được biểu hiện rõ ràng nhất qua danh sách 58 nhà khoa học đoạt giải Nobel kinh tế, giải thưởng học thuật cao quý nhất của kinh tế học, từ khi giải này ra đời năm 1969.  Trong danh sách này, đa số đều có thể xem là nhà kinh toán hay kinh lượng học.  Những người không dùng toán làm dụng cụ chính trong việc truyền bá lý thuyết kinh tế của mình chỉ là thiểu số.  Có những toán gia thuần túy đã từng thắng giải Nobel kinh tế, thí dụ như Leonid Kantorovich và John Nash.  Nhà bác học cuối cùng, John von Neumann, nếu sống đủ lâu, chắc chắn nhận giải Nobel kinh tế cho thuyết trò chơi của ông.  Rất nhiều người thắng giải Nobel đã chuyển sang lĩnh vực kinh tế từ gốc thuần toán như Gérard Debreu, Kenneth Arrow, Robert Aumann, Tjalling Koopmans, v.v.  Điều này cho thấy tính nghiêm túc của toán rất phù hợp cho lý thuyết  kinh tế và khẳng định vai trò gần như độc tôn của toán trong kinh tế học.

Tuy nhiên vai trò của toán trong kinh tế không phải là không gặp chống đối. Ngay từ thế kỷ 18, nhiều học giả đã cảnh cáo ứng dụng của toán trong kinh tế và xu hướng này vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Thí dụ, trường phái Áo tin rằng tất cả những gì ra ngoài lý luận đơn giản thường là không cần thiết hay không thích hợp cho kinh tế.  Những người chỉ trích vai trò của toán trong kinh tế có thể chia thành hai loại. Loại thứ nhất chối bỏ vai trò của phương pháp toán trong kinh tế. Họ cho rằng hệ thống kinh tế phản ánh sự tương tác của con người, không phải là một hệ thống thiên nhiên, do đó vật lý hay toán học không phải là những phương pháp thích ứng để tìm hiểu, phân tích và thông hiểu kinh tế học. Loại thứ hai, ít cực đoan hơn, phản đối sự lạm dụng của toán trong kinh tế vì nó sẽ dẫn đến sự đào thải dần dần của các phương pháp phi toán trong việc truyền đạt ý tưởng kinh tế. Grubel và Bolan (1986) báo cáo kết quả một cuộc thăm dò ý kiến cho thấy các nhà kinh tế hàng đầu quan tâm đến việc toán càng ngày càng đuợc sử dụng quá nhiều trong giảng dạy hậu đại học và các bài nghiên cứu được xuất bản.  Tương tự, Munir và Rashid (1994) tường trình lời phê bình về vai trò có vẻ quá lớn của toán trong kinh tế từ những kinh toán gia và kinh lượng gia lỗi lạc, đặc biệt nhất là bốn kinh tế gia Pháp, Anh từng đoạt giải Nobel như Maurice Allais, Gérad Debreu, John Hicks và Richard Stone.  Mặc cho những phê bình, chỉ trích, quan tâm này, cho đến nay vẫn chưa có bằng cớ cụ thể nào cho thấy xu hướng toán hoá kinh tế học sẽ giảm sút trong tương lai.

Lịch sử của toán trong kinh tế học

Sự ứng dụng của toán trong kinh tế không phải là một hiện tượng mới. Thật ra toán đã đóng vai trò đáng kể trong kinh tế học trên dưới một thế kỷ nay mặc dù các thuyết kinh tế cổ điển (classical economics) đã được phát triển và hệ thống hoá mà không cần dùng toán.  Lấy thí dụ, hai kinh tế gia cổ điển lớn nhất, Adam SmithDavid Ricardo, chỉ dùng thí dụ bằng số để minh hoạ các lý thuyết của mình.  Họ phối hợp các quan sát thực tế một cách phi toán với các lý luận suy diễn về liên hệ nhân quả để giải thích hệ thống kinh tế làm việc như thế nào.  Ngay trong công trình của các kinh tế gia cổ điển vĩ đại cuối cùng như John Stuart Mill và Karl Marx, công thức toán hay đồ thị cũng chỉ là một loại tốc ký hay phương cách trình bày mà thôi.  Một ngoại lệ đáng kể là thuyết dân số của Thomas Malthus (1798) trong đó Malthus lập luận rằng dân số tăng theo cấp số nhân trong khi thực phẩm chỉ tăng theo cấp số cộng.

Ngày nay, phần lớn các nhà kinh tế đồng ý rằng Augustin Cournot, triết gia và toán gia Pháp, xứng đáng nhận lãnh danh hiệu “cha đẻ của kinh toán học”.  Cournot (1838) được coi là khai sinh ra kinh toán học vì ông đã hệ thống hoá sự ứng dụng ký hiệu, công thức và lý luận toán trong kinh tế.  Sau thời Cournot, hầu hết các kinh tế gia danh tiếng đều phải sử dụng toán, không ít thì nhiều, trong việc phát triển và truyền đạt các lý thuyết của mình.  Cournot được xem là một trong những kinh tế gia đầu tiên đã thành công trong việc thành lập một lý thuyết giá trị nhất quán qua các phân tích về tiêu thụ.  Một vài đóng góp cụ thể của ông cho kinh tế gồm có: ý niệm hàm và xác xuất trong phân tích kinh tế, hàm cầu, hàm cung, thuyết độc quyền và lưỡng độc quyền (duopoly).  Cũng nên nhắc là thuyết lưỡng độc quyền của Cournot đánh dấu bước đầu nghiêm túc của thuyết trò chơi và giải pháp của Cournot là một hình thức hạn chế của cân bằng Nash.

Các công trình của Cournot đánh dấu sự chuyển đổi từ kinh tế cổ điển qua kinh tế tân cổ điển (neoclassical economics) (xem Hildenbrand, 1982).  Cả hai thuyết đều quan tâm đến sản xuất, phân bố, trao đổi và tiêu thụ của cải (của cải theo nghiã hàng hoá).  Các kinh tế gia cổ điển chú ý đến sản xuất và phân phối của cải qua thời gian. Họ nhấn mạnh tỷ lệ tăng truởng dân số và nguồn lực vật chất, và xem xét hậu quả của các nhân tố này lên tiến bộ kinh tế cũng như phúc lợi của nhân dân và xã hội.  Các kinh tế gia tân cổ điển ít quan tâm đến các khiá cạnh động.  Thay vào đó, họ đặt câu hỏi: “trong một nền kinh tế với dân số có sở thích, nguồn lực và kỹ thuật cho sẵn, làm sao các nguồn lực có thể phân phối qua một hệ thống thị trường để cực đại hoá sự thoả mãn của người tiêu thụ?”  Dùng thuật ngữ kinh tế ngày nay, sự chuyển đổi từ kinh tế cổ điển qua tân cổ điển là sự xê dịch từ phân tích kinh tế vĩ mô sang vi mô.  Đường hướng mới này (xem vấn đề quyết định cá nhân như một vấn đề tối ưu) có thể giải quyết một cách toán học bằng phương pháp giải tích.  Walras (1874) lý luận: “Chỉ có toán mới có thể giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của điều kiện hữu dụng tối đa (maximum utility).”

Kinh tế tân cổ điển khởi đầu với ba kinh tế gia: Stanley Jevon (Anh), Carl Menger (Áo) và Léon Walras (Pháp).  Ba kinh tế gia này thường được xem là ông tổ của “Cách mạng Biên tế” (Marginalist Revolution).  Danh từ biên tế liên quan đến kết quả toán của điều kiện biên tế cho cân bằng thị trường.  Quan trọng nhất trong ba kinh tế gia này là Walras, người được Joseph Schumpeter (1954: 827) xưng tụng là “kinh tế gia vĩ đại nhất”.  Lý do Walras được gọi như vậy là vì Walras (1874) đã khám phá ra lý thuyết cân bình tổng thể (general equilibrium theory).  Thuyết này giải thích quân bình của một hệ thống kinh tế thị trường qua quá trình điều chỉnh giá cả mà trong đó các tác nhân kinh tế riêng rẽ không thể ảnh hưởng lên giá thị trường.  Nói tóm gọn, Walras đã xếp đặt một chương trình nghiên cứu mà rất nhiều kinh tế gia thế kỷ 20 đã theo đuổi.  Cùng với học trò là Vilfredo Pareto, Walras sáng lập trường phái Lausanne, có thể xem là trường phái kinh toán đầu tiên trên thế giới.

Từ khi kinh tế tân cổ điển xuất hiện đến nay, phấn lớn những đóng góp quan trọng nhất cho lý thuyết kinh tế là từ kinh tế gia có đầu óc toán học.  Những kinh tế gia này dều xem toán là cần thiết và không thể thiếu.  Hai ngoại lệ đáng chú ý là hai kinh tế gia Anh, Alfred MarshallJohn Maynard Keynes.  Marshall học và dạy toán tại Cambridge, trước khi chuyển sang kinh tế.  Tuy Marshall đã mang tính nghiêm túc của toán vào kinh tế, ông tỏ vẻ nghi ngờ vai trò của toán trong kinh tế.  Ông cho rằng các biến số thật trong đời sống quá nhiều và hổ tương với nhau (interrelated) do đó (i) các cố gắng toán hoá sẽ làm vấn đề quá phức tạp, không nghiên cứu được, và (ii) nếu phải bỏ sót để vấn đề có thể phân tích được, thì lời giải thích sẽ trở thành thiếu thực tế.  Trong sách Nguyên lý Kinh tế, Marshall (1890) giới hạn lý luận toán vào chú thich cuối trang, do ddó các lập luận trong văn bản đều là bằng lời. Khá nhiều kinh tế gia cho rằng (i) Marshall không hoàn toàn thành thật khi phê bình như vậy, và (ii) thật ra muốn hiểu các lập luận của Marshall thật sâu người đọc phải biết nhiều hơn về toán hơn là Marshall thừa nhận (xem Hildenbrand, 1982: 66).

Keynes, giống như Marshall, ban đầu được đào tạo để trở thành một nhà toán học và cũng nghi ngờ vai trò của toán trong kinh tế.  Keynes chỉ dùng một ít toán và lý luận rằng khả năng của toán trong việc thu hút nội dung của kinh tế rất là hạn chế.  Việc này dễ hiểu được vì quan tâm chính của Keynes là chính sách kinh tế và một kinh tế gia muốn phát biểu các dề xuất cho các vần đề kinh tế khẩn cấp, phải dùng ngôn ngữ càng ít toán càng tốt.  Nhưng cũng vì thế mà công trình vĩ đại nhất của Keynes (1936) có nhiều chỗ không rõ ràng và mâu thuẫn (có lẽ vì Keynes thay đổi các giả thiết ẩn tàng từ chương này qua chương khác).  Dù sao Keynes cũng dặt nền móng cho kinh tế vĩ mô hiện đại và mở màn cho một chương trình nghiên cứu thúc đẩy vai trò của toán trong kinh tế và ứng dụng của toán trong các công trình thực nghiệm.

Trong thế kỷ 20, các công trình kinh toán to lớn nhất xuất hiện sau Thế chiến Thứ hai.  Trong phạm vi bài này, tôi chỉ xin nêu ra, một cách ngắn gọn, ba thí dụ tiêu biểu nhất.  Thứ nhất, Paul Samuleson, lý thuyết gia kinh tế lỗi lạc nhất của thế kỷ 20. Samuelson (1947) được nhiều người xem là cha đẻ của kinh toán học hiện đại qua cuốn sách Nền tảng của Phân tích Kinh tế.  Cuốn sách này, rút ra từ luận án tiến sĩ năm 1941 của Samuelson, dùng ngôn ngữ toán nghiêm túc thống nhất các thuyết kinh tế bằng một vài nguyên lý cơ bản, và đặt nền tảng cho các nghiên cứu kinh toán hiện đại.  Nhờ ảnh hưởng của Samuleson, trọng tâm nghiên cứu kinh toán học đã dần chuyển từ Âu châu sang Bắc Mỹ.

Thí dụ thứ nhì là mô hình cạnh tranh hoàn hảo Arrow–Debreu–McKenzie (ADM), dựa trên các công trình của Arrow & Debreu (1954) và Lionel McKenzie (1954).  Mô hình ADM là mô hình trung tâm của lý thuyết cân bình tổng thể và thường được dùng làm một tham khảo tổng quát cho các mô hình kinh tế vi mô khác.  So sánh với các mô hình trước đó, mô hình ADM dùng một ý niệm hàng hoá rất tổng quát, phân biệt hàng hoá bằng không gian lẫn thời gian.  Dưới một số giả thiết nhất định, Arow và Debreu đã dùng vị tướng học (topology), thay vì giải tích, để chứng minh sự hiện hữu của một cân bình tổng thể của thị trường cạnh tranh hoàn hảo (tức là cân bình Walras).  Điều đáng chú ý là Debreu từng là một thành viên của nhóm toán gia lừng danh Bourbaki và đã dùng phương pháp tiên đề trong các nghiên cứu kinh tế của ông.

Thí dụ thứ balý thuyết trò chơi.  Tuy có nhiều người đã thảo luận một số ý niệm về thuyết trò chơi trước đó, nhà bác học von Neumann thường được xem là cha đẻ của thuyết trò chơi vì ông đã phát triển khá hoàn hảo và phổ thông hoá thuyết này (xem von Neumann và Morgenstern, 1944).  Von Neumman đề xuất thuyết trò chơi như một thứ ngôn ngữ mới dùng để biểu diễn và giải quyết các vấn đề kinh tế một cách chính xác. Lối tư duy mới này nhấn mạnh sự tương tác chiến lược giữa các tác nhân kinh tế (cá nhân, doanh nghiệp, chính phủ, vv).  Như vậy, lý thuyết cân bình tổng thể có thể xem là một trường hợp đặc biệt của thuyết trò chơi.  Tác phẩm chung của von Neumann và Morgenstern đã cách mạng hoá bộ môn kinh tế và nghiên cứu trong kinh tế.  Tuy rằng cuốn sách này viết riêng cho các nhà kinh tế, sự ứng dụng của thuyết trò chơi trong tâm lý học, xã hội học, chính trị học, chiến tranh, các trò chơi giải trí, v.v. trở nên rõ ràng khá nhanh sau đó.

Ngoài von Neumann, nhiều toán gia khác cũng tìm cách ứng dụng toán thuần lý vào lĩnh vực kinh tế trong hậu bán thế kỷ 20.  Nổi tiếng nhất có lẽ là toán gia Steve Smale, người thắng Huy chương Field năm 1966 (một phần vì đã chứng minh Ước đoán Poincaré cho trường hợp n ³ 5).  Smale đã đóng góp rất nhiều cho lý thuyết kinh tế trong thập kỷ 1970.  Ông đã thành công trong việc mang giải tích toàn bộ, vị tướng học và động học vào những nghiên cứu về cân bình kinh tế tổng quát.

Để có một cái nhìn khách quan và toàn diện hơn, chúng ta cũng nên xét qua vài thí dụ về các ứng dụng toán không thành công lắm trong kinh tế.  Hai thí dụ tiêu biểu nhất có lẽ là thuyết tai biến (catastrophe theory) và thuyết hỗn độn (chaos theory).  Sau nhiều thập kỷ phát triển dần dần, thuyết tai biến chính thức xuất hiện vào đầu thập kỷ 1970 qua những công trình đột phá của René Thom (1969).[3]  Sau đó, thuyết tai biến đã được áp dụng trong khá nhiều nghiên cứu kinh tế, thí dụ như thị trường chứng khoán, thị trường độc quyền, chu trình kinh tế, mô hình lạm phát, đầu cơ hối suất, thuyết tăng trưởng, kinh tế thành phố và vùng, kinh tế sinh thái, vv (xem Rosser 2007).  Vào cuối thập kỷ 1970, nhiều tác giả bắt đầu chỉ trích sự lạm dụng của thuyết tai biến (không phải chỉ trong kinh tế) vì ba lý do chính như sau: (i) thuyết tai biến dựa quá nhiều trên các phương pháp định tính, (ii) nhiều ứng dụng đòi hỏi các định lượng hoá giả mạo hay phương pháp thống kê không thích hợp, và (iii) rất nhiều mô hình không thoả những điều kiện toán cần cho thuyết tai biến.  Cũng vì thế mà trong thập kỷ 1990, gần như không có bài nghiên cứu nào đăng trong các tạp chí kinh tế hàng đầu dám nhắc đến thuyết tai biến.  Ngày nay, phần đông các nhà kinh tế có một cái nhìn đúng đắn và lạc quan hơn về thuyết tai biến.  Tuy không phải là kỹ thuật tổng quát có thể dùng cho mọi trường hợp, thuyết tai biến vẫn đóng một vai trò nhất định nào đó trong việc nghiên cứu hiện tượng bất liên tục động trong kinh tế (Roser 2007).

Giống như thuyết tai biến, thuyết hỗn độn có nguồn gốc sâu xa từ những công trình nghiên cứu về toán và cơ học thiên thể của “toán gia phổ quát cuối cùng” Henri Poincaré vào cuối thế kỷ 19.  Poincaré nhận thấy rằng các hệ thống xác định, động, phi tuyến, đơn giản (simple nonlinear dynamic deterministic systems) dưới một số điều kiện nào đó tiến hoá một cách có vẻ như ngẫu nhiên, phức tạp.  Những hệ thống này rất nhạy cảm với điều kiện ban đầu và do đó dự đoán dài hạn với bất kỳ độ chính xác nào đòi hỏi các điều kiện ban đầu được định rõ tới mức chính xác vô cực.  Bắt đầu từ giữa thập kỷ 1970, thuyết hỗn độn đã được áp dụng vào rất nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau (xem Baulmol & Benhabib 1989). 

Ứng dụng của thuyết hỗn độn trong kinh tế gây ra vài trở ngại chính như sau.  Thứ nhất, sự có mặt của hỗn độn làm dự đoán dài hạn không khả thi, và người dự báo sẽ phải trả giá cực kỳ cao nếu chỉ muốn tăng tầm xa dự báo lên chút ít.  Tính không dự đoán dài hạn này cũng trái ngược với giả thiết kỳ vọng hợp lý (rational expectations), một ý niệm cơ bản trong các lý thuyết kinh tế hiện đại. Thứ hai, quan trọng hơn, các nhà nghiên cứu chưa tìm được bằng chứng có tính thuyết phục về sự hiện diện của hỗn độn xác định trong các chuỗi dữ kiện kinh tế thời gian.  Nếu như thế, các nhà kinh tế có nên tiếp tục bỏ công sức vào thuyết hỗn độn hay nên khảo sát các dạng động lực phi tuyến khác với khả năng tiên đoán tốt hơn?  Tuy nhiên, thuyết hỗn độn nói chung không bị các nhà kinh tế tránh né như thuyết tai biến.  Một số nhà kinh tế cho rằng thuyết hỗn độn vẫn cần cho lý thuyết kinh tế, nhưng các dụng cụ và phương pháp nghiên cứu phải khác hơn những kỹ thuật dùng trong quá khứ.

Toán và Nghiên cứu Kinh tế

Như đã thảo luận bên trên, sự phát triển của lý thuyết kinh tế học hiện đại dựa vào toán rất nhiều.  Điều đó cũng không đáng ngạc nhiên vì toán có nhiều lợi thế hơn các ngôn ngữ khác. 

Toán:

  • Là một phương cách truyền thông ý tưởng và kiến thức ngắn gọn, chính xác và nghiêm túc;
  • Có lẽ là một ngôn ngữ phổ quát nhất nhờ sự tiêu chuẩn hoá các ký hiệu toán trên toàn thế giới;
  • Là một dụng cụ suy diễn lý luận rất mạnh (nhờ vào sự phong phú của các định lý toán); và
  • Là phương pháp rất ích lợi trong việc giải quyết các vấn đề quá phức tạp cho tưởng tượng hay trực giác.

 Tuy nhiên, toán cũng bị một số bất lợi chính như sau:

  • Ngôn ngữ toán giới hạn hơn ngôn ngữ hàng ngày do đó phạm vi các vấn đề có thể giải bằng toán cũng bị hạn chế hơn;
  • Rất nhiều người không thoải mái với toán và không thể nhớ và áp dụng toán, dù chỉ là các luật toán căn bản; và
  • Nhưng nhà kinh toán học trong khi truyền đạt ý tưởng của mình có thể vô ý làm toán trở thành chủ nhân thay vì người hầu.

Blackhouse (1998) nhận diện các lợi ích chính của toán trong nghiên cứu kinh tế như sau:

  • Làm rõ những gì chúng ta biết qua cách trình bày những gì chứng minh được và những gì không chứng minh được;
  • Giúp tích lũy kiến thức qua thời gian bởi vì các các thế hệ sau có thể dễ dàng theo dõi các lý luận toán; và
  • Cung cấp một động cơ cho khám phá.

Về vấn đề toán hóa kinh tế học, Debreu phát biểu: “[Toán] không ngừng đòi hỏi các giả thiết yếu hơn, các kết luận mạnh hơn, tính cách tổng quát hơn.  Trong dạng toán, lý thuyết kinh tế phải cam chịu các đòi hỏi này… Toán cũng bắt buộc nhu cầu phải đơn giản.” (lập lại trong Blackhouse, 1998).

Trong thế kỷ 20, các nhà kinh toán học dần dần thay phương pháp quan sát thực nghiệm của khoa học thiên nhiên (như vật lý) bằng phương pháp công lý (axiomatic approach) trong nghiên cứu kinh tế thuần lý.  Điều này và nhu cầu đo lường đã dẫn đến sự nhị phân giữa lý thuyết thuần túy (kinh toán học) và lý thuyết ứng dụng (kinh lượng học).  Nghiên cứu kinh tế thuần lý dùng các phương pháp phân tích toán, nhiều khi phức tạp, về cách xử lý của các tác nhân kinh tế dựa trên hai giả thiết: tính hợp lý (rationality) và tính vị kỷ (self interest).  Đường hướng nghiên cứu này nhấn mạnh vào nguyên lý cực đại hoá hữu dụng (utility maximizing) cũng như sự hiện hữu của một cân bình duy nhất và bền (stable).  Lý thuyết ứng dụng ngược lại tập trung vào các dạng rút gọn (reduced forms) mà dữ kiện đòi hỏi có thể kiếm được trong các quan sát, đo lường thực tế.  Vì hai lối nghiên cứu này có hai mục đích khác nhau, kỹ thuật toán dùng trong kinh toán học có xu hướng khác với các kỹ thuật dùng trong kinh lượng học.  Các nhà nghiên cứu thời nay có xu hướng chuyên môn hoá, hoặc kinh toán học hoặc kinh lượng học.  Ngay cả các tác giả vừa làm nghiên cứu trong cả hai lĩnh vực cũng có xu hướng phân chia phần lý thuyết và phần thực nghiệm trong các bài nghiên cứu của mình.  Trong phạm vi hạn hẹp của bài này, tôi xin phép không bàn sự nhị phân này có gây ra vấn đề gì không và có thể vượt qua được không? (nếu muốn tìm hiểu, xin xem thêm Blackhouse, 1998).

Đến đây, chúng ta có thể tóm gọn vai trò của toán trong nghiên cứu kinh tế như sau (xem thêm Hildenbrand, 1982):

Toán chỉ là một phương tiện, không phải là cứu cánh, và do đó tầm nhìn về sự kiện và ý nghĩa phải nhất thiết đi trước việc phân tích vấn đề (hai thí dụ tốt cho điểm này là “Sự Thịnh vượng của các Quốc gia” của Adam Smith (1776) và “Lý thuyết Chung” của Keynes (1936));

Phẩm chất của một lý thuyết kinh tế hoàn toàn không tùy thuộc vào chiều sâu hay tính phức tạp của nội dung toán trong thuyết đó (hai thí dụ tốt là Định luật Coase (1937) và Thuyết Thị trường Hàng hoá xấu của George Akerlof (1970).

Vai trò của toán trong kinh tế lý thuyết trong bản chất chắc chắn nhiều hơn chỉ là một loại tốc ký hay dụng cụ biểu diễn tiện lợi;

Cuộc tranh cãi về vai trò của toán trong kinh tế học đúng ra không phải tranh luận về nên hay không nên dùng toán trong kinh tế, mà là về “dùng bao nhiêu toán” và “dùng toán loại nào” (hình học, đại số, giải tích, vị tướng, thống kê, toán số).  Không phải ngẫu nhiên mà Francis Edgeworth (1881) gọi giải tích là “tiếng mẹ đẻ của kinh tế học”.

Trước khi chấm dứt phần này, chúng ta hãy xem hai thí dụ cụ thể về ứng dụng của toán trong nghiên cứu kinh tế. Thí dụ thứ nhất dựa trên công trình của Allingham và Sandmo (1972) về sự trốn thuế.  Mô hình này đã gây một tiếng vang khá lớn trong lý thuyết tài chính công và đã được nới rộng rất nhiều.  Trong phạm vi bài này, với mục đích minh hoạ, chúng ta chỉ cần xem xét mô hình nguyên thủy.  Đây là một mô hình tương đối đơn giản, thuộc loại cân bình cục bộ (partial equilibrium), tĩnh (static) và ngẫu nhiên (stochastic) với một biến số nội sinh (endogenous variable) duy nhất.

Vấn đề: Một kinh tế nhân (homo economicus) sẽ tuân thủ luật thuế thu nhập như thế nào, giả thử một hệ thống kiểm tra và nộp phạt cho sẵn?

Giả thiết (assumptions): Kinh tế nhân cực đại hoá hàm hữu dụng (utility function) tùy thuộc vào thu nhập sau thuế.

Mô hình hoá vấn đề: Bước đầu là đặt ký hiệu.  Gọi:
y = thu nhập thật (y > 0)

t = thuế suất (0 < t < 1)

x = thu nhập khai báo (x < y)

z º y – x = số lượng thu nhập trốn thuế

p = xác xuất bị kiểm tra (0 < p < 1)

q = tỉ lệ nộp phạt cho mỗi đồng trốn thuế

u = hàm hữu dụng (tăng và lõm theo thu nhập)

 Bước kế là đặt vấn đề.  Nếu trốn thuế và không bị Cục Thuế kiểm tra, thu nhập sau thuế của người đóng thuế sẽ là y - tx = (1-t)y + tz.  Nếu bị kiểm tra, thu nhập sau thuế và sau khi bị phạt của người đóng thuế sẽ là

y - tx -(t+q)z = (1-t)y- qtz.   

Như vậy, vấn đề này có thể đặt dưới dạng toán như sau:

Chọn z để cực đại hoá EU = pu[(1-t)y-qtz] + (1-p)u[(1-t)y + tz)] tùy theo
y, t, p, q , 0 < t < 1 và 0 < p < 1
cho sẵn.

Phân tích mô hình:  Trong một mô hình như trên, ta gọi các thông số như y, t, p, q, t và p là các biến số ngoại sinh (exogenous variables) và biến số chọn lựa z là biến số nội sinh.  Đi tìm cân bình của mô hình là tìm trị của biến số nội sinh z theo tập hợp các biến số ngoại sinh.  Vì đây là một vấn đề cực đại hoá bị ràng buộc, phép toán vi phân là dụng cụ phân tích thích hợp.  Lấy đạo hàm của EU theo z, điệu kiện bậc một của cực đại nội (interior maximum) của EU là:

- pqu ’[(1-t)y-qtz] +(1-p)tu’[(1-t)y + tz)] = 0

Trong đó u’ là đạo hàm bậc một của u (tức là hữu dụng biên tế).  Xin lưu ý là điều kiện bậc hai cho một cực đại toàn bộ thoả vì giả thiết u” < 0.  Trên nguyên tắc, ta có thể giài phương trình trên để tìm trị của z theo y, t, p and q, tức là

z = f(y, t, p, q)

Đây là dạng rút gọn (reduced form) của mô hình. Phân tích tĩnh so sánh (comparative static analyis) có nghiã là chúng ta xác định dấu của các đạo hàm bậc một từng phẩn của f.  Trong trường hợp này, trong khi cả hai fpfq  đều âm (nếu xác xuât kiểm tra tăng hay tỉ lệ nộp phạt tăng, số lượng thu nhập trốn thuế sẽ giảm), dấu của fyft không rõ (nghiã là ảnh hưởng của thu nhập hay thuế suất lên số thu nhập trốn thuế không minh bạch trong trường hợp tổng quát).

Giới hạn của mô hình: Mô hình trên có hai vấn đề. 

  • Thứ nhất, mô hình này dựa trên quan điểm rất giới hạn vể bản chất con người và không phù hợp với các quan sát thực nghiệm về sự tuân phục luật thuế.  Rất nhiều người vốn đã trung thực và sẵn lòng nộp đủ thuế ngay cả khi có cơ hội trốn thuế mà không sợ bị kiểm tra. 
  • Thứ hai, mô hình này không kết hợp hành xử chiến lược (strategic behaviour) của Cục Thuế.  Thuyết trò chơi có lẽ là một dụng cụ phân tích thích hợp hơn cho vấn đề này. 

Thí dụ bên trên cho thấy sức mạnh cũng như hạn chế của các phương pháp toán trong việc mô hình hoá các hành xử về thuế.  Trong khi phép tính vi phân cung cấp một dụng cụ phân tích rất mạnh, công thức hoá một mô hình kết hợp tính trung thực của người đóng thuế hay tìm được kết quả minh bạch mà không cần đòi hỏi thêm giả thiết về ý muốn của người đóng thuế thật không phải là chuyện dễ dàng.

Thí dụ thứ hai là mô hình tăng trưởng nội sinh (endogeneous growth model), một đề tài nghiên cứu kinh tế rất lớn trong hơn 15 năm qua.  Các tài liệu về mô hình tăng trưởng nội sinh rất đa dạng và phong phú.  Trong bài này, chúng ta chỉ xét một thí dụ tương đối giản dị dựa trên công trinh khai phá của Hirofumi Uzawa (1965).  Đây là một mô hình thuộc loại kết tập (aggregative), xác định (deterministic) và động (dynamic) với thời gian liên tục (continuous time).

Trong mô hình này dân số (đồng nghĩa với lực lượng lao động) tăng theo luật số mũ với một tỷ lệ cho sẵn.  Người lao động làm việc trong khu vực kiến thức hay sản xuất.  Kiến thức nẩy sinh ra vốn con người (human capital) trong khi sản phẩm cuối (final output) có thể tiêu thụ hay để dành thành vốn nhân tạo (physical capital).  Đặt:

             L(t) = tổng lao động tại thời điểm t;

             Lp(t)= tổng lao động dùng trong sản xuất tại thời điểm t (0 £ Lp(t) £ L(t);

A(t) = trữ lượng kiến thức tại thời điểm t;

K(t) = trữ lượng vốn nhân tạo tại thời điểm t,

Q (t) = tổng sản phẩm tại thời điểm t; và

C (t) = tổng tiêu thụ tại thời điểm t.

        

Dưới một số giả thiết không gò bó lắm, sự tăng trưởng qua thời gian của nền kinh tế có thể diễn tả bắng hệ thống phương trình vi phân sau:

pt1.gif

pt2.gif

pt3.gif

trong đó n (tỷ lệ tăng dân số) ³ 0, a(tỷ lệ hiệu quả trong khu vực kiến thức) > 0 và L(0), A(0) và K(0) cho sẵn.

Tổng sản phẩm là hàm của hai nhân tố không thể thiếu: vốn nhân tạo (K) và vốn con người dùng trong sản xuất (ALp):

            Q(t) = F[K(t), A(t)Lp(t)]

ALp có thể xem là lao động trong sản xuất tính theo đơn vị hiệu quả thay vì đầu người.  Hàm sản xuất F được giả thử là hàm đồng nhất bậc một, tăng nghiêm ngặt (strictly increasing), lõm và thoả điều kiện Inada (F1 ® ¥ khi K ® 0 và F2 ® ¥ khi ALp ® 0).

Để hoàn tất mô hình ta giả thử một chính phủ vĩnh cửu cho nền kinh tế.  Chính phủ này đánh thuế lên người làm việc trong khu vực sản xuất (vì những người thợ này hưởng lợi trực tiếp từ kiến thức) để trả cho khu vực kiến thức.  Thuế suất tại thời điểm t, t(t),  được cho bởi điều kiện t(t)w(t)L(t) = w(t)[L(t)–Lp(t)] trong đó w(t) là lương thợ sản xuất tại thời điểm tĐơn giản hoá, ta có t(t) = 1 – Lp(t)/L(t).  Hơn nữa, chính phủ này chọn C(t) và Lp(t) để cực đại hoá hàm phúc lợi xã hội.

pt4.gif

Theo bốn ràng buộc về    và Q, r (> n) là tỷ suất chiết khấu xã hội (social discount rate), c(t) º C(t)/L(t) là tiêu thụ tính theo đầu người, và hàm u tăng và lõm.

Mô hình tăng trưởng nội sinh như trên trở thành bài toán diều khiển tối ưu (optimal control problem) với hai biến điều khiển (control variables) C(t) và Lp(t) và hai biến trạng thái (state variables) K(t) và A(t).  Vì phương pháp phân tích mô hình này khá chuyên môn, tôi chỉ xin lướt qua như sau.  Đầu tiên chúng ta phải thiết lập hàm Hamiltonian của vấn đề điều khiển trên, và sau đó tìm ra các điều kiện cần cho bài toán tối ưu.  Từ những điều kiện này, chúng ta có thể phân tích sự tiến hoá của nền kinh tế.  Ba câu hỏi chính là:

(i)     Từ những điều kiện ban đầu cho sẵn, nền kinh tế này có tiến tới một cân bình vững (steady state) hay không?

(ii)      Cân bình vững có hiện hữu duy nhất không?

(iii)     Trong cân bình vững này, các biến điều khiển và trạng thái sẽ tăng trưởng với mức độ nào?

Nói chung, tuy mô hình giản dị nhưng bài toán cũng trở thành khá phức tạp.  Muốn mô tả đặc điểm của cân bình vững, chúng ta cần hạn chế hình dạng của u.  Dưới giả thiết u là hàm đẳng đàn hồi (isoelastic), tức là u”/u’ = – a /c ( a > 0), chúng ta có thể chứng minh rằng cân bình vững, nếu hiện hữu, là duy nhất, và trong cân bình vững này, trữ lượng vốn nhân tạo, trữ lượng vốn con người, tổng sản phẩm và tổng tiêu thụ tất cả cùng tăng với tỷ lệg = [a r + ( a +1)n]/ a (xem Tran-Nam & Truong 1994).  Nếu hạn chế thêm n = 0 và   pt5.gif(0 < b < 1), chúng ta có thể mô tả sự tiến hoá của nền kinh tế với các công thức tường minh và chứng minh rằng, tuỳ theo điều kiện ban đầu, nền kinh tế hoặc đạt cân bình vững ngay từ đầu, hoặc sẽ tiến tới cân bình vững một cách đều đặn khi thời gian tiến tới vô hạn (xem Truong & Tran-Nam, 2006).

Thí dụ này làm sáng tỏ các lời phát biểu của Debreu nói trên: làm sao toán có thể giúp chúng ta tìm ra những kết quả mạnh hơn dưới những giả thiết yếu hơn và các điều kiện tổng quát hơn.  Về ý kinh tế, kiến thức trong mô hình như trên là một đầu vào thuần túy công (pure public input), không thể cung cấp được trong nền kinh tế thị trường.  Làm sao chúng ta có thể thiết lập một mô hình tăng trưởng nội sinh mà trong đó sự tích lũy vốn con người là kết quả của các quyết định đầu tư cá nhân?  Đây là loại câu hỏi giúp chúng ta thiết lập và phân tích các mô hình mới.

Kết luận

Toán đóng một vai trò rất quan trọng, có thể nói lả không thể thiếu, trong bộ môn kinh tế.  Vai trò này có xu hướng tăng dần theo thời gian, mặc dù vẫn còn sự phê bình, chống đối việc dùng toán làm một phương pháp chính để phân tích, thông hiểu một hệ thống nhân văn phức tạp như hệ thống kinh tế..  Nói chung, toán đã giúp kinh tế, nhất là kinh tế lý thuyết, tiến triển rất nhiều.  Dĩ nhiên, toán hoá đã và đang làm thay đổi bản chất và phạm vi của bộ môn kinh tế.  Toán cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự truyền đạt ý niệm và đề xuất kinh tế, không những giữa các nhà kinh tế với nhau, mà còn giữa các nhà kinh tế và dân chúng, và giữa các nhà kinh tế và các nhà làm chinh sách.

Vì thế, các sinh viên, các giáo viên, các nhà nghiên cứu trong bộ môn kinh tế tại Viêt Nam, dù muốn hay không, cũng phải đạt đến một trình độ toán (nhất là toán giải tích) tối thiểu nào đó để theo dõi và tham gia các tiến triển trong nghề chuyên môn của mình.  Điều này đặc biệt đúng cho các người muốn ra nước ngoài học thêm hay làm nghiên cứu.  Vể phương diện nghiên cứu, rất nhiều nhà kinh tế tại Việt Nam có căn bản toán rất tốt và do đó có tiềm năng phát triển thành các nhà kinh tế lý thuyết với các công trình nghiên cứu giá trị tương lai.  Tuy nhiên, kiến thức về lý thuyết kinh tế thị trường của các nhà kinh tế này có thể chưa sâu lắm, do đó việc tìm kiếm đề tài thích hợp cũng là một vấn đề.  Nhưng điều này có thể vượt qua bằng sự tìm tòi của chính họ hay sự cộng tác với các nhà kinh tế nước ngoài, kể cả Việt kiều.  Thật ra, hợp tác bổ tương giữa các nhà kinh toán học Việt Nam trong và ngoài nước là một chính sách cần được khuyến khích và nới rộng. ...

--------------------------------------------------

Tài liệu Tham khảo


Akerlof, G.A. (1970), “The market for 'lemons': Quality uncertainty and the market mechanism”, Quarterly Journal of Economics 84(3): 488–500.

Allingham, M.G. & A. Sandmo (1972), “Income tax evasion: A theoretical analysis”, Journal of Public Economics 1: 323–38.

Arrow, K. & G. Debreu (1954), “Existence of an equilibrium for a competitive economy”, Econometrica 22(3). 265–90.

Bank of England (1999), Economic Models at the Bank of England, Bank of England, London.  Có thể xem được tại

<http://www.bankofengland.co.uk/publications/other/beqm/modcobook.htm>.

Baumol, W.J. & Benhabib, J. (1989), “Chaos: Significance, mechanism, and economic applications", Journal of Economic Perspectives 3(1): 77–105.

Blackhouse, R.E. (1998), “If mathematics is informal, then perhaps we should accept that economics must be informat too”, Economic Journal 108(451): 1848–58.

Trần Nam Bình - Viện Đại học New South Wales, Úc