CHAN DUNG CAC NHA KTH
 
 

 

 

1. KARL MARX VÀ TÁC PHẨM TƯ BẢN LUẬN

Karl Marx qua đời trong thành phố London vào ngày 14-3-1883. Chỉ có 8 người tham dự đám tang của danh nhân này tại nghĩa trang Highgate, gồm cả người vợ và 2 người con.

Trong bài điếu văn đọc trước ngôi mộ của Karl Marx, Friedrick Engels là người bạn thân nhất, người cộng tác lâu năm và cũng là một môn đệ của Karl Marx, đã tóm tắt rằng "Trên hết, Marx là một nhà cách mạng và chủ đích chính trong cuộc đời của ông là lật đổ xã hội tư bản cùng các định chế do chế độ này lập nên".

Karl Marx đã trưởng thành trong một thời kỳ hỗn loạn, giữa các cuộc cách mạng đang diễn ra tại châu Âu vào năm 1848. Tại nước Ý có các cuộc nổi dậy đòi dân chủ, tại nước Pháp chế độ quân chủ bị tiêu diệt, đồng thời người dân Hung đang đấu tranh đòi tự do và độc lập khỏi nền cai trị của người Áo. Tại nước Đức, thể chế tiền đại nghị (pre- parliamentary) được thiết lập trong khi đó nội chiến tàn phá nước Thụy Sĩ và thành phố Prague là trung tâm của các hỗn loạn do việc thành lập liên minh thuần Slav (a pan-slavic alliance) còn tại nước Anh, phong trào đòi dân chủ Chartism đang đe dọa lật đổ chính quyền. Người dân châu Âu vào thời kỳ này đòi hỏi các chính quyền và xã hội phải giảm bớt các lạm dụng xấu xa gây nên do cuộc kỹ nghệ hóa, đòi hỏi hủy bỏ các tàn tích phong kiến. Đây là giai đoạn rất thích hợp cho các tư tưởng lật đổ, cấp tiến, và Karl Marx đã quan sát cuộc Cách Mạng Pháp năm 1848, đã coi Công Xã Paris (the Paris Commune) diễn ra vào năm 1871 là một kiểu mẫu của xã hội vô sản.

1. Cuộc đời của Karl Marx.

Karl Heindrich Marx chào đời vào ngày 5/5/1818 tại Trier trong miền sông Rhine, thuộc nước Phổ (Prussia). Ông nội của Karl là một giáo sĩ Do Thái (rabbi). Cha của Karl là một luật sư giàu có, cả hai phía cha và mẹ của Karl Marx đều thuộc giòng dõi Do Thái nhưng khi Karl tới tuổi thiếu niên thì cả gia đình này chuyển sang đạo Thiên Chúa vì các lý do thương mại và xã hội. Có lẽ do mặc cảm về nguồn gốc này mà về sau, Karl Marx đã chống lại đạo Do Thái.

Vào năm 1835, Karl Marx theo học Luật Khoa tại trường Đại Học Bonn rồi qua năm sau, đổi sang Đại Học Berlin. Trong thời gian sống tại Berlin, Karl Marx rất ưa thích môn Triết Học, có cơ hội đọc triết thuyết của Wilhelm Friedrich Hegel.

Tại nước Phổ vào giai đoạn này, Triết Học (philosophy) là một môn học nghiêng về chính trị trong khi bên ngoài xã hội, người công dân không được phép tham dự vào các công quyền (public affairs). Karl Marx đã tham gia vào nhóm các sinh viên và giáo sư cấp tiến, thiên về phe tả, thường hay chỉ trích gay gắt cách quản trị xã hội của chính quyền nước Phổ.

Karl Marx tốt nghiệp Tiến Sĩ Triết Học tại Đại Học Jena vào năm 1841, có ước vọng trở nên một giáo sư đại học nhưng vì các tư tưởng chống đối chính quyền nên đã gặp nhiều thất bại. Karl Marx quay sang ngành báo chí, đã viết nhiều bài theo đường lối cấp tiến cho nhiều nhật báo trong đó có tạp chí Sông Rhine (the Rheinische Zeitung), khởi đầu xuất bản vào năm 1842.

Năm 1843, Karl Marx lập gia đình với cô Jenny von Westphalen, một thiếu nữ trẻ đẹp, con gái của một sĩ quan Phổ, dù cho cả hai gia đình đều không bằng lòng trước cuộc hôn nhân này. Các tư tưởng cấp tiến, các bài viết có tính công kích chính quyền của Karl Marx đã bị kiểm duyệt, người viết bị theo dõi rồi để tránh bị bắt giam, Marx cùng với vợ chạy qua thành phố Paris.

Tại nơi này, Karl Marx gặp Friedrich Engels, một người cấp tiến khác gốc Đức, cả hai người trở nên bạn thân, cộng tác với nhau qua nhiều bài viết. Engels là một người giàu tương đối, con trai của một chủ nhân xưởng dệt, lại có tư tưởng xã hội cấp tiến giống như Karl Marx. Nền móng của tác phẩm sau này "Tư Bản Luận" (Das Kapital) bắt nguồn từ cuốn sách của Friedrich Engels có tên là "Tình trạng của các giới lao động tại nước Anh" (Condition of the Working Classes in England).

Các bài viết có tính cách xúi dục nổi loạn của Karl Marx chống lại chính quyền Đức đã khiến cho chính quyền này vận động với nước Pháp trục xuất Marx ra khỏi thành phố Paris vào năm 1845. Marx qua Brussels, nước Bỉ, trú ngụ trong ba năm rồi trở về nước Đức, làm chủ nhiệm tạp chí Sông Rhine Mới (the Neue Rheinische Zeitung), xuất bản tại Cologne. Qua tạp chí này, Karl Marx nổi tiếng là một người phát ngôn của đường lối cải tổ dân chủ cấp tiến.

Sau cuộc cách mạng năm 1848 thất bại tại nước Đức, Karl Marx phải bỏ chạy qua Paris. Vào năm này, Marx đã cộng tác với Friedrich Engels, viết ra Bản Tuyên Ngôn Cộng Sản (The Communist Manifesto), một văn bản cấp tiến nhất, kêu gọi bạo lực và gây nên nhiều ảnh hưởng sâu đậm về sau: "Các người Cộng Sản cho rằng không cần phải che dấu các quan điểm và ý định. Họ tuyên bố công khai rằng mục đích của họ chỉ được thực hiện do cuộc lật đổ bằng bạo lực toàn thể trật tự xã hội đương thời. Trước Cuộc Cách Mạng Cộng Sản này, các giai cấp cai trị phải run sợ. Các công nhân không bị mất mát gì cả ngoài gông cùm. Họ có cả một thế giới để chiếm đoạt. Hỡi các Công Nhân của Thế Giới, hãy đoàn kết lại!".

Vào các năm 1848 - 49, các cuộc cách mạng tại châu Âu đã không thành công, những kẻ xúi dục nổi loạn bị truy lùng, Karl Marx vì vậy phải bỏ chạy qua thành phố London vào mùa hè năm 1849. Từ tuổi 31, Marx đã trải qua phần còn lại của cuộc đời trong cảnh túng thiếu. Karl Marx có 6 người con, ba đứa bị chết yểu, hai trong số còn lại sau này đã tự sát. Trong cảnh sống cơ cực, Karl Marx đã được Friedrich Engels trợ giúp cho khỏi chết đói bởi vì lợi tức của Marx chỉ là một món tiền rất nhỏ nhờ các bài viết cho tờ báo New York Tribune, mô tả các sự việc xẩy ra tại châu Âu. Do hoàn cảnh sống quá eo hẹp và bất mãn này mà các bài viết của Karl Marx thường bộc lộ lòng hận thù, cay đắng. Karl Marx là một người học rộng nhưng mang thành kiến và tự kiêu, ông ta được nhiều người ngưỡng mộ nhưng có ít bạn bè và rất nhiều kẻ thù.

Mặc dù thường bị đau yếu vì bệnh tật và sống trong cảnh nghèo túng trong khu vực Soho buồn tẻ của thành phố London, mỗi ngày Karl Marx thường ra Viện Bảo Tàng Anh Quốc (the British Museum) tìm kiếm tài liệu để viết nên một tác phẩm có tên là "Tư Bản Luận" (Das Kapital). Cuốn sách này đã được soạn thảo trong 18 năm trường, đôi khi bị ngưng lại vì các lần đau bệnh hay vì vài hoạt động khác của tác giả. Friedried Engels rất lo lắng cho tác phẩm này, e sợ nó bị dở dang. Engels đã nói "ngày mà cuốn sách được đưa in, tôi phải uống rượu thật say để chúc mừng". Cả hai Karl Marx và Engels đều coi cuốn "Tư Bản Luận" là "cuốn sách bị nguyền rủa" (the damned book) bởi vì nó sẽ mang lại một "cơn ác mộng".

Trong đời sống lưu vong của Karl Marx tại thành phố London, có một biến cố quan trọng khác, đó là việc thành lập vào năm 1864 Hiệp Hội Các Công Nhân Quốc Tế (the International Working Men's Association) được mọi người sau này gọi là Đại Hội Cộng Sản Lần Thứ Nhất (the First International). Đây là một tổ chức cố gắng kết hợp các giới lao động trên thế giới. Karl Marx là người đứng đằng sau sân khấu, đã soạn ra các tài liệu, nguyên tắc, chương trình, các bài diễn văn... nhưng về sau các vụ cãi cọ nội bộ, tranh giành quyền chỉ huy... đã khiến cho tổ chức này bị giải tán sau cuộc sụp đổ của Công Xã Paris vào năm 1871. Tổ chức công nhân quốc tế này lại được các nhà xã hội châu Âu tiếp tục bằng Đại Hội Cộng Sản Lần Thứ Hai (the Second International) rồi về sau bằng Đại Hội Cộng Sản Lần Thứ Ba (the Third International) hay Tổ Chức Comintern, do các người Cộng Sản trên toàn thế giới.

Karl Marx đã chuẩn bị cuốn "Tư Bản Luận" trong rất nhiều năm, rồi vào cuối năm 1866, toàn thể bản thảo của cuốn sách này được gửi sang Hamburg và vào mùa thu năm sau, cuốn sách ra đời. Cuốn "Tư Bản Luận" được viết bằng tiếng Đức, bản dịch đầu tiên sang ngoại ngữ khác là ấn bản tiếng Nga năm 1872 rồi tới năm 1886 mới có ấn bản tiếng Anh. Vào thời đại của Karl Marx, nước Anh là nơi tượng trưng cho chế độ tư bản đang phát triển. Các lý thuyết kinh tế của Karl Marx đều dược rút ra do việc quan sát sinh hoạt của nước Anh này. Tại nước Anh vào thời đại Victoria, xã hội chứa đầy bất công, nhiều hoàn cảnh xấu xa.

Căn cứ vào các báo cáo chính thức của các nhân viên thanh tra trong chính quyền Anh, Marx đã trình bày các sự kiện xã hội một cách xác thực trong cuốn Tư Bản Luận theo đó đàn bà bị thuần hóa như các con vật, phải kéo các con thuyền dọc theo sông đào, kéo các toa xe nặng chở đầy than đá trong hầm mỏ. Trẻ em tại nước Anh bắt đầu làm việc trong các xưởng dệt vải len từ khi lên 9 hay 10 tuổi và phải lao động cực nhọc mỗi ngày từ 12 tới 15 giờ. Từ khi áp dụng ca đêm, các giường nằm của trẻ em không bao giờ lạnh cả bởi vì chúng thay nhau ngủ theo ca! Bệnh lao phổi và các bệnh nghề nghiệp khác đã giết trẻ em theo một mức độ cao. Việc phản đối các điều kiện làm việc hết sức tồi tệ kể trên không chỉ giới hạn vào Karl Marx. Những nhân vật có lòng nhân đạo như Charles Dickens, John Ruskin và Thomas Carlyle đã viết ra nhiều tác phẩm văn chương với nội dung phơi bày các bất công xã hội và đòi hỏi các cải tổ. Quốc Hội Anh cũng đặt ra các đạo luật sửa chữa.

Karl Marx rất hãnh diện về cách tiếp cận các vấn đề kinh tế và xã hội một cách khoa học. Engels nói rằng: "Giống như Darwin đã khám phá ra định luật Tiến Hóa trong bản chất hữu cơ, Marx đã tìm ra định luật Tiến Hóa trong lịch sử con người". Karl Marx xác nhận rằng: "các hiện tượng kinh tế có thể quan sát và ghi lại với độ chính xác giống như khoa học tự nhiên". Thông thường Karl Marx hay dẫn chứng các công trình của các nhà sinh học, hóa học và vật lý. Rõ ràng là Karl Marx mong muốn trở nên một nhân vật danh tiếng về xã hội và kinh tế giống như Darwin và Newton. Do cách phân tích xã hội theo khoa học, Karl Marx tin rằng mình đã khám phá ra cách thay đổi từ thế giới tư bản sang thế giới xã hội chủ nghĩa (a socialistic world).

2. Tác phẩm Tư Bản Luận.

Bản Tuyên Ngôn Cộng Sản bắt đầu bằng lời xác nhận rằng Lịch Sử của Nhân Loại là "lịch sử của đấu tranh giai cấp" (history of class struggle). Chính sự tranh chấp giữa các giai cấp đã gây nên các hoạt động của xã hội.

Trong thời đại La Mã, đã có các giai cấp quý tộc, hạ lưu và nô lệ. Tới thời Trung Cổ của châu Âu, các giai tầng là hầu tước, kẻ bộ hạ, giới chủ nhân nghề nghiệp (guild-master), các kẻ học nghề và giới nông nô (serf). Sang thế kỷ 19, đã có các tranh chấp giữa giới tư sản (the bourgeoisie) với đa số thuộc giai cấp trung lưu thành thị mới, sở hữu các cơ xưởng sản xuất, và giới vô sản (the proletariat) gồm các công nhân làm việc cho các kỹ nghệ sản xuất.

Marx và Engels đã mô tả sự phát triển của giới tư sản là do giới này đã nắm được quyền lực chính trị cùng với sức mạnh kinh tế nhờ vào nền kỹ nghệ sản xuất. Do bành trướng thị trường, giới tư sản đã thiết lập được các mạng lưới mậu dịch nhờ đó mang về các nguyên liệu rẻ tiền đồng thời giới tư sản này xiết chặt quyền kiểm soát tư bản, các phương tiện sản xuất và trao đổi. Sự bành trướng kỹ nghệ đã khiến cho gia tăng giai cấp công nhân vô sản, họ là những người giỏi làm việc hay không có tay nghề, và gồm cả các phụ nữ. Một số người thuộc tầng lớp thấp kém của giai cấp tư sản cũng dần dần tham gia vào giai cấp vô sản đang lớn mạnh này.

Theo Marx và Engels, trước các bóc lột, giới vô sản sẽ tham gia vào các nghiệp đoàn để đòi hỏi tăng lương. Các vụ rối loạn đôi khi xẩy ra, nghiệp đoàn có khi bị coi là bất hợp pháp nhưng các công nhân dần dần đoàn kết lại, để chống lại các kẻ đàn áp. Sẽ có một cuộc cách mạng, chế độ mới được gọi là "cộng sản", sẽ kiểm soát chính quyền vì quyền lợi của giới vô sản.

Trong xã hội cộng sản này, quyền tư hữu sẽ bị bãi bỏ, các nhà máy và các phương tiện sản xuất sẽ thuộc về Nhà Nước (state). Nhà Nước kiểm soát ngân hàng, nền kinh tế, các phương tiện giao thông và truyền thông. Nhà Nước chăm lo công việc giáo dục. Sẽ có thuế nặng để chi trả các chi phí nhưng mục đích của các hoạt động xã hội là sự an lạc của giai cấp lao động, giai cấp này lớn mạnh dần khiến cho sẽ không còn sự phân biệt giai cấp nữa và mọi người sẽ "làm việc theo năng lực, hưởng thụ theo nhu cầu".

Những lời tiên đoán của Marx và Engels đã bị chứng minh hoàn toàn sai, bởi vì sau khi chế độ cộng sản lan tràn tại nước Nga và tại phần Đông Âu sau Thế Chiến Thứ Hai, giới đảng viên Cộng Sản đã khéo léo bóc lột nhân dân hơn cả bọn tư bản, đã hưởng thụ mọi đặc quyền đặc lợi một cách kín đáo nhờ tuyên truyền bịp bợm về công bằng trong khi ngoài xã hội, hai tầng lớp "công nhân và nông dân" thực sự vẫn nghèo khổ, vẫn bị bóc lột và khai thác tàn tệ mà không được phép kêu than bởi vì mọi tổ chức xã hội do Đảng Cộng Sản độc quyền nắm giữ, mọi sinh hoạt xã hội do bọn Công An canh chừng và theo dõi nghiêm ngặt.

Do quan niệm về Tiến Hóa đã được mọi người quan tâm trong thế kỷ 19, Karl Marx đã dùng lý thuyết về "Đấu Tranh Giai Cấp" để cắt nghĩa Lịch Sử và tin rằng điều này không thể bác bỏ được. Ngoài ra, một đóng góp khá sâu xa của Karl Marx về kinh tế, lịch sử và các ngành khoa học xã hội là cách phát triển một nguyên tắc được gọi là "Duy Vật Biện Chứng" (dialectical materialism), một danh từ vừa mơ hồ, vừa khó hiểu.

Phương pháp biện chứng (dialectical method) bắt nguồn từ nhà triết học người Đức Georg Wilhelm Hegel (1770 - 1831) chủ trương rằng mọi sự vật đều ở trong trạng thái biển đổi. Sở dĩ có sự tiến bộ là do phản lực của các lực đối kháng. Thí dụ hệ thống thuộc địa của người Anh đối nghịch do cuộc Cách Mạng tại Bắc Mỹ đã sinh ra nước Hoa Kỳ và như vậy "định luật của đời sống là các tương phản do chiến tranh với kết quả là các phát triển".

Chủ đề này đã dẫn Karl Marx tới cách thành lập lý thuyết về Duy Vật Sử Quan (the theory of historical materialism) hay cách cắt nghĩa Lịch Sử bằng Kinh Tế. Marx và Engels đã cho rằng "lịch sử của các xã hội hiện hữu là lịch sử của Giai Cấp Đấu Tranh. Người tự do và kẻ nô lệ, giới quý tộc và giới hạ lưu, hạng hầu tước và hạng nông nô, giới chủ và giới thợ, tóm lại các kẻ áp chế và các kẻ bị áp chế luôn luôn đối đầu với nhau, họ thường xuyên gây chiến với nhau".

Trong bài điếu văn nói về Marx, Engels cho biết rõ hơn: "Karl Marx đã khám phá ra một sự việc đơn giản, ẩn nấp dưới sự phát triển ý thức hệ, đó là các con người trước tiên cần tới đồ ăn và nước uống, quần áo và nơi trú ẩn trước khi quan tâm tới chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo. Điều này có nghĩa là việc sản xuất ra các phương tiện sinh tồn và các giai đoạn của cuộc phát triển kinh tế của một quốc gia hay một thời đại, đã tạo nên nền móng của các định chế của quốc gia, cũng như các quan niệm về luật pháp, nghệ thuật và ngay cả các ý tưởng tôn giáo". Tóm lại, cuộc tranh giành vì đồ ăn và nơi trú ẩn rõ ràng xác định mọi hành động của con người.

Theo Karl Marx, lịch sử của Nhân Loại bao gồm các bóc lột của giai cấp này đối với giai cấp kia.

Trong thời tiền sử, chỉ có các bộ lạc, đây là loại xã hội không giai cấp nhưng cũng theo Marx, các giai cấp lớn dần theo thời gian, đầu tiên xuất hiện các nô lệ rồi các nông nô, kế tới là giới nô lệ không tài sản và lãnh lương trong chế độ tư bản.

Áp dụng lý thuyết Duy Vật Biện Chứng, Karl Marx kết luận rằng bước tiến không tránh khỏi là một cuộc cách mạng của các công nhân, là "nền độc tài của giai cấp vô sản" rồi tới quyền sở hữu cộng đồng và sự quay về cách tổ chức một xã hội không giai cấp.

Trong cuốn "Tư Bản Luận", Marx đã làm phát triển một trường hợp chống lại hệ thống tư bản để chứng minh rằng chế độ này về sau sẽ bị tiêu diệt, một điều không tránh khỏi.

Những người Cộng Sản coi sự đóng góp quan trọng thứ hai của Karl Marx vào nền khoa học xã hội là "lý thuyết về giá trị lao động" (the theory of labor value). Thực ra, căn gốc của lý thuyết này cũng không phải của Karl Marx. Dựa theo các nhà kinh tế của các thời đại trước như Adam Smith và David Ricardo, Marx xác nhận rằng lao động là nguồn gốc của mọi giá trị.

Marx đã dẫn chứng lời nói của Benjamin Franklin theo đó "một cách tổng quát, mậu dịch là sự trao đổi giữa các lao động, giá trị của mọi thứ được đo lường bằng lao động". Từ Adam Smith, Marx đã mượn định nghĩa về tư bản như sau: "tư bản là một lượng lao động được lưu trữ", còn Ricardo đã từng nói rằng giá trị (value) và giá tiền (price) của bất cứ một vật dụng nào phải được xác định theo số lượng lao động bên trong.

Dùng các tiêu chuẩn kể trên, Karl Marx làm phát triển lý thuyết về "giá trị thặng dư", vấn đề này được xác định trong cuốn sách "Phê Bình nền Kinh Tế Chính Trị Học" (Critique of Political Economy, 1859) và cũng được xét lại trong tác phẩm "Tư Bản Luận" theo đó người công nhân vì không có tài sản nên chỉ có một thứ hàng hóa (commodity) để bán hầu mong tránh khỏi bị chết đói, đó là sức lao động của chính mình. Chủ nhân đã mua thứ hàng hóa này với giá rẻ mạt, vì vậy giá trị thực của sức lao động không đúng theo số tiền lương đã trả cho người công nhân. Người công nhân được trả 4 xu do làm việc 6 giờ, nhưng đã bị bắt buộc lao động trong 10 giờ. Số 4 giờ dư này đã bị giới tư bản ăn chặn. Karl Marx lý luận rằng vì vậy, lợi tức, tiền lời v.v. đều xuất ra từ sự thặng dư lao động do người công nhân bị bóc lột và như vậy hệ thống tư bản chỉ là một chế độ khai thác và bóc lột giới lao công.

Lý thuyết về giá trị và thặng dư lao động của Karl Marx đã được dùng trong các công tác tuyên truyền và khuấy động. Ngày nay, các nhà kinh tế đã coi lý thuyết này vô giá trị. Một lý do để bác bỏ lý thuyết về sức lao động của người công nhân là việc dùng tới các máy móc (machinery) nhờ đó đã có các thay đổi lớn lao về sức lao động cần dùng. Solomon Bennett Freehof đã viết rằng: "nhà hóa học đã khám phá ra cách làm cho đất đai phì nhiêu gấp 100 lần sức sản xuất của 10 triệu nông dân. Năng suất (productivity) được tạo nên do nhà hóa học". Một học giả khác lý luận rằng: "người ta lặn xuống nước mò ngọc trai bởi vì ngọc trai có giá trị, ngọc trai có giá trị không vì công sức của thợ lặn". Karl Marx đã không biết rằng khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, các cách quản lý và tổ chức đã góp phần vào các giá trị (values) và các giá tiền (prices). Mặt khác, các nhà kinh tế cũng không đồng ý với Karl Marx về cách đo lường giá trị. Các tiêu chuẩn được chấp nhận là sức cầu (demand) và công dụng (utility) của món hàng.

Trở về lý thuyết giá trị thặng dư (surplus value theory), Karl Marx tin rằng các nhà tư bản cố công bóc lột các công nhân bằng cách kéo dài thời giờ làm việc, giảm bớt lương bổng, dùng các lao động rẻ tiền hơn như đàn bà và trẻ em. Karl Marx mô tả như sau: "giới tư bản đã cắt xén người lao động thành một phần của con người, làm giảm giá con người tới mức độ là một thành phần của máy móc, phá hủy những điều thích thú trong việc làm và biến người công nhân thành một dụng cụ đáng ghét. Giới tư bản đã bóp nghẹt các tiềm năng trí thức của người công nhân, làm lệch đi các điều kiện lao động, bắt người công nhân phải sống trong một chế độ độc đoán, khiến cho người công nhân phải thêm giờ làm việc và lôi cuốn vợ con của người công nhân nằm dưới bánh xe khủng khiếp của tư bản".

Karl Marx nhấn mạnh rằng việc trang bị các máy móc để gia tăng sản xuất không làm dễ dàng cho người công nhân mà còn tạo ra nạn thất nghiệp, nạn khai thác đàn bà và trẻ em; cách sản xuất quá mức các hàng hóa làm mất đi hứng thú của người công nhân trong việc làm. Karl Marx xác nhận rằng "máy móc là vũ khí mạnh nhất để đàn áp các vụ đình công, tức là các vụ nổi loạn của giới công nhân chống lại nền độc tài của giới tư bản. Máy hơi nước là bước đầu tiên của nhà tư bản đạp lên các đòi hỏi của các công nhân. Kể từ năm 1830 có cả một lịch sử các phát minh được dùng làm vũ khí chống lại các vụ nổi dậy của giới công nhân".

Karl Marx còn cho rằng "sự quá đông dân" (overpopulation) luôn luôn đi kèm với con đường tư bản, khi mà các kỹ nghệ mới được tạo ra, các kỹ nghệ cũ được sửa lại thì hệ thống tư bản cần đến "một đạo quân trừ bị của kỹ nghệ" (an industrial reserve army). Sự thặng dư lao động dẫn tới các suy thoái kinh tế (depressions) và các khủng hoảng (panics). Bởi vì các công nhân bị trả lương tối thiểu, họ không thể mua nổi các sản phẩm mà nhà máy làm ra, các thị trường bị ứ đọng, sức lao động giảm đi và tiếp theo là các suy thoái kinh tế. Trong khi tìm tòi các lối thoát cho các nhà kho chứa đầy hàng hóa, nhà tư bản chuyển sản phẩm sang các thị trường ngoại quốc, cố gắng tìm kiếm các xứ chậm tiến để đổ tháo các hàng hóa mà người công nhân không có khả năng mua vào. Sự cố gắng này và việc tìm kiếm các nguyên liệu rẻ tiền để giữ cho các nhà máy tiếp tục hoạt động đã dẫn tới các xung đột quốc tế và các cuộc chiến đế quốc.

Karl Marx tin tưởng rằng kết quả của các xung đột và rối loạn của chủ nghĩa tư bản là sự gia tăng việc tập trung và độc quyền bởi vì "một nhà tư bản sẽ giết chết các nhà tư bản khác".

Như vậy giới trung lưu sẽ biến đi, các tư bản nhỏ sẽ bị các tư bản lớn nuốt mất và cuối cùng chỉ còn một số nhỏ tư bản gộc đối đầu với giới vô sản là đa số. Lúc này là cơ hội của giai cấp vô sản.

Trong cuốn Tư Bản Luận, có đoạn nói như sau: "Trong khi số các tài phiệt lớn giảm dần thì cũng tăng dần số lượng nghèo khó, đàn áp, nô lệ hóa, xuống cấp và bóc lột. Đồng thời cũng gia tăng lòng phẫn nộ của giai cấp lao động, một hạng người mỗi ngày một đông hơn, có kỷ luật hơn, biết đoàn kết và có tổ chức. Sự độc quyền của chế độ tư bản trở thành cách kiềm chế phương pháp sản xuất trước kia đã phát triển. Việc tập trung các phương tiện sản xuất và xã hội hóa lao động đi tới một điểm không thích ứng với lớp vỏ ngoài tư bản khiến cho lớp vỏ này bị vỡ ra từng mảnh. Sẽ vang lên hồi chuông báo tử của nền tư sản và các nhà tư bản sẽ bị tịch thu tài sản".

Theo Karl Marx, cuộc đấu tranh giai cấp sẽ chấm dứt bằng chiến thắng của giai cấp vô sản. Sau khi nắm chính quyền, giai cấp này sẽ thiết lập nền độc tài và Karl Marx báo trước rằng "đây là giai đoạn chuyển tiếp tới việc hủy bỏ mọi giai cấp và tới việc tạo ra một xã hội tự do và công bằng". Karl Marx không nói rõ nền độc tài của giai cấp vô sản sẽ kéo dài trong bao lâu. Đất nước Liên Xô nằm trong tầm tay của chế độ cộng sản độc tài sắt máu hơn 70 năm mà người dân Nga vẫn nghèo đói, vẫn ngạt thở. Hơn nữa Karl Marx rất mơ hồ trong việc mô tả một xã hội không giai cấp mà chỉ nói rằng mục đích chính của xã hội cộng sản là "mỗi cá nhân được phát triển toàn diện và hoàn toàn tự do" theo đúng nguyên tắc cộng sản là "mọi người làm việc theo năng lực và hưởng thụ theo nhu cầu" (From each according to his abilities, to each according to his needs!)

Giấc mơ không tưởng hoàn toàn đẹp đẽ này rất tương phản với công cuộc đấu tranh giai cấp đẫm máu và vô cùng tàn ác đã từng xẩy ra trong các xứ cộng sản. Ngoài ra Karl Marx còn công bố rằng các tôn giáo cổ xưa như Thiên Chúa giáo, đã dạy cho mọi người cách cam chịu số mệnh, khuyến khích các đức tính nhẫn nhục và khiêm tốn, vì vậy Karl Marx coi tôn giáo là "thuốc phiện của dân chúng", đã làm cho giai cấp vô sản mù lòa, không nhìn thấy đường lối phải đi và tôn giáo đã đặt các chướng ngại trên con đường cách mạng.

Theo thực tế, lý thuyết và các tiên đoán của Karl Marx đã hàm chứa các sai nhầm căn bản bởi vì chế độ tư bản đã đi theo một con đường khác, bởi vì trong khi xã hội tư bản phát triển thì các sửa chữa vẫn được thực hiện. Tại các quốc gia tư bản, giai cấp công nhân đã không bị nghèo đói. Các nghiệp đoàn lao động và các luật lệ của chính quyền đã kiểm soát sự cạnh tranh, loại bớt các bất công và các xấu xa của chế độ tư bản, mang lại sự phong phú cho mọi người. Karl Marx đặt hy vọng vào tình đoàn kết quốc tế của các công nhân trên toàn thế giới nhưng thực tế cho thấy đã xẩy ra các trận chiến cục bộ giữa các quốc gia xã hội chủ nghĩa như Liên Xô và Trung Cộng, giữa Trung Cộng và Việt Cộng, giữa Việt Cộng và Khmer Đỏ, và các xung đột giữa các xứ cộng sản như Liên Xô và Nam Tư, Liên Xô và Albany. Karl Marx cũng tiên đoán rằng các cuộc cách mạng vô sản sẽ bùng nổ tại các quốc gia kỹ nghệ cao như nước Anh, nước Đức, Hoa Kỳ v.v. trong khi Liên Xô và Trung Quốc bị Karl Marx khinh rẻ, không coi là các nơi thích hợp cho chế độ cộng sản. Nhìn lại lịch sử của Liên Xô, mọi người thấy rằng quốc gia này không phải là một đất nước Cộng Sản và Stalin không phải là một con người Cộng Sản theo như Karl Marx đã định nghĩa, và các lãnh tụ Cộng Sản kể từ Lenin đã dễ dàng tuyên truyền Chủ Nghĩa Mác Xít hơn là thực hiện đúng theo chủ nghĩa này, cho nên có người đã nói rằng "nếu Karl Marx sống vào thời Stalin, ông ta sẽ chết sớm".

Tập sách đầu tiên của Bộ "Tư Bản Luận" được xuất bản vào năm 1867, đã được coi là "Thánh Kinh của giai cấp lao động". Sau khi Karl Marx qua đời vào năm 1883, Fredrick Engels đã thu thập các tài liệu của Marx một cách thiếu đầy đủ, thiếu xếp đặt phân minh rồi Tập II ra đời vào năm 1885 và Tập III vào năm 1894. Hai tập sách này đề cập tới "sự lưu thông của tư bản" (the circulation of capital) và phương pháp sản xuất của chế độ tư bản. Đối với 3 tập sách, nhiều người chỉ đọc Tập I và danh tiếng của Karl Marx nhờ vào tập sách này. Ngoài ra Karl Marx còn viết ra tập thứ tư, tên gọi là "Lý thuyết của Giá Trị Thặng Dư" (The Theory of Surplus Value) do Karl Kautsky biên tập từ các bản thảo của Karl Marx và xuất bản tại nước Đức từ năm 1905 tới 1910.

Cuốn "Tư Bản Luận" (Das Kapital) là một cuốn sách khó hiểu. Nhà phê bình Barzun đã mô tả cuốn này là "viết dở, thiếu thứ tự, thiếu lý luận và tính đồng nhất về tài liệu".

Nhà sử học William Henry Chamberlin bình luận rằng phương pháp Duy Vật Sử Quan của Karl Marx đã bỏ qua các yếu tố quan trọng như sắc dân, tôn giáo và đặc tính quốc gia, đã không kể tới sự quan trọng của bản chất con người.

Một nhà phê bình khác nhận xét rằng Karl Marx gây nên nhiều chết chóc, nghèo khổ, suy thoái và thất vọng cho Nhân Loại, nhiều hơn tất cả các nhà tư tưởng khác. Theo Thomas Patrick Neill, Karl Marx là "lãnh tụ đại diện cho các kẻ không có gì (the have-nots) trong công cuộc chống lại các kẻ có tài sản (the haves)". Karl Marx thôi thúc lòng tham vọng và ghen tuông về quyền lực, chủ trương phá bỏ nền đạo lý đương thời, bởi vì ông ta quá kiêu căng, nhiều ghen tức.

Karl Marx vì sống trong cảnh nghèo túng, đã nói lên các bất công trong xã hội tư bản khiến cho xã hội này phải sửa chữa các sai lầm; mặt khác, lý thuyết của Karl Marx có sức tàn phá ghê gớm, đã từng giết hại hàng chục triệu con người vô tội trong chính các xứ cộng sản do chủ trương "đấu tranh giai cấp".

 

2. John Maynard Keynes (1883-1946)

 

“Tư tưởng của các nhà kinh tế và các triết gia chính trị, cả khi họ đúng lẫn lúc họ sai, đều mạnh mẽ hơnn người ta thường nghĩ. Thật vậy, thế giới bị thống trị bởi một số ít người khác. Những người hành động, những người tự cho rằng họ không bị chi phối gì bởi những ảnh hưởng tri thức, lại thường là nô lệ của một nhà kinh tế đã quá cố nào đó.”
Đó là những dòng cuối cùng John Maynard Keynes viết trong cuốn Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ. Keynes thường chỉ ra rằng các vấn đề kinh tế chủ chốt nói chung được bàn tho trong một khuôn khổ và bối cnh đã được gây dựng trong suốt nhiều thế kỷ. Việc không biết về bề dầy lịch sử ấy sẽ dẫn tới những cuộc tranh luận kém hiệu qu và cũng dẫn tới c những chính sách kinh tế tồi tệ. Lịch sử có ý nghĩa không phi chỉ vì những ai thiếu hiểu biết về lịch sử sẽ nhất định lặp lại những lỗi lầm của nó, như nhận xét của Santanyana. Mà lịch sử còn có giá trị đối với tưng lai kết thành từ nó. Giống như các khoa học khác, kinh tế học không xuất hiện trong buồng chân không. Trái lại, các tư tưởng kinh tế được gây dựng bởi những người muốn gii quyết các vấn đề quan trọng trong thời đại của họ. Chúng ta cần một nhãn quan lịch sử để hiểu rõ chức năng quan trọng này của kinh tế học và để biết các nhà kinh tế vĩ đại trong quá khứ đã ứng phó với các vấn đề của thời đại họ ra sao. Cuối cùng, lịch sử quan trọng bởi vì, theo một nghĩa nào đó, đó là vị quan toà phán xét cái gì là quan trọng nhất thời, còn cái gì có ý nghĩa và vai trò trường cửu...

John Maynard Keynes (1883-1946)

Cùng với Adam Smith và Karl Marx, John Maynard Keynes được coi là một trong ba người khổng lồ trong lịch sử kinh tế học. Nếu như Adam Smith được xem như là người lạc quan trong bộ ba này khi ông nhìn nhận tiến bộ về kinh tế là kết qu chủ yếu của chủ nghĩa tư bn; và nếu Marx được xem là người bi quan khi ông tin rằng hàng loạt những vấn đề nghiêm trọng của chủ nghĩa tư bn sẽ khiến cho nó tự sụp đổ thì Keynes có thể được xem là vị cứu tinh theo chủ nghĩa thực dụng của thế giới tư bn. Nhận ra những lợi ích và c những khiếm khuyết của chủ nghĩa tư bn, Keynes viện tới các chính sách kinh tế như là một phưng tiện làm dịu bớt các vấn đề của chủ nghĩa tư bn. Ông cho rằng các chính sách kinh tế khôn ngoan có thể cứu giúp chủ nghĩa tư bn, cho phép người ta phát huy lợi ích mà không phi tri qua những điều tồi tệ của nó.
Keynes sinh ra ở Cambridge, nước Anh năm 1883 trong một vọng tộc lâu đời. Cha của ông, John Neville Keynes làm qun lý đào tạo tại Đại học Cambridge và là một nhà kinh tế đồng thời là một nhà triết học danh tiếng tại trường đại học này. Còn mẹ của ông đã từng giữ cưng vị thị trưởng Cambridge.
Keynes được học tại những trường tốt nhất ở Anh - Cao đẳng Eton và King's College, Cambridge. Tại trường Cambridge, ông học văn học cổ Hy-La và triết học dưới sự ging dạy của G.E Moore, toán học của Alfred North Whitehead, và kinh tế học của Alfred Marshall. Keynes cũng trở thành thành viên của câu lạc bộ các trí thức tại Cambridge, câu lạc bộ mà sau đó trở thành nhóm Bloomsbury. Nhóm này có những nhân vật lớn trong giới văn chưng và nghệ thuật như Virginia Woolf, E.M Forster, và Lytton Strachey.
Sau khi tốt nghiệp, Keynes thi công chức và đứng vị trí thứ hai trong số tất c những người tham gia thi tuyển. Kết qu này cho phép Keynes chỉ có thể lựa chọn các vị trí côngviệc sau người đứng thứ nhất. Mặc dù ông đã ao ước một công việc tại Bộ tài chính, nhưng vị trí này lại bị người đứng thứ nhất là Otto Niemeyer lấy mất. Thật trớ trêu là Keynes đạt được điểm cao nhất đối với các môn logic, triết học, khoa học chính trị, và ging luận; nhưng xét tổng số điểm thì ông chỉ đứng thứ hai vì ông bị điểm tưng đối thấp đối với môn Kinh tế học. Sau này, Keynes đã nói một cách châm biếm rằng lúc đó "ông còn hiểu biết về kinh tế học nhiều hn ban giám kho của kỳ thi đó" (Harrod 1951, tr. 121)
Sau khi lựa chọn một chỗ làm tại văn phòng ấn độ, Keynes đã giúp tổ chức và điều phối các quyền lợi của Anh liên quan tới ấn độ. “Công việc đầu tiên của ông là hướng dẫn và sắp xếp việc chuyên chở bằng đường biển tới Bombay 10 con bê đực Ayershire, và việc này chỉ kéo dài được vài tháng" (Moggride 1992, tr. 168). Mọi thứ chẳng có gì thú vị sau đó và rất dễ hiểu là Keynes cm thấy nhàm chán với công việc của mình. Hai năm sau đó, vào năm 1908, ông quay trở về trường Cambridge để ging dạy kinh tế học. Ba năm sau ông *** đưng vị trí tổng biên tập tạp chí Economic Journal, là tạp chí kinh tế danh tiếng nhất trên thế giới vào thời đó.
Sự tôn vinh đầu tiên của công chúng đến với Keynes sau khi ông cho xuất bn cuốn Những hậu qu kinh tế của hoà bình, một cuốn sách viết về Hiệp ước hoà bình Versailles kết thúc Thế chiến Thứ nhất. Trong suốt Thế chiến I Keynes làm việc tại Bộ tài chính Anh và đầu tiên chịu trách nhiệm huy động các nguồn tài chính từ bên ngoài để cung cấp chi phí cho chiến tranh của Anh. Khi chiến tranh sắp đến hồi kết thúc, Keynes được chọn làm một thành viên của phái đoàn Anh tới Versailles đàm phán với Đức về việc bồi thường chiến tranh. Ngoài việc hạn chế những hành động gây khó chịu của những nhân vật quan trọng tại hội nghị hoà bình (tổng thống Mỹ Wilson, Thủ tướng Pháp Clemenceau, Thủ tướng Anh Loyd George), Keynes (1971-89, quyển 2) cũng đã chỉ trích gay gắt chính bn hiệp ước hoà bình. Theo như những tính toán của ông, nước Đức không thể thực hiện được những đòi hỏi của Anh và Pháp về việc bồi thường chiến phí. Một hậu qu kinh tế sẽ là sự lụi bại của nước Đức và lòng căm thù ngày càng cao của người Đức đối với Anh và Pháp. Hậu qu chính trị, thứ mà Keynes cũng lo sợ tưng tự, là sự trỗi dậy của một nước Đức quân phiệt đầy thù hận trong tưng lai.
Khi đã là một nhân vật có tiếng tăm trên c nước, Keynes chuyển sự quan tâm của mình sang các lý thuyết và chính sách kinh tế. Cuốn Kho luận về Ci cách tiền tệ (Keynes 1971-89, Q. 4) đã cnh báo về sự nguy hiểm của lạm phát. Cuốn sách hướng tới sự kiểm soát cung tiền của ngân hàng trung ưng như một phưng tiện ổn định mức giá và kiềm chế lạm phát. Trong công trình này cũng có câu châm ngôn nổi tiếng và đã bị hiểu sai của Keynes, đó là "trong dài hạn tất c chúng ta đều chết". Rất nhiều người đã cho rằng câu nói này ngụ ý rằng Keynes sẵn sàng hy sinh hoạt động kinh tế trong dài hạn để đổi lấy các lợi ích kinh tế ngắn hạn. Tuy nhiên đây hoàn toàn không phi là điều mà Keynes muốn nói. Hàm ý của Keynes là chỉ trích những người tin rằng vấn đề lạm phát cuối cùng sẽ tự nó được gii quyết, mà không cần tới bất kỳ sự can thiệp chủ động nào của chính phủ. Ngược lại, Keynes cm thấy rằng thay vì chờ đợi các vấn đề lạm phát tự điều chỉnh trong một tưng lai xa vời, tốt hn c là nên sử dụng những chính sách kinh tế để ci thiện vấn đề ngay trong hiện tại. Quan điểm của ông là không có lý do gì để chờ đợi những lợi ích trong tưng lai mờ mịt, khi một tiến trình nhanh chóng hn có thể gii quyết các vấn đề kinh tế bằng cách sử dụng những chính sách kinh tế một cách khôn ngoan.
Trong thập niên 1920, lạm phát bị đẩy lùi và nước Anh nhận thấy nó ngày càng bị lệ thuộc vào những dao động kinh tế và những thời kỳ thất nghiệp cao kéo dài. Keynes vì vậy đã chuyển hướng sang những vấn đề mới này. Cuốn Nghiên cứu về tiền tệ (Keynes 1971-89, quyển 5, 6) đã kho sát một cách chi tiết những mối quan hệ giữa tiền tệ, giá c và thất nghiệp. Keynes cho rằng mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư là nguyên nhân chính cho các dao động kinh tế. Theo Keynes. Khi người ta cố gắng tiết kiệm nhiều hn các doanh nghiệp muốn đầu tư, các doanh nghiệp sẽ nhanh chóng nhận thấy năng lực sn xuất của họ là dư thừa và có quá ít người có thể mua được hàng hoá họ sn xuất ra. Mặt khác, khi đầu tư vượt quá tiết kiệm, người ta sẽ tiêu dùng quá nhiều. Người tiêu dùng sẽ chi tiêu thay vì tiết kiệm và các doanh nghiệp sẽ có nhu cầu cao hn đối với lao động để sn xuất hàng hoá cũng như có nhu cầu cao hn đối với lao động xây dựng các nhà máy và chế tạo thiết bị. Tất c chi tiêu này sẽ đẩy tiền công và các chi phí sn xuất khác lên, và cũng làm tăng giá của hàng tiêu dùng. Lạm phát sẽ là kết cục cuối cùng.
Keynes nhấn mạnh rằng vấn đề nằm ở chỗ các quyết định tiết kiệm và đầu tư được thực hiện bởi các nhóm cá nhân khác nhau. Kết qu là không có sự *** bo nào rằng tiết kiệm và đầu tư sẽ bằng nhau. Keynes sau đó đưa ra luận cứ rằng trách nhiệm của ngân hàng trung ưng là phi giữ cho hai biến này bằng nhau, và do đó ngăn chặn được lạm phát và suy thoái. Nếu tiết kiệm vượt quá đầu tư, ngân hàng trung ưng cần hạ thấp lãi suất, như vậy vừa gim bớt tiết kiệm và kích thích việc đi vay. Ngược lại, nếu đầu tư vượt quá tiết kiệm, ngân hàng trung ưng cần tăng lãi suất, như vậy làm tăng tiết kiệm và gim việc vay mượn vì mục đích đầu tư.
Keynes được biết đến nhiều nhất vì cuốn cách kinh điển của ông, Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ (Keynes 1971-89, Q. 7). Tác phẩm này là nền tng cho sự phát triển của c một ngành kinh tế học (kinh tế học vĩ mô), và là công trình được nhắc đến và gây tranh cãi nhiều nhất đối với kinh tế học thế kỷ XX. Bn thân công trình này vừa là một sự công kích vào những người đi trước Keynes và cũng là một lý thuyết về những nhân tố xác định mức sn lượng và việc làm trong một quốc gia. Mặc dù cuốn sách nói rất ít về chính sách kinh tế, nhưng nó đã cung cấp một nền tng lý thuyết cho các hành động mang tính chính sách của chính phủ trong việc ngăn chặn cuộc Đại suy thoái đã gần như bao trùm tất c các quốc gia trong thập niên 30 của thế kỷ XX.
Keynes mở đầu cuốn Lý thuyết tổng quát bằng việc công kích Quy luật của Say, quan điểm cho rằng "bn thân cung sẽ tạo ra cầu của chính nó". Theo luật này, thất nghiệp là không thể có vì ứng với bất cứ sự tồn tại nào của cung lao động (hay bất cứ sự tồn tại cung hàng hoá nào trong nền kinh tế), sẽ có một nhu cầu đối với lượng lao động đó (hay một nhu cầu đối với những hàng hoá đó). Sau đó Keynes tiến tới lật ngược lại quy luật của Say, và đưa ra luận cứ rằng tổng cầu xác định cung của đầu ra và mức việc làm. Bất cứ khi nào cầu tăng cao, các nền kinh tế sẽ phồn thịnh, các doanh nghiệp sẽ mở rộng sn xuất và thuê thêm nhân công, và thất nghiệp sẽ không trở thành vấn đề nữa. Nhưng hễ khi nào cầu thấp, các hãng sẽ không thể bán được hàng của họ và họ sẽ buộc phi cắt gim sn lượng và việc làm. Nếu mọi thứ trở nên rất tồi tệ, sẽ có sự sa thi hàng loạt, thất nghiệp cao và suy thoái.
Vì những lý do rõ ràng như vậy, Keynes tiếp tục quay sang nghiên cứu tổng cầu và các nguyên nhân gây ra thay đổi trong tổng cầu. Sau khi phân tích hai thành tố quan trọng nhất của cầu, Keynes đã phát triển những lý thuyết hiện đại về chi tiêu của người tiêu dùng và đầu tư của doanh nghiệp.
Keynes xác định hai nhân tố quyết định chủ yếu của chi tiêu tiêu dùng - các nhân tố chủ quan và các nhân tố khách quan. Trong số những nhân tố chủ quan, hay những nhân tố tâm lý tác động tới tiêu dùng có sự không biết chắc chắn về tưng lai, mong muốn để lại tài sn thừa kế và mong muốn được hưởng thụ sự độc lập và quyền lực. Việc lo lắng hn về tưng lai kinh tế của cá nhân, mong muốn để lại tài sn cho con cái nhiều hn, hay mong muốn lớn hn về sự độc lập, sẽ dẫn tới tiết kiệm nhiều hn và chi tiêu ít hn. Ngược lại, một tưng lai kinh tế chắc chắn, không có người thừa kế và sự bàng quan về sự độc lập kinh tế của cá nhân sẽ làm gim tiết kiệm và tăng tiêu dùng.
Những nhân tố khách quan tác động tới tiêu dùng là những tác động kinh tế như lãi suất, thuế, sự phân phối thu nhập và của ci, thu nhập tưng lai kỳ vọng và quan trọng nhất là thu nhập hiện thời. Khi lãi suất tăng, người tiêu dùng sẽ trở nên do dự trong việc vay tiền cho mục đích mua nhà, xe hi mới và các hàng hoá mua bằng tín dụng khác. Ngược lại, với lãi suất thấp, người tiêu dùng có thể thấy thoi mái hn đối với việc vay nợ và chi tiêu. Cũng như vậy, khi của ci, thu nhập hiện thời, hoặc thu nhập kỳ vọng trong tưng lai tăng lên, mọi người sẽ chi tiêu nhiều hn và tiết kiệm ít hn, và nếu với ít của ci hn, thu nhập hiện thời và thu nhập kỳ vọng trong tưng lai thấp hn, mọi người sẽ chi tiêu ít đi và tiết kiệm nhiều hn.
Trong khi có nhiều nhân tố tác động tới tiêu dùng, thì đầu tư trong kinh doanh theo Keynes chỉ phụ thuộc vào hai yếu tố, đó là lợi nhuận kỳ vọng của đầu tư và lãi suất. Lợi nhuận kỳ vọng là những lợi ích từ việc đầu tư vào nhà xưởng và thiết bị mới; lãi suất là chi phí để có được các nguồn vốn dùng cho xây dựng nhà xưởng và mua sắm thiết bị. Nếu tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của dự án đầu tư lớn hn lãi suất, các hãng kinh doanh sẽ mở rộng sn xuất, xây dựng nhà xưởng và mua sắm thiết bị. Tuy nhiên, nếu lãi suất vượt quá tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của đầu tư, dự án đầu tư đó sẽ không được thực hiện.
Những thay đổi trong kỳ vọng và những thay đổi trong lãi suất dẫn đến những thay đổi trong đầu tư kinh doanh. Khi các chủ doanh nghiệp lạc quan về nền kinh tế (tin tuởng rằng họ sẽ có thể bán được nhiều hàng hoá trong tưng lai và nhận được một mức giá có lời từ người tiêu dùng cho những hàng hoá này), họ sẽ kỳ vọng vào tỷ suất lợi nhuận cao từ số tiền sử dụng để xây dựng nhà xưởng và mua thiết bị. Tuy nhiên khi họ bắt đầu bi quan, những người ra quyết định kinh doanh này cho rằng doanh số bán sẽ thấp và nghĩ rằng chỉ khi họ bán hàng hoá với giá rẻ thì người tiêu dùng mới mua những hàng hoá này. Trong trường hợp này, tỷ suất lợi nhuận đối với các dự án đầy tư sẽ được kỳ vọng là thấp và rất ít nhà máy mới được xây dựng.
Tiếp đó, Keynes gii thích cái gì quyết định lãi suất. Theo Keynes, lãi suất được xác định trong thị trường tiền tệ ni mà người dân và các doanh nghiệp có nhu cầu về tiền và ni các ngân hàng trung ưng kiểm soát cung tiền. Nhu cầu về tiền xuất phát từ các quyết định về phân bổ tài sn của người dân và các doanh nghiệp - họ có thể giữ tiền hay giữ tài sn của mình dưới dạng trái phiếu, cổ phiếu và loại tài sn khác.
Vì yêu cầu của thực tiễn, cung tiền trong nền kinh tế nhất định phi do một ai đó chi phối. Khi ngân hàng trung ưng tăng cung tiền, họ mua trái phiếu chính phủ. Một trái phiếu chỉ là một giấy cam kết tr cho người sở hữu nó một khon tiền cố định tại một thời điểm nào đó trong tưng lai. Để làm cho vấn đề đn gin, xét một trái phiếu cam kết tr người sở hữu nó 1000 đôla sau một năm. Nếu tôi mua trái phiếu này với giá 800 đôla, lãi suất tôi có được, hay tỷ suất lợi nhuận của số tiền tôi cho bất kỳ ai phát hành trái phiếu đó là 25 % (200 đô la tiền lãi của số 800 đô la tôi đã tr cho trái phiếu). Nếu giá của trái phiếu là 909 đô la thay vì 800 đô la, tôi sẽ chỉ có được khong 10 % lãi suất từ số tiền của mình (một khon lãi 91 đô la của số tiền 909 đô la tr cho trái phiếu). Và nếu tôi mua trái phiếu với giá 990 đô la, tôi sẽ chỉ kiếm được 1% lợi tức (10 đô la trên khon 990 đô la bỏ ra). Như vậy, giá trái phiếu và lợi nhuận có sự liên hệ ngược chiều - khi cái này tăng lên, cái kia gim xuống và ngược lại.
Khi ngân hàng trung ưng mua trái phiếu, giá trái phiếu được đẩy lên và tỷ suất lợi nhuận của các tài sn này bị hạ thấp. Ngược lại, khi ngân hàng trung ưng muốn gim cung tiền họ phi bán trái phiếu. Để mọi người mua những trái phiếu này, ngân hàng trung ưng phi bán chúng với mức giá thấp. Vì vậy, những người mua trái phiếu sẽ nhận được một mức tỷ suất lợi tức có lời đối với tiền của họ, hay lãi suất sẽ tăng lên.
Sau khi chỉ trích lý thuyết cổ điển, và sau khi vạch ra các nhân tố quyết định tổng cầu đối với hàng hoá và dịch vụ, thật ngạc nhiên là Keynes đã nói rất ít về việc làm thế nào để gim thất nghiệp và ngăn chặn các cuộc khủng hong. Điều này là rất đặc biệt vì mối quan tâm đầu tiên và trên hết của Keynes luôn là chính sách kinh tế.
Ông ủng hộ c việc tạo tiền (chính sách tiền tệ) cũng như việc chi tiêu và cắt gim thuế của chính phủ (chính sách tài khoá). Trong một đoạn được trích dẫn rất nhiều, Keynes viết về nhu cầu lớn hn đối với nhà ở, bệnh viện trường học và đường sá. Tuy nhiên, ông có lưu ý rằng rất nhiều người có thiên hướng phn đối những chi tiêu "lãng phí" đó của chính phủ. Do đó, một cách tiếp cận khác (tạo tiền) cũng rất cần thiết.
Nếu như Kho bạc nhét đầy tiền vào những cái chai, chôn chúng xuống đất ở một độ sâu thích hợp trong những mỏ than đã ngừng khai thác mà sau đó bị phủ đầy rác thi của thành phố... các hãng tư nhân (sẽ) đào những tờ tiền này lên và sẽ không còn thất nghiệp nữa.
(Keynes 1971-89, quyển 7, tr. 129)
Và trong một đoạn bị chê trách rất nhiều, Keynes (1971-89, Q. 7, tr. 378) kêu gọi "một cái gì đó kiểu như xã hội hoá toàn diện hoạt động đầu tư." Trong khi nhiều người cho rằng Keynes có ý ủng hộ việc chính phủ kiểm soát tất c các quyết định đầu tư tư nhân, thì cái mà Keynes thực sự muốn nói tới lại là các chính sách chi tiêu của chính phủ nhằm ổn định tổng mức đầu tư trong nền kinh tế quốc dân (Pressman 1987). Keynes tin rằng chi tiêu của người tiêu dùng là tưng đối ổn định, và thay đổi không nhiều theo thời gian. Tuy nhiên, đầu tư của doanh nghiệp lại bị chi phối bởi "độngtính" (animal spirit) rất dễ thay đổi. Những thay đổi trong niềm tin kinh doanh hay kỳ vọng về tưng lai của nền kinh tế sẽ thay đổi mức đầu tư và sẽ có một tác động đáng kể tới nền kinh tế. Hn nữa, những phỏng đoán mà bn thân chúng biến chúng thành hiện thực rất có nhiều kh năng gây tác động. Khi các hãng tin tưởng vào nền kinh tế, họ sẽ đầu tư nhiều hn và nền kinh tế sẽ tăng trưỏng. Sự tăng trưởng này sẽ làm tăng thêm kỳ vọng vào mức lợi nhuận và dẫn tới một sự lạc quan và đầu tư thậm chí lớn hn. Mặt khác, những dự tính về một nền kinh tế m đạm sẽ hạ thấp mức đầu tư, làm chậm hoạt động kinh tế và làm tăng thêm sự bi quan về lợi nhuận trong tưng lai. Kết qu là, khi có sự lạc quan, nền kinh tế tăng trưởng, tuy nhiên khi bắt đầu có sự bi quan có thể sẽ xy ra sự suy gim đột ngột trong đầu tư và thất nghiệp sẽ tràn lan.
Gii pháp của Keynes là phi để chính phủ ổn định mức đầu tư. Khi đầu tư tư nhân thấp, chính phủ nên vay tiền (có nghĩa là tạo ra thâm hụt ngân sách) và tham gia vào các dự án đầu tư công cộng như xây dựng đường sá, cầu cống mới, chi tiêu nhiều hn vào các trường học và vào giáo dục có chất lượng cao hn. Việc này sẽ khiến nền kinh tế tăng trưởng cũng như tăng thêm tính lạc quan của các kỳ vọng. Ngược lại, khi đầu tư doanh nghiệp cao do sự lạc quan, chính phủ nên ngừng vay tiền và cắt gim đầu tư công cộng của mình.
Trong những năm 40, Keynes lại tiếp tục làm việc cho chính phủ Anh. Ông cũng quay trở lại với những vấn đề chính sách xung quanh việc chuẩn bị cho chiến tranh. Ông đã giúp đàm phán các khon vay của Anh từ nước Mỹ để tham gia Thế chiến II; và ông đã xây dựng một bn đề xuất nhằm giúp nước Anh tài trợ cho sự chuẩn bị này. Thay vì tăng thuế (việc sẽ làm gim thu nhập của nước Anh), và thay vì không làm gì để tài trợ cho chi tiêu chiến tranh (việc sẽ làm phát sinh lạm phát do thiếu hàng hoá cộng với nhu cầu cao), Keynes đề xuất một kế hoạch tiết kiệm bắt buộc hay tr chậm, ý tưởng của ông là tất c các công dân Anh có thu nhập cao hn một mức tối thiểu nào đó sẽ phi lấy bớt tiền của họ ra khỏi chi tiêu thường ngày và cho vào các tài khon của ngân hàng để tài trợ cho chiến tranh. Những tài khon này sẽ được tr lãi trong suốt thời gian chiến tranh, tuy nhiên tiền trong đó sẽ không được rút ra trừ những trường hợp khẩn cấp. Những khon tiết kiệm này sau đó có thể được dùng để cho chính phủ vay và sử dụng để tài trợ cho việc chuẩn bị chiến tranh. Sau chiến tranh, tiền trong những tài khon này có thể được tự do rút ra và sử dụng cho các nhu cầu tiêu dùng. Khon chi tiêu thêm này, với vai trò như lợi ích tăng thêm sẽ giúp tránh được một cuộc đại suy thoái khác.
Khi Đại chiến thế giới thứ II kết thúc, Keynes đã tham gia gii quyết trật tự tiền tệ quốc tế mới do các nước thắng trận đề xướng và thực hiện. Ông tin rằng một nguyên nhân chính của cuộc đại suy thoái thế giới trong những năm 30 là tất c các quốc gia đã cố gắng xuất khẩu thất nghiệp của mình cho các bạn hàng. Bằng cách để cho cán cân thưng mại thặng dư, mỗi quốc gia có thể sn xuất nhiều hn và tạo ra nhiều công ăn việc làm trong nước hn; các bạn hàng của nó sẽ nhập khẩu hàng hoá thay vì sn xuất trong nước. Kết qu là, sẽ cần ít công nhân hn ở nước ngoài và thất nghiệp sẽ tăng ở nước ngoài.
Hầu hết các quốc gia đều cố gắng tạo ra thặng dư thưng mại thông qua phá giá đồng tiền của họ. Bằng cách làm cho ngoại tệ và hàng hoá nước ngoài đắt hn, các chính phủ hiểu rằng công dân của họ sẽ mua ít hàng hoá của nước ngoài hn và mua nhiều hàng hoá được sn xuất bởi các hãng nội địa hn. Tưng tự như vậy, bằng cách làm cho tiền nội địa và hàng hoá nội địa rẻ hn cho mọi người ở các quốc gia khác, phá giá sẽ làm tăng xuất khẩu. Vấn đề là ở chỗ mỗi khi một quốc gia phá giá đồng tiền của nó nhằm tạo ra xuất khẩu và việc làm cho các công dân của nó, các quốc gia khác cũng làm như vậy. Kết qu là một loạt các cuộc phá giá sẽ không đem lại lợi ích cho bất kỳ quốc gia nào.
Nhằm ngăn chặn các cuộc phá giá có tính chất cạnh tranh, Keynes đề xuất một hệ thống các tỷ giá cố định một cách tưng đối. Hệ thống này được các nước thuộc phe Đồng minh chấp thuận tại Bretton Woods, New Hampshire vào năm 1944 và được gọi là hệ thống Bretton Woods. Hệ thống này yêu cầu mỗi quốc gia cố định đồng tiền của mình vào một aox vàng và duy trì tỷ lệ đó. Vì tất c các đồng tiền quốc gia đều được neo vào vàng, giá trị của các đồng tiền được cố định với nhau. Nếu chính phủ Mỹ tuyên bố rằng mỗi đôla có giá trị 0.1 aox vàng, và nếu chính phủ Anh quyết định mỗi Bng có giá trị 0.2 aox vàng thì 2 đô la sẽ tưng đưng với một Bng, bởi vì c hai lượng tiền này đều tưng đưng 0.2 aox vàng.
Hệ thống Bretton Woods hoạt động trong khong 25 năm. Trong suốt thời gian này nền kinh tế thế giới tăng trưởng với những tốc độ chưa từng có và thất nghiệp ở các nước phát triển đạt các mức thấp nhất trong thế kỷ XX.
Tuy nhiên các vấn đề khó khăn đã ngấm ngầm xuất hiện. Tại các mức tỷ giá cố định được tho thuận, vàng đã nhanh chóng chy ra khỏi nước Mỹ và nước Mỹ lo sợ về việc hết vàng. Cần phi làm gì đó để ngăn chặn việc này. Hệ thống Bretton Woods sụp đổ vào tháng 8 năm 1971 khi tổng thống Nixon chấm dứt kh năng chuyển đổi đô la thành vàng, và sau đó tuyên bố rằng ông sẽ để cho giá trị đồng đô la được th nổi tưng đối so với một aox vàng. Hệ thống tỷ giá biến đổi và linh hoạt hiện đang hoạt động ra đời từ đó.
Một cách nữa để ngăn chặn tác động gim phát của một quốc gia đang cố gắng thực hiện thặng dư thưng mại là thiết lập một c chế quốc tế nhằm giúp xoá bỏ các mất cân đối thưng mại. Keynes muốn thiết lập một hệ thống cho phép các nước có thâm hụt cán cân thưng mại vay tiền, và phạt các quốc gia thường xuyên duy trì thặng dư thưng mại. Giống như các chính sách tiền tệ và tài khoá trong Lý thuyết tổng quát, điều này sẽ khuyến khích các quốc gia chi tiêu vào hàng nhập khẩu, do đó sẽ ngăn bất kỳ xu hướng nào dẫn tới một cuộc đại suy thoái khác. C chế xoá bỏ mất cân bằng và việc cho vay dễ dàng mà Keynes muốn cũng đã được thiết lập tại Bretton Woods; đó chính là Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới. Tuy nhiên nước Mỹ đã kỳ vọng rằng nó sẽ có thặng dư thưng mại vì năng lực sn xuất công nghiệp của nó không bị tàn phá trong Thế chiến II; vì vậy nước Mỹ đã từ chối ủng hộ bất kỳ một hệ thống nào trừng phạt các quốc gia có thặng dư liên tục. Keynes đã rất nỗ lực vận động cho đề xuất chính sách này; tuy nhiên Mỹ có lợi thế áp đo trên mọi phưng diện trong đàm phán do số tiền nó đã cho Anh vay và Mỹ quyết không nhượng bộ (xem Block 1977). Trong quá trình đàm phán những chi tiết cho tho hiệp cuối cùng, Keynes bị những cn đau tim nguy kịch hành hạ. Và ông đã mất tại nhà riêng ở Cambridge.
Rõ ràng là không một nhà kinh tế nào của thế kỷ XX lại có nh hưởng lớn lao như Keynes. Trên phưng diện lý thuyết, Keynes đã phát triển các phân tích kinh tế vĩ mô, và kinh tế học vĩ mô như vẫn được ging dạy tại các trường đại học và cao đẳng ngày nay đều dựa trên những khái niệm và cách thức phân tích do Keynes phát triển. Thậm chí các nhà kinh tế học vĩ mô dưng đại phn đối các ý tưởng của Keynes (xem thêm LUCAS và FRIEDMAN) cũng nhận thấy là cần thiết phi bắt đầu với lý thuyết Keynes và từ đó gii thích những hạn chế và các vấn đề trong lý thuyết của ông. Trên phưng diện chính sách, rất nhiều công cụ được các ngân hàng và các chính phủ trung ưng sử dụng để giúp kiểm soát chu kỳ kinh doanh, cũng như các c chế quốc tế hiện hành được dùng nhằm gii quyết những mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế đều bắt đầu từ Keynes.

Ghi chú:
Bài viết này trước đây đã được đăng trong Encyclopedia of Political Economy (Bách khoa thư về Kinh tế Chính trị), ed. Phil O’Hara et al., New York and London, Routledge, 1998.