THÔNG CÁO BÁO CHÍ VỀ SỐ LIỆU THỐNG KÊ KINH TẾ-XÃ HỘI QUÍ I NĂM 2008

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

    

 

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

 


      Hà Nội, ngày 28 tháng 3 năm 2008

 

THÔNG CÁO BÁO CHÍ

VỀ SỐ LIỆU THỐNG KÊ KINH TẾ-XÃ HỘI

QUÍ I NĂM 2008

Quí I năm 2008, tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp, đồng đô la Mỹ giảm giá so với hầu hết các đồng tiền khác, giá cả tiêu dùng của nhiều nền kinh tế lớn đã tăng cao so với nhiều năm trước đó, giá dầu và giá của nhiều loại vật tư, nguyên liệu tăng cao, gây ảnh hưởng mạnh đến sản xuất trong nước; giá tiêu dùng trong nước tăng cao; rét đậm, rét hại kéo dài ở các tỉnh phía Bắc, cùng với dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi đã gây thiệt hại đến sản xuất và đời sống của dân cư.

Nhưng nhờ từ đầu năm, Chính phủ đã đề ra Nghị quyết về giải pháp chủ yếu điều hành thực hiện kế hoạch và ngân sách Nhà nước năm 2008 và sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và toàn dân, nền kinh tế nước ta vẫn tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng, xã hội ổn định. Trên cơ sở số liệu hai tháng và ước tính số liệu tháng 3, Tổng cục Thống kê thông báo khái quát tình hình kinh tế - xã hội quí I năm 2008 như sau:

A. TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp

Tổng sản phẩm trong nước quí I/2008 ước tính tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,9%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,1% và khu vực dịch vụ tăng 8,1%. Tăng trưởng quí I năm nay thấp hơn mức tăng trưởng 7,8% của quí I năm trước, do tăng trưởng công nghiệp giảm và tăng trưởng của khu vực dịch vụ chỉ tương đương mức tăng trưởng quí I năm trước.

Tăng trưởng khu vực công nghiệp và xây dựng quí I năm nay thấp hơn 1,0 điểm phần trăm so với mức tăng 9,1% của quí I năm trước, do ngành xây dựng giảm 4,7 điểm phần trăm, ngành công nghiệp chế biến giảm 0,9 điểm phần trăm (riêng ngành sản xuất và phân phối điện, ga, nước tăng 1 điểm phần trăm, công nghiệp khai thác vẫn giữ được mức tăng trưởng bằng cùng kỳ năm trước).

Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng 8,1%, tương đương với mức tăng trưởng dịch vụ quí I năm trước, chủ yếu do ngành thương mại chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực dịch vụ nhưng có tốc độ tăng trưởng quí I năm nay xấp xỉ bằng mức tăng trưởng cùng kỳ năm trước (Tổng mức bán lẻ hàng hóa quí I năm nay theo giá thực tế tăng 29% so với quí I năm trước, nhưng chủ yếu do giá tiêu dùng tăng cao hơn). Một số ngành như khách sạn, nhà hàng; vận tải, bưu điện, du lịch vẫn duy trì được mức tăng trưởng cao hơn mức tăng chung của khu vực dịch vụ và cao hơn mức tăng của năm trước: khách sạn, nhà hàng tăng 12,2%; vận tải, bưu điện, du lịch tăng 10,7%.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quí I/2008 tăng 0,3 điểm phần trăm (quí I năm trước tăng 2,6%), chủ yếu do sản xuất vụ đông xuân ở các tỉnh phía Nam được mùa và sản xuất thuỷ sản đạt mức tăng cao hơn cùng kỳ năm trước; các ảnh hưởng thời tiết xấu đến lúa đông xuân của các tỉnh phía Bắc sẽ được tính đến khi thu hoạch lúa của các địa phương này vào quí II tới. 

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2008 ước tính đạt 22,3% dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa đạt 21,3% (thu từ kinh tế Nhà nước đạt 22,7%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, không kể dầu thô đạt 16,3%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước đạt 20,7%; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 22,1%; thu phí xăng dầu đạt 17,5%; thu phí, lệ phí đạt 19,9%). Thu từ dầu thô đạt 22% dự toán năm; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 26,1%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2008 ước tính bằng 19,1% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 16,6% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 16,5%); chi sự nghiệp kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể (gồm cả chi tăng mức lương cơ bản) bằng 20,5%; chi trả nợ và viện trợ đạt 22%.

Khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quí I/2008 theo giá thực tế ước tính đạt 105,1 nghìn tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2007, bao gồm vốn khu vực Nhà nước là 47,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 45,5% tổng vốn và tăng 14,6%; khu vực ngoài Nhà nước là 30,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 29%, tăng 11,3%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 26,8 nghìn tỷ đồng (tương đương với 1,68 tỷ USD), chiếm 25,5% và tăng 24,1%.

Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện quí I/2008 ước tính đạt 18 nghìn tỷ đồng, bằng 18,3% kế hoạch năm, trong đó vốn Trung ương quản lý 5,48 nghìn tỷ đồng, bằng 16,5%; vốn địa phương quản lý 12,52 nghìn tỷ đồng, bằng 19,3%. Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện quí I nhìn chung đạt thấp, trong đó nhiều Bộ, ngành và địa phương mới thực hiện bằng khoảng 11-12% kế hoạch năm.

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt kết quả khá cao. Tổng vốn đăng ký của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài từ đầu năm đến 22/3 (gồm cả vốn cấp mới và tăng thêm) ước tính đạt khoảng 5,44 tỷ USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm trước, gồm có vốn của dự án mới cấp giấy phép đạt 5156 triệu USD, tăng 43%; vốn tăng thêm đạt 280,3 triệu USD, giảm 53%.

Vốn ODA cam kết trong quí I/2008 đạt gần 369 triệu USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn vay trên 342 triệu USD và vốn viện trợ không hoàn lại là 26,4 triệu USD. Tổng giá trị giải ngân vốn ODA ước tính đạt khoảng 210 triệu USD, bằng 11% kế hoạch năm.

Giá tiêu dùng tháng 3/2008 tăng thấp hơn mức tăng của tháng trước nhưng nhiều mặt hàng vẫn đứng ở mức giá cao. So với tháng trước, giá tiêu dùng tháng 3/2008 tăng 2,99% (tháng 02 tăng 3,56% và tháng 01 tăng 2,38%). Tuy nhiên, đây vẫn là mức tăng cao và bất thường so với mức tăng giá tiêu dùng tháng 3 của các năm trước đây.

Chỉ số giá tiêu dùng

%

 

2004

2005

2006

2007

2008

Tháng trước = 100

 

 

 

 

 

Tháng 1

101,1

101,1

101,2

101,05

102,38

Tháng 2

103,0

102,5

102,1

102,17

103,56

Tháng 3

100,8

100,1

  99,5

99,78

102,99

Tháng 12 năm trước=100

 

 

 

 

 

Tháng 1

101,1

101,1

101,2

101,05

102,38

Tháng 2

104,1

103,6

103,3

103,24

106,02

Tháng 3

104,9

103,7

102,8

103,02

109,19

 

Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ tháng này, tăng mạnh đẩy giá lên là các nhóm hàng lương thực; phương tiện đi lại, bưu điện; nhà ở và vật liệu xây dựng với các mức tăng so với tháng trước lần lượt là: lương thực tăng 10,5%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 5,76%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3,55%; các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác chỉ tăng ở mức 0,3%-1,5%. So với tháng 12/2007, giá tiêu dùng ba tháng đã tăng 9,19%, trong đó hàng lương thực tăng 17,91%; thực phẩm tăng 13,08%; nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 8,01%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 7,32%; các nhóm khác tăng phổ biến từ 0,6% đến 4,4%. Bình quân mỗi tháng trong quí I năm nay, giá tiêu dùng đã tăng ở mức 16,38% so với quí I năm trước, trong đó hàng thực phẩm tăng 28,41%; lương thực tăng 21,53%; nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 17,94%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 10,05%; các nhóm khác tăng phổ biến từ 2% đến 7,7%.

Giá tiêu dùng quí I tăng cao do tăng giá nhập khẩu nguyên liệu đầu vào ảnh hưởng đến giá sản xuất và dịch vụ trong nước; nguồn cung thực phẩm giảm do rét đậm, rét hại ảnh hưởng đến sản lượng cây trồng và vật nuôi; giá lương thực trên thị trường thế giới tăng mạnh, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo đang mua lúa với giá khá cao (từ 4 triệu đến 4,5 triệu đồng/tấn) nên mặc dù ở các tỉnh phía Nam đang thu hoạch rộ lúa đông xuân và được mùa nhưng giá lương thực trong nước vẫn tiếp tục tăng cao. Bên cạnh các nguyên nhân trên còn có những hạn chế và bất cập trong điều hành chính sách tiền tệ, tài khoá và điều hành giá cả.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quí I năm 2008 theo giá so sánh ước tính đạt 43,19 nghìn tỷ đồng, tăng 4,1% so với quí I năm 2007, trong đó nông nghiệp đạt 32,2 nghìn tỷ đồng, tăng 2,9%; lâm nghiệp đạt 1,39 nghìn tỷ đồng, tăng 0,4%; thủy sản đạt 9,59 nghìn tỷ đồng, tăng 9,0%. Tình hình sản xuất cụ thể của từng ngành như sau:

a.       Nông nghiệp

Tính đến 15/3/2008 cả nước đã gieo cấy 2911,3 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 99,1% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1036,2 nghìn ha, bằng 94,7%, trong đó các tỉnh đồng bằng sông Hồng 529,2 nghìn ha, bằng 96,4%. Các địa phương phía Bắc gieo cấy không đạt kế hoạch và chậm so với cùng kỳ năm trước, do ảnh hưởng của các đợt rét đậm, rét hại kéo dài đã làm hơn 170 nghìn ha lúa đông xuân và 12 nghìn ha mạ bị chết rét, phải gieo cấy lại. Các địa phương phía Nam đã gieo sạ 1875,1 nghìn ha, bằng 101,7% cùng kỳ năm trước, trong đó các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long 1525,3 nghìn ha, bằng 101,3%.

Đến trung tuần tháng 3, các địa phương phía Nam đã thu hoạch 953,9 nghìn ha lúa đông xuân, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 933,9 nghìn ha, chiếm 61% diện tích đã xuống giống. Theo báo cáo sơ bộ, sản lượng lúa đông xuân vùng đồng bằng sông Cửu Long ước tính đạt 9,4 triệu tấn, tăng trên 300 nghìn tấn (tương ứng với tăng trên 4%) so với vụ đông xuân năm trước, do tăng cả diện tích và năng suất.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm trong quí I/2008 chịu ảnh hưởng của thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài đã làm cho 127 nghìn con trâu bò bị chết (Lạng Sơn 24,6 nghìn con, Cao Bằng 21,5 nghìn con, Lào Cai 17,4 nghìn con, Bắc Kạn 13,9 nghìn con, Sơn La 13,2 nghìn con, Nghệ An 9,4 nghìn con). Tính đến ngày 22/3/2008, dịch lở mồm long móng ở gia súc và dịch tai xanh trên lợn đã được khống chế trên toàn quốc, tuy nhiên dịch cúm gia cầm có xu hướng bùng phát trở lại. Hiện nay, cả nước còn 8 tỉnh, thành phố có dịch cúm gia cầm xảy ra chưa qua 21 ngày là Tuyên Quang, Hà Nội, Quảng Trị, Sóc Trăng, Lào Cai, Quảng Bình, Quảng Nam và Cà Mau.

b. Lâm nghiệp

Gía trị sản xuất lâm nghiệp quí I/2008 theo giá so sánh năm 1994 ước tính đạt 1395,4 tỷ đồng, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2007. Diện tích trồng rừng tập trung ước tính đạt 39 nghìn ha, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước; số lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán 60,8 triệu cây, giảm 1,6%; sản lượng gỗ khai thác 484,2 nghìn m3, tăng 0,6%; sản lượng củi khai thác 6,6 triệu ste, tăng 0,8%. Công tác bảo vệ rừng đã được ngành kiểm lâm và các địa phương quan tâm, nên mặc dù thời tiết hanh khô kéo dài ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và Đông Nam bộ, nhưng chỉ có 275 ha rừng bị thiệt hại, giảm 70% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 145 ha. Một số địa phương có diện tích rừng bị cháy và bị chặt, phá nhiều là: Điện Biên 88 ha, Tây Ninh 53 ha, Đắk Nông 48 ha, Bắc Giang 32 ha.

c. Thuỷ sản

Gía trị sản xuất thuỷ sản quí I/2008 theo giá so sánh năm 1994 ước tính đạt 9590,7 tỷ đồng, tăng 9% so với quí I/2007, trong đó nuôi trồng tăng 16,9%; khai thác tăng 0,8%. Sản lượng thuỷ sản quí I ước tính đạt 977,7 nghìn tấn, tăng 10,7%, trong đó cá tăng 13,1%; tôm tăng 5,1%.

Nuôi trồng thuỷ sản trong quí I đạt khá, chủ yếu do diện tích nuôi trồng thuỷ sản ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhất là các tỉnh Bến Tre, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long đang vào vụ thu hoạch và không bị ảnh hưởng nhiều bởi thời tiết. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng quí I/2008 ước tính đạt 416 nghìn tấn, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng cá đạt 313 nghìn tấn, tăng 35,7% (Tiền Giang tăng 54,2%, Kiên Giang tăng 41,8%; riêng An Giang thu hoạch cá tra đạt 91 nghìn tấn, tăng 132%), sản lượng tôm đạt 58,5 nghìn tấn, tăng 7,1%. Thời tiết các địa phương phía Nam tương đối thuận nên một số tỉnh đã xuống giống xong tôm sú vụ I; trong khi ở phía Bắc rét đậm, rét hại kéo dài đã ảnh hưởng đến tiến độ xuống giống thuỷ sản và tỷ lệ giống thả nuôi hao hụt khá lớn.

Sản lượng thuỷ sản khai thác quí I/2008, ước tính đạt 561,7 nghìn tấn, tăng 1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển 517,1 nghìn tấn, tăng 1%. Khai thác thuỷ sản tăng vào thời gian hai tháng đầu năm, do thời tiết ngư trường tương đối ổn định; sang tháng 3 sản lượng thuỷ sản khai thác giảm do giá xăng, dầu tăng mạnh nên hiệu quả khai thác giảm, ngư dân phải tổ chức lại sản xuất, hạn chế số tàu thuyền ra khơi đánh bắt nhằm giảm chi phí cho khai thác mới đảm bảo có lãi.

3. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp quí I/2008 tính theo giá so sánh 1994 tăng 16,3% so với quí I năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước tăng 6,7% (Trung ương quản lý tăng 9,1%, địa phương quản lý giảm 0,7%); khu vực ngoài Nhà nước tăng 22,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,1% (dầu mỏ và khí đốt tăng 1%, các sản phẩm khác tăng 18,8%).

Trong các ngành sản xuất công nghiệp cấp I (bao gồm công nghiệp khai thác mỏ, công nghiệp chế biến và sản xuất, phân phối điện, ga, nước), công nghiệp chế biến tăng 17,6% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất và phân phối điện, ga, nước tăng 13,8% (điện sản xuất đạt 17 tỷ kwh, tăng 15,2%); công nghiệp khai thác mỏ tăng 1,8% (dầu thô khai thác đạt 3,95 triệu tấn, tăng 0,5% và than sạch khai thác tăng 3,2%).

Một số sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ như: Xe tải lắp ráp tăng 111,3%; xe khách tăng 106,1%; điều hòa nhiệt độ tăng 68,4%; tủ lạnh, tủ đá tăng 35,6%; máy giặt tăng 32,5%; dầu thực vật tinh luyện tăng 30,5%; tivi các loại tăng 26,3%; sơn hóa học tăng 25,8%; thủy hải sản chế biến tăng 21,3%, quần áo mặc thường cho người lớn tăng 19,9%; thép tròn các loại tăng 15,6% ; gạch xây bằng đất nung các loại tăng 15,3%; xi măng tăng 15,2%, phân hoá học tăng 14,3%. Bên cạnh đó một số sản phẩm bị giảm sút so với cùng kỳ năm trước như vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc tơ nhân tạo, giày dép ủng bằng da, giả da cho người lớn, kính thuỷ tinh.v.v...

Nguyên nhân chính làm cho tốc độ tăng sản xuất công nghiệp quí I thấp hơn tốc độ tăng của cùng kỳ năm trước chủ yếu do giá nguyên vật liệu, nhiên liệu đầu vào của hầu hết các ngành công nghiệp (đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo) tăng cao đồng loạt, ảnh hưởng lớn đến tính ổn định, đồng thời tiềm ẩn khả năng rủi ro cao trong sản xuất và tiêu thụ của ngành công nghiệp. Hơn nữa, quí I hàng năm thường là thời gian các doanh nghiệp tìm kiếm khách hàng, đối tác để ký kết các hợp đồng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Do vậy, giá nguyên vật liệu tăng cao và khó lường đã làm cho cả doanh nghiệp sản xuất và khách hàng đều gặp khó khăn trong việc ký kết các hợp đồng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là các hợp đồng có giá trị lớn, ổn định lâu dài.

4. Thương mại, dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hoá và dịch vụ phục vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quí I/2008 theo giá thực tế, ước tính đạt 218,3 nghìn tỷ đồng, tăng 29,2% so với quí I năm trước, trong đó khu vực kinh tế tập thể, tư nhân và cá thể tăng cao ở mức 34-36%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 38,1%; riêng kinh tế Nhà nước giảm 1,4%. Trong các ngành, thương nghiệp chiếm 82,5% tổng mức và tăng 29,7% so với cùng kỳ năm trước; khách sạn nhà hàng chiếm 11% và tăng 26,1%; du lịch lữ hành chiếm 1,4% và tăng 31,3%; dịch vụ chiếm 5,1% và tăng 28,4%. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quí I năm nay tăng khoảng 13%, thấp hơn mức tăng 15% của quí I năm trước.

b. Xuất, nhập khẩu hàng hoá

Giá trị xuất khẩu hàng hóa quí I/2008 ước tính đạt 13,03 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước 5,37 tỷ USD, tăng 14,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 5,04 tỷ USD, tăng 21,1% và dầu thô 2,62 tỷ USD, tăng 48,1%. Nhìn chung, trong quí I năm nay giá trị xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng chủ yếu đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Đến hết tháng 3/2008, đã có 3 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD và cả ba mặt hàng này đều có tốc độ tăng cao so với quí I năm trước: dầu thô đạt trên 2,6 tỷ USD, tăng 48,1%; dệt may 1,9 tỷ USD, tăng 20,2%; giày dép trên 1 tỷ USD, tăng 16,1%. Xuất khẩu thủy sản 797 triệu USD, tăng 11,4% so với quí I năm trước; cà phê 795 triệu USD, tăng 2,7%; sản phẩm gỗ 691 triệu USD, tăng 21,3%; điện tử, máy tính 532 triệu USD, tăng 16,8%; gạo 366 triệu USD, tăng 42,6%.

Giá trị xuất khẩu của một số mặt hàng tăng chủ yếu do giá xuất khẩu tăng cao như: giá dầu thô tăng 64,4%; than đá tăng 51,8%; gạo tăng 35,3%; cà phê tăng 38,4%; cao su tăng 30,3%; hạt tiêu tăng 34,3%, hạt điều tăng 19,6%, chè tăng 37,4%. Nếu tính riêng 8 mặt hàng này, thì giá trị xuất khẩu tăng do giá đã khoảng 1,5 tỷ USD (riêng dầu thô và than đá được lợi khoảng 1,1 tỷ USD do giá xuất khẩu tăng).

Giá trị nhập khẩu hàng hóa quí I ước tính đạt gần 20,4 tỷ USD, tăng 62,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 75,1% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 39%. Nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng; nguyên, nhiên vật liệu (trừ lúa mỳ giảm mạnh cả lượng và giá trị) và các mặt hàng phục vụ tiêu dùng trong nước đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Một số mặt hàng có giá trị lớn và tốc độ tăng cao như: máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 3,5 tỷ USD, tăng 56,6%; xăng, dầu trên 2,8 tỷ USD, tăng 88,9%; sắt thép 2,4 tỷ USD, tăng 161,9%; điện tử, máy tính và linh kiện 906 triệu USD, tăng 50,5%; chất dẻo 684 triệu USD, tăng 29,8%; ô tô 614 triệu USD, tăng 324,6%.

Nhập khẩu tăng cao do yêu cầu phát triển kinh tế, nhập khẩu máy móc thiết bị và lượng nhập khẩu của một số vật tư, nguyên liệu tăng cao (lượng nhập khẩu xăng dầu tăng 21,8%, sắt thép tăng 110,7%; phân bón tăng 18,2%.v.v...); giá nhập khẩu của một số nguyên vật liệu tăng cao so với cùng kỳ năm trước; nước ta thực hiện giảm thuế theo cam kết hội nhập quốc tế và đồng đô la yếu làm giá nhập khẩu rẻ hơn. Tuy vậy, nhập khẩu trong quí I tăng quá cao so với tốc độ tăng xuất khẩu (62,5% so với 22,7%) và xu hướng ngày càng doãng ra qua các tháng đã làm gia tăng nhập siêu. Giá trị hàng hóa nhập siêu quí I/2008 là 7,4 tỷ USD, bằng 56,5% giá trị xuất khẩu hàng hóa và tăng gấp 3,5 lần so với mức nhập siêu của quí I/2007.

c. Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến Việt Nam trong quí I, ước tính đạt 1,3 triệu lượt người, tăng 15,7% so với quí I/2007. Trong đó, lượng khách đến lớn nhất với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng 772,1 nghìn lượt người, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước; đến vì công việc 237,7 nghìn lượt người, tuy chiếm tỷ trọng khoảng 18,5% nhưng có tốc độ tăng cao nhất, tăng 58,2%; thăm thân nhân 198,8 nghìn lượt người, tăng 11,4%.

Dẫn đầu là lượng khách đến từ Trung Quốc với 216,9 nghìn lượt người, có tốc độ tăng khá cao, tăng 60,2% so với cùng kỳ năm 2007; tiếp theo là Hàn Quốc 141,4 nghìn lượt người đạt mức xấp xỉ cùng kỳ (99,2%); Hoa Kỳ 133 nghìn lượt người, tăng 7,9%; Nhật Bản 110,4 nghìn lượt người, giảm 7%. Một số quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng khách đến nước ta đạt trên 3 vạn lượt người có chiều hướng tăng: Đức 30,2 nghìn lượt người, tăng 10,9%; Anh 30,3 nghìn lượt người, tăng 12,3%; Xin-ga-po 36,8 nghìn lượt người, tăng 19,6%; Ma-lai-xi-a 40,7 nghìn lượt người, tăng 16,3%; Pháp 46,7 nghìn lượt người, tăng 3,7%; Thái Lan 52,5 nghìn lượt người, tăng 34,5%; Ôx-trây-li-a 80 nghìn lượt người, tăng 26%; Đài Loan 80,5 nghìn lượt người, tăng 8%. Riêng Cam-pu-chia 39 nghìn lượt người, giảm 12,7%.

d. Giao thông vận tải

Hoạt động vận tải quí I/2008, mặc dù chịu tác động của việc tăng giá xăng, dầu nhưng ngành vận tải đã nỗ lực không ngừng để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và đi lại của nhân dân. Ước tính vận chuyển hành khách trong quí I đạt 437 triệu lượt khách và 20,8 tỷ lượt khách.km, so với quí I/2007 tăng 11,7% về số khách và tăng 13,9% về số khách.km. Trong các ngành vận tải, vận chuyển hành khách bằng đường bộ giữ tốc độ tăng trưởng ổn định, tăng 12,8% về số khách và 17,7% về số khách.km so với quí I năm trước; tương tự, đường hàng không tăng 10,9% và tăng 8,5%; đường biển tăng 4,8% và tăng 5,2%; đường sông tăng 2,1% và tăng 2,5%; riêng vận chuyển hành khách bằng đường sắt giảm cả về số khách vận chuyển và số khách luân chuyển, một phần do nhu cầu đi lại của dân cư trong tháng 3 giảm, bên cạnh đó còn có sự cạnh tranh của vận chuyển hành khách bằng đường bộ và đường hàng không bởi hai ngành vận tải này rất thuận tiện, linh hoạt.

Vận chuyển hàng hóa quí I ước tính đạt 97,2 triệu tấn và 33,3 tỷ tấn.km, tăng 7,1% về số tấn nhưng tăng 25,8% về số tấn.km, chủ yếu do vận chuyển hàng hóa bằng đường biển chiếm 81,8% tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển trong quí I, tăng tới 29,8%. Vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ tăng 7,7% về tấn và tăng 11,3% về tấn.km so với cùng kỳ năm trước; đường biển tăng 20,1% và tăng 29,8%; đường sắt tăng 1,6% và tăng 13,4%; đường hàng không tăng 8,7% và tăng 3,7%.

B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Đời sống dân cư

Trong quí I năm nay, giá tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ tăng cao, đặc biệt là giá lương thực, thực phẩm và giá các mặt hàng thiết yếu đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của toàn bộ dân cư. Trong khu vực người làm công ăn lương, mặc dù mức lương tối thiểu đã tăng thêm 20% từ tháng 01/2008, nhưng do giá tiêu dùng tăng mạnh nên tiền lương thực tế của người lao động gần như không được cải thiện, sức mua giảm. Đời sống của người nông dân ở các tỉnh phía Bắc còn chịu ảnh hưởng thêm tác động của rét đậm, rét hại kéo dài trong những tháng đầu năm gây thiệt hại lớn đến trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản. Tình trạng thiếu đói giáp hạt tăng so với quí I/2007 và tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. Tính chung trong quí I/2008, cả nước có 281,7 nghìn lượt hộ với 1179,5 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, tăng 23% về số lượt hộ và tăng 26,1% về lượt nhân khẩu so với cùng kỳ năm trước (Riêng tháng 3 là 120,1 nghìn hộ, tương ứng với 497,7 nghìn người, tăng 43% so với tháng 3/2007).

Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện nhiều giải pháp giúp người dân khắc phục khó khăn trong sản xuất và đời sống: trợ giúp hộ thiếu đói khoảng 16,9 nghìn tấn lương thực và 7,3 tỷ đồng; hỗ trợ dầu thắp sáng cho người nghèo ở những nơi chưa có điện lưới; nâng mức mua bảo hiểm y tế cho người nghèo và trẻ em; hỗ trợ bảo hiểm y tế tự nguyện cho các gia đình cận nghèo bằng khoảng 59% mệnh giá bảo hiểm tự nguyện. Bên cạnh đó, Chính phủ còn thực hiện một số biện pháp hỗ trợ khác đối với nông dân, ngư dân, học sinh, sinh viên và một số các đối tượng khác qua các hình thức giảm thuế, bãi bỏ các loại phí và cho vay ưu đãi, hỗ trợ giá xăng dầu cho các hộ nghèo, hộ sản xuất khó khăn.v.v...

Do ảnh hưởng của thiên tai từ cuối năm 2007, rét đậm, rét hại ở phía Bắc đầu năm 2008 và giá tiêu dùng tăng cao ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động và tỉnh trạng nghèo đói. Những hộ cận nghèo của năm trước dễ bị rơi vào tình trạng nghèo trong năm nay; với xu hướng tăng giá tiêu dùng như hiện nay nếu không có các giải pháp thúc đẩy sản xuất, nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình thì mục tiêu giảm nghèo 2-3% trong năm nay sẽ khó đạt được.

2. Hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao

Hoạt động văn hóa thông tin trong quí I diễn ra sôi nổi, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị và góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được phát triển cả về quy mô và chất lượng. Công tác thanh tra, kiểm tra trong hoạt động văn hóa, thông tin vẫn được tiến hành thường xuyên.

Hoạt động thể dục, thể thao quần chúng tiếp tục nhận được sự quan tâm và tham gia nhiệt tình của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Hầu hết các địa phương trên cả nước đều đã chủ động tổ chức tốt nhiều hoạt động mừng Đảng, mừng xuân với nội dung phong phú, đa dạng, mang đậm nét văn hóa của mỗi vùng, miền.

Trong thể thao thành tích cao, Tổng cục Thể dục, Thể thao đã tổ chức thành công 16 giải thể thao thành tích cao và tham gia nhiều giải thể thao cấp châu lục và quốc tế khác, đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tại Giải Karate Paris mở rộng 2008, đoàn thể thao Việt Nam đã giành 1 HCV, 1 HCĐ; tại giải Đấu kiếm Trung Quốc mở rộng đã giành được 3HCV, 3 HCB và 2 HCĐ.

3. Tình hình dịch bệnh

Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong quí I năm nay, đã phát hiện 13,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 6,3 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết và 1,3 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan virút; 8 trường hợp viêm phổi do virút cúm A H5N1 và cả 8 trường hợp này đều đã tử vong mặc dù được điều trị rất tích cực.

Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm nhìn chung chưa được cải thiện. Các vụ ngộ độc thực phẩm vẫn liên tiếp xảy ra. Trong tháng 3 đã xảy ra 9 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 493 trường hợp bị ngộ độc, nâng tổng số trường hợp bị ngộ độc tính từ đầu năm đến 20/3/2008 lên 736 trường hợp, trong đó 5 người đã tử vong.

Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trong tháng 3/2008 đã phát hiện 930 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước tính đến 20/3/2008 lên 141,6 nghìn người, trong đó 30,2 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và gần 16,9 nghìn người đã tử vong do AIDS.

4. Tai nạn giao thông

Từ ngày 01/02/2008 đến 29/2/2008, cả nước đã xảy ra 1119 vụ tai nạn giao thông, làm chết 1032 người và bị thương 800 người. So với tháng 01/2008, số vụ tai nạn tăng 1,2%; số người chết giảm 1,2% và số người bị thương tăng 22%. So với tháng 02/2007, tai nạn giao thông tháng 2 năm nay đã giảm mạnh cả ở ba chỉ số: số vụ tai nạn giảm 25,8%; số người chết giảm 25,7% và số người bị thương giảm 38,2%.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2008, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 2,2 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 2,2 nghìn người và bị thương 1,5 nghìn người. So với 2 tháng đầu năm 2007, số vụ tai nạn giảm 23,5%; số người chết giảm 20,6% và số người bị thương giảm 36,6%. Tuy nhiên, bình quân một ngày trong 2 tháng đầu năm nay vẫn xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông, làm chết 35 người và làm bị thương 25 người.

5. Thiệt hại do thiên tai

Rét đậm, rét hại kéo dài trong những tháng đầu năm 2008 ở 33 địa phương thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ đã gây thiệt hại lớn đến hầu hết diện tích lúa đã cấy, mạ đã gieo, rau màu, gia súc, gia cầm và diện tích nuôi trồng thủy sản. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai ước tính gần 700 tỷ đồng.

Khái quát lại, mặc dù quí I năm nay có nhiều khó khăn ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống dân cư, nhưng nền kinh tế đã phát huy được đà tăng trưởng của các năm trước, mức tăng trưởng tuy không bằng quí I năm 2007 những vẫn ở mức cao so với quí I các năm 2002-2006, các ngành kinh tế đều có tăng trưởng; sản xuất lúa đông xuân ở miền Nam tăng khá; xuất khẩu tăng; an ninh chính trị xã hội ổn định, nhiều lĩnh vực xã hội tiến bộ. Tuy nhiên, nền kinh tế đang phải đối mặt với các khó khăn, thách thức lớn như:

- Giá tiêu dùng tăng cao, quí I đã tăng 9,19% so với tháng 12 năm 2007, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh và đời sống dân cư. Cùng với giá tiêu dùng, giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào (cả từ nguồn nhập khẩu và nguồn trong nước) tăng cao sẽ kéo theo giá bán sản phẩm của người sản xuất tăng lên, dẫn đến sức cạnh tranh của sản phẩm giảm không chỉ trên thị trường ngoài nước (xuất khẩu sẽ khó khăn hơn) mà ngay trên thị trường nội địa (vì nhập khẩu sẽ rẻ hơn), hiệu quả công nghiệp chế biến thấp.

Sản xuất công nghiệp, xây dựng trong quí tới sẽ tiếp tục gặp khó khăn do tình hình biến động giá cả nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất thiếu ổn định với biên độ giao động cao, khó lường, tiếp tục ảnh hưởng không nhỏ tới tốc độ tăng trưởng chung của khu vực công nghiệp và xây dựng. Vì vậy, Chính phủ cần ưu tiên hàng đầu là chống lạm phát và kiềm chế tốc độ tăng giá tiêu dùng; trong những tháng tới, thực sự cần có giải pháp đồng bộ và quyết liệt hơn, trước mắt cần bình ổn giá lương thực, giá vật liệu xây dựng, giá cước vận tải.

- Nhập siêu tăng cao và với giá trị nhập siêu lớn sẽ gây khó khăn cho phát triển sản xuất trong nước. Để giảm nhập siêu, cần tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp tăng xuất khẩu, kiểm soát điều hành nhập khẩu phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế, đồng thời hạn chế các mặt hàng nhập khẩu cho tiêu dùng có tính chất xa xỉ, không cần thiết; hạn chế nhập khẩu những hàng hoá mà trong nước sản xuất được; nhanh chóng phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ.

- Ảnh hưởng của rét đậm và rét hại đến lúa đông xuân ở các tỉnh phía Bắc làm cho tiến độ gieo cấy lúa đông xuân chậm mùa vụ sẽ ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp quí II. Do đó cần tăng cường đẩy mạnh sản xuất của các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ để có tăng trưởng cao nhằm bù đắp cho sự tăng trưởng chậm của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản.

- Kinh tế thế giới đang tăng trưởng chậm lại, nhất là lạm phát cao và nguy cơ suy thoái của kinh tế Mỹ có ảnh hưởng mạnh đối với các nước có qui mô kinh tế nhỏ và đang phát triển như nước ta, có 20,7% kim ngạch xuất khẩu năm 2007 vào thị trường Mỹ. Bên cạnh đó, nước ta vừa gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, cùng với các thuận lợi, sẽ có nhiều khó khăn hơn khi phải thực hiện đầy đủ các cam kết và mở cửa, nhất là các thị trường mà nước ta đang yếu hoặc rất sơ khai như thị trường chứng khoán, thị trường nhà đất. Do đó cần phải đẩy mạnh việc mở rộng thị trường ra nhiều nước khác ở châu Phi, châu Mỹ La tinh, vùng Trung Đông.v.v. đồng thời cần tập trung phát triển sản xuất, xuất khẩu những mặt hàng mà nước ta đang có thế mạnh.

Trong lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành cần ưu tiên huy động lực lượng của hệ thống chính trị, xã hội tập trung vào nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay là kiềm chế lạm phát, trước hết cần thực hiện kiên quyết, kịp thời và đồng bộ Chỉ thị số 18/2007-CT/TTg ngày 1/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp cấp bách kiềm chế tốc độ tăng giá thị trường; văn bản số 75/TTg-KTTH ngày 15 tháng 01 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về biện pháp kiềm chế lạm phát, kiểm soát tăng giá năm 2008; văn bản số 319/TTg-KTTH ngày 3 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp kiềm chế lạm phát năm 2008 và văn bản số 63/TB-VPCP ngày 11 tháng 3 năm 2008 về việc triển khai các biện pháp ổn định thị trường, kiềm chế lạm phát năm 2008; huy động hệ thống thông tin tuyên truyền làm cho nhân dân tin tưởng vào khả năng điều hành ổn định kinh tế vĩ mô của Đảng, Nhà nước, tránh tâm lý dao động; kiên quyết không để tình trạng lợi dụng tăng giá nguyên liệu vật tư, hàng hoá tiêu dùng để trục lợi. Đồng thời, cần tiếp tục quan tâm tháo gỡ khó khăn trở ngại, khuyến khích sản xuất những tháng tiếp theo để phát triển với tốc độ cao hơn nhằm bù đắp cho mức tăng trưởng chậm của quí I; bên cạnh đó cần đề ra các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu các loại hàng hoá chưa cấp thiết đối với tiêu dùng và những loại hàng hoá mà trong nước sản xuất được để giảm bớt tình trạng nhập siêu hiện nay./.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

-----------------------------------------------------------------

 

 

Tìm hiểu thị trường

--------------------------------------------------------------

Marketing

HOME

Comments