Thị trường Brazil

Thị trường Brazil

I. Giới thiệu chung:

- Tên nước chính thức: Cộng hòa Liên bang Bra-xin (Federative Republic of Brazil)

- Tên ngắn thường gọi: Bra-xin

- Thủ đô : Brasilia.

- Quốc tệ: Real.

- Ngôn ngữ : Tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ chính thức và khoảng 150 thổ ngữ.

- Quốc khánh : 7/9 (Ngày Độc lập).

- Tôn giáo : 70% theo đạo Cơ đốc giáo, 19% theo đạo Tin lành.  

- Vị trí địa lý : Brasil là nước đứng thứ 5 về diện tích trên thế giới, nằm ở Nam Mỹ, có biên giới chung với hầu hết các nước Nam Mỹ (trừ Chilê và Ecuador). Địa hình tương đối bằng phẳng (cao nguyên Brasil rộng 5 triệu km2 có độ cao 1000m so với mặt biển). Khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ tương đối cao suốt năm, trừ phía Nam, vùng Đông Bắc có khí hậu bán sa mạc, thường bị hạn hán. Có lưu vực sông Amazon rộng lớn.  

- Về lịch sử, Bồ Đào Nha bắt đầu đô hộ Brasil từ 1531. Năm 1807, Pháp xâm lược Bồ Đào Nha, vua Bồ Đào Nha chạy sang Brasil. Sau thất bại của Napoleon ở châu Âu (1821), Vua Bồ Đào Nha trở lại mẫu quốc và trao quyền cai trị Brasil cho con trai là Pedro. Ngày 7/9/1822, Pedro lên ngôi và tuyên bố Brasil độc lập. Sau đó là thời kỳ nội chiến liên tục giữa các đại điền chủ và giới chủ các xí nghiệp lớn. Từ năm 1964, các chính quyền quân sự thay nhau cầm quyền ở Brasil. Năm 1989 giới quân sự tổ chức bầu cử, trao lại quyền cho phái dân sự. Tại cuộc bầu cử Tổng thống tháng 10/2002, Luis Inácio Lula da Silva thuộc đảng Lao động (PT) đã giành 61% phiếu ủng hộ. Đây là Tổng thống cánh tả đầu tiên trong lịch sử Brasil.

- Về kinh tế, trước kia, kinh tế Brasil chủ yếu là nông nghiệp, cà phê chiếm 1/2 sản lượng thế giới, là một trong 4 nước đứng đầu thề giới về chăn nuôi; giàu tài nguyên, khoáng sản (sắt, măng-gan, bô-xit, kền, chì, vàng, tung-sten, crôm, đồng, thiếc, Uranium) và dầu khí. Sau 4 thập kỉ công nghiệp hóa, kinh tế phát triển có thời mang danh tiếng là "thần kì Brasil".  

Trong những năm 80, kinh tế Brasil bị khủng hoảng. Bước vào thập niên 90, với chính sách tự do hóa, mở cửa và liên kết khu vực cũng như tư nhân hóa các ngành kinh tế quan trọng, kinh tế của Brasil bắt đầu khôi phục, lạm phát giảm còn 2 chữ số. Trong khối Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR - gồm Brasil, Argentina, Paraguay, Uruguay và 2 thành viên liên kết là Chile, Bolivia), Brasil đóng vai trò rất quan trọng. Gần đây Brasil chú trọng phát triển quan hệ kinh tế, thương mại với khu vực Châu á-Thái Bình Dương nói chung và với Đông Nam á nói riêng. Trước những biến động bất lợi của thị trường chứng khoán Châu á, kinh tế Brasil vẫn có sức thu hút lớn đối với đầu tư nước ngoài.  

- Về chính trị, Brasil là nước Cộng hòa Liên bang. Theo Nghị quyết của Quốc hội (5/94), nhiệm kỳ Tổng thống được rút từ 5 năm xuống 4 năm. Tổng thống là Nguyên thủ Quốc gia và đứng đầu Chính phủ, trực tiếp điều hành mọi công việc của đất nước. Quốc hội lưỡng viện : Thượng viện gồm 81 thành viên, nhiệm kỳ 8 năm và Hạ viện gồm 513 hạ nghị sĩ, nhiệm kỳ 4 năm.  

2. Các biện pháp quản lý nhập khẩu  

a. Hàng rào thương mại, bao gồm thuế quan, các hàng rào phi thuế quan và thuế nhập khẩu.  

Từ năm 1990, Brazil đã có những bước tiến quan trọng trong việc giảm các hàng rào thương mại biên giới truyền thống (thuế quan, giấy phép nhập khẩu, ...). Các hàng rào thương mại phi biên giới quan trọng vẫn còn tồn tại.

Tháng 1 năm 1997, Bộ ngoại thương (SECEX) đã thực hiện một hệ thống thủ tục thương mại được máy tính hoá (SISCOMEX) để quản lý việc cấp phép nhập khẩu và một loạt sản phẩm phải tuân theo hệ thống cấp phép phi tự động. Có các mức phí được xác định dựa theo các tờ khai nhập khẩu được nộp cho SISCOMEX, và nhà nhập khẩu phải theo các hướng dẫn đăng ký phức tạp rườm rà, bao gồm các yêu cầu về vốn tối thiểu, để đăng ký với SECEX. Thông tin đầy đủ về các quy định nhập khẩu vào Brazil có thể tham khảo qua SISCOMEX, chỉ được cung cấp cho các nhà nhập khẩu có đăng ký. Bắt đầu từ tháng 10 năm 1998, Brazil phát hành một loạt các quy định hành chính quy định về vệ sinh và an toàn thực phẩm (SPS), chất lượng và các chứng nhận an toàn từ các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước được áp dụng cho các sản phẩm theo quy trình cấp phép phi tự động.

Năm 1998, để chống lại việc ghi hoá đơn thấp hơn giá hàng, Brazil ban hành một loạt các biện pháp trong đó có việc yêu cầu chứng nhận đối với các sản phẩm phải tuân theo quy trình cấp phép phi tự động và đưa ra một danh sách các sản phẩm này. Mặc dù hiện nay chính phủ đang trong quá trình xoá bỏ các quy định và chuyển hầu hết các sản phẩm này sang danh mục sản phẩm theo quy trình cấp phép tự động, những quy định này vẫn là một cản trở lớn. Theo các quy định về định thuế mới của Brazil, các cơ quan thuế quan sẽ tập trung nỗ lực vào việc ghi hoá đơn thấp hơn giá hàng, và có thẩm quyền giữ những hàng hoá nhập khẩu này cho đến khi hàng hoá được xác định đúng giá trị.

Một mối quan tâm thường trực là việc sử dụng giá tham khảo tối thiểu là một quy định đối với việc xin cấp giấy phép nhập khẩu và/ hoặc là cơ sở để nhập khẩu. Dường như chính phủ Brazil đã yêu cầu một số mặt hàng phải đáp ứng giá sàn nếu muốn được cấp giấy phép nhập khẩu và/ hoặc để được thực hiện quy trình hải quan thông thường. Điều này sẽ đặt ra câu hỏi về việc liệu chính sách của Brazil có phù hợp với các quy định của WTO hay không. Tháng 11 năm 1999, Liên hợp quốc đã chủ động tham gia với tư cách là bên thứ ba trong các cuộc hội đàm của WTO tại châu Âu về vấn đề này, và tháng 7 năm 2000 Liên hợp quốc đã tự tổ chức các cuộc hội đàm của WTO với Brazil. Theo tường trình, chính phủ Brazil đã sửa đổi các vướng mắc về vấn đề hải quan nhưng chưa chính thức đưa các tài liệu này ra công chúng. Các quan chức cấp cao của Brazil đã thông báo cho các quan chức ở các sứ quán kể từ cuối năm 1999 những quy định này không còn tồn tại.

Thêm vào đó, việc đăng ký sản phẩm từ Bộ y tế bắt buộc đối với các mặt hàng thực phẩm nhập khẩu đã qua chế biến và các nguyên liệu thực phẩm có hiệu lực từ 1 tháng 3 năm 2000, và thời hạn hiệu lực sẽ ngắn hơn. Phí đăng ký cho các mặt hàng nhập khẩu cũng như các sản phẩm y tế và dược phẩm cũng tăng đáng kể so với năm 1999.

Nói chung, thuế quan là công cụ chủ yếu của Brazil để quản lý hàng nhập khẩu. Thuế quan được áp dụng của Brazil có 9.731 danh mục thuế quan với mức độ 8 con số, với thuế suất từ 0% đến 35%. Tất cả các loại thuế đều được tính theo giá hàng, xác định trên cơ sở giá CIF nhập khẩu, ngoại trừ một số mặt hàng viễn thông. Thuế suất trung bình của Brazil năm 2000 là 13,7%. Ngược lại năm 1990, thuế suất trung bình là 32%. Brazil cũng duy trì thuế suất trung bình cao đối với các mặt hàng đã qua chế biến hơn các mặt hàng bán thành phẩm và nguyên liệu. Thuế suất trung bình đối với thành phẩm là 15,8%, đối với bán thành phẩm là 11,9% và với nguyên liệu là 8,9%.

Brazil và các đối tác Thị trường chung miền nam (MERCOSUL), Argentina, Paraguay và Uruguay, đã thực hiện hiệp định Thuế quan chung MERCOSUL (CET) vào 1 tháng 1 năm 1995. Tháng 11 năm 1997, sau khi đã thương lượng với các đối tác MERCOSUL, Brazil thực hiện tăng thuế 3% đối với tất cả các loại thuế (bên trong và bên ngoài CET), tăng mức thuế suất tối đa từ 20 đến 23%. Chỉ các sản phẩm nhiên liệu như than đá và dầu khí và các đầu vào nông sản như các loại hạt được miễn trừ. Mặc dù Brazil đã đồng ý với các nước thành viên khác của MERCOSUL sẽ chấm dứt chương trình tăng thuế tạm thời này vào đầu tháng 1 năm 2001 nhưng một chương trình giảm thuế ít hơn đã được thực hiện. Việc giảm một nửa thuế đã được các nước thành viên MERCOSUL thông qua có hiệu lực từ tháng 1 năm 2001, và một nửa còn lại được giảm vào 1 tháng 1 năm 2002 và việc giảm thuế còn lại được thực hiện trong năm 2002-2003.  

Đầu năm 2001, CET được thực hiện với xấp xỉ 85% trong số 9.500 danh mục hàng hoá, và hầu hết các mặt hàng còn lại được thực hiện chương trình này trong năm 2001, và hoàn thành vào năm 2006. Các thuế suất theo CET dao động từ 0% đến cao nhất là 23%, ngoại trừ một số mặt hàng quốc gia của Brazil bị loại trừ khỏi chương trình CET như giày dép, ô tô, đồ điện gia dụng, các thiết bị viễn thông, máy tính và một số mặt hàng vốn. Thuế suất đối với ba nhóm mặt hàng sau sẽ phù hợp với CET trước năm 2006, tại thời điểm đó, thuế suất tối đa là 14% đối với mặt hàng vốn và 16% đối với máy tính và các thiết bị viễn thông. Thuế suất đối với các mặt hàng này thông thường cao hơn mức trung bình. Tuy nhiên, tháng 3 năm 2001, chương trình bị trì hoãn thực hiện với Argentina, do một vài khó khăn về kinh tế, và thuế suất tạm thời đói với nhiều mặt hàng tiêu dùng ở mức 35% và giảm thuế suất xuống còn 0 đối với nhiều mặt hàng vốn. Do vậy hiện nay CET vẫn chưa được thực hiện. Ngoại trừ một số mặt hàng như đường và ô tô và các linh kiện, thương mại giữa Brazil và Argentina được miễn thuế.  

b. Giấy phép nhập khẩu  

+ Cấp phép tự động

Theo quy định chung, các mặt hàng nhập khẩu của Brazil phải tuân theo quy trình "cấp phép hàng nhập khẩu tự động". Thủ tục này yêu cầu nhà nhập khẩu Brazil phải nộp các thông tin liên quan đến từng mặt hàng nhập khẩu, bao gồm mô tả hàng hoá cũng như mã số thuế quan của hàng hoá, số lượng, giá trị từng chuyến hàng, chi phí vận chuyển, ... Thông tin này sẽ được sử dụng với mục đích chuẩn bị làm Tờ khai nhập khẩu (ở đây gọi là DI). Sau đó, tất cả các thông tin sẽ được nhập vào hệ thống máytính của các cơ quan thuế quan Brazil được gọi là SISCOMEX. Bộ Ngoại thương Brazil (SECEX) là cơ quan chính phủ có trách nhiệm cấp phép nhập khẩu. Những mặt hàng nhất định và quy trình nhập khẩu sẽ phải tuân theo các yêu cầu đặc biệt, được hoàn thành trước khi thông quan. Dưới đây là một danh sách các yêu cầu đặc biệt

- Giấy chứng nhận của Bộ nông nghiệp Brazil đối với các mặt hàng nhập khẩu như thịt và các loại thực phẩm, hải sản, sữa và chất dẫn xuất sữa, trứng và mật ong, hoa quả và một vài sản phẩm từ động thực vật khác.

- Cơ quan bảo vệ môi trường Brazil có thể đưa ra các quyết định liên quan đến việc nhập khẩu các mặt hàng cao su tự nhiên, tổng hợp và nhân tạo

- Việc đăng ký công ty và/ hoặc sản phẩm có thể bắt buộc đối với việc nhập khẩu chất amiăng liều lượng lớn, hoá chất nông nghiệp, dược phẩm, nước hoa và mỹ phẩm và các sản phẩm có liên quan đến y tế.  

+ Cấp phép phi tự động (LI)

Bất cứ khi nào hàng hóa nhập khẩu phải tuân theo chế độ cấp phép phi tự động (LI), nhà nhập khẩu phải cung cấp thông tin liên quan đến từng chuyến hàng cho các cơ quan thuế quan của Brazil hoặc là trước khi vận chuyển hàng hóa hoặc trước khi thông quan. Những thông tin bắt buộc bao gồm mô tả hàng hóa cũng như mã số thuế quan của hàng hóa, số lượng, giá trị chuyến hàng, chi phí vận chuyển ...  

+ Trước khi thông quan: hàng hóa nhập khẩu theo chế độ được khấu trừ thuế, cũng như hàng nhập khẩu tới các khu thương mại tự do và Uỷ ban nhà nước về khoa học và phát triển công nghệ.  

+ Trước khi vận chuyển hàng hoá: những mặt hàng tuân theo chế độ kiểm soát đặc biệt từ SECEX hoặc những mặt hàng cần có giấy chứng nhận của các cơ quan nhà nước Brazil khác. Những mặt hàng này bao gồm: hàng hoá đã qua sử dụng nói chung, những mặt hàng muốn được hưởng giảm thuế nhập khẩu, những mặt hàng nhập khẩu không có quy trình thanh toán từ nhà nhập khẩu cho nhà xuất khẩu - ví dụ hàng mẫu, hàng biếu tặng, nhập khẩu tạm thời, dược phẩm chữa bệnh tâm lý, các sản phẩm dùng cho con người hoặc cho mục đích nghiên cứu vệ sinh; vũ khí và các sản phẩm có liên quan, sản phẩm phóng xạ và các thành phần kim loại hiếm trên trái đất, dầu thô, chiết xuất dầu thô hoặc các chiết xuất dầu khí khác, huyết thanh chống hemophilic, các dược phẩm có huyết thanh, các sản phẩm có hại cho môi trường 0- ví dụ CFC, máy thư tín, máy bán tem, máy bay ....

Ngay sau khi đã nhập thông tin vào hệ thống máy tính của SISCOMEX liên quan đến một chuyến hàng cụ thể, hệ thống SISCOMEX sẽ chỉ ra hàng hoá thuộc danh mục theo quy trình cấp phép tự động hay phi tự động.  

+ Các yêu cầu đối với hàng hoá nhập khẩu tạm thời

Ngày 20/12/1999, Tổng cục thuế quan Brazil ra quy định 150 (Instruỗão Normativa 150) đưa ra các thủ tục mới đối với hàng hoá nhập khẩu theo hình thức nhập khẩu tạm thời. Chương trình này cho phép nhập khẩu hàng hoá trong một khung thời gian định trước và hướng dẫn thông quan. Theo chương trình này, thuế nhập khẩu và thuế liên bang (IPI) chỉ được thu đối với các sản phẩm sẽ được sử dụng trong sản xuất các mặt hàng khác và liên quan đến việc thanh toán thuê mua từ nhà nhập khẩu trong nước cho nhà xuất khẩu nước ngoài. Những sản phẩm này bao gồm thuốc nhuộm, các chất làm nền và các công cụ công nghiệp. Hạn nộp thuế tỷ lệ với khung thời gian hàng nhập khẩu nhập vào Brazil.  

+ Các mặt hàng cấm nhập

Chính phủ Brazil đã xoá bỏ hầu hết các lệnh cấm nhập khẩu. Tuy nhiên, lại thay thế bằng các quy định kiểm soát đặc biệt đối với một số mặt hàng nhập khẩu nhất định và cấm nhập khẩu một số mặt hàng khác, ví dụ tàu thuyền du lịch trị giá vượt quá 3.500 USD. Việc nhập khẩu một số máy móc, ô tô, vải vóc và nhiều mặt hàng tiêu dùng đã qua sử dụng khác bị cấm tuyệt đối. Tuy nhiên, việc nhập khẩu một số máy móc đã qua sử dụng được uỷ quyền theo các trường hợp ngoại trừ đặc biệt. Việc nhập khẩu các máy móc thiết bị đã qua sử dụng vào Khu thương mại tự do Manaus được ưu đãi hơn.  

3. Chuẩn bị xuất khẩu

a. Thủ tục xuất nhập khẩu (Kiểm tra y tế, dược phẩm và trước khi chuyên chở)

Bất kỳ sản phẩm nào phục vụ cho con người cũng bị kiểm soát bởi Bộ y tế, bao gồm dược phẩm, vitamin, mỹ phẩm và các thiết bị/ dụng cụ y tế. Những sản phẩm đó chỉ được phép nhập khẩu và bán tại Brazil nếu:

- Công ty nước ngoài có đơn vị sản xuất tại Brazil hoặc văn phòng trong nước; hoặc

- Công ty nước ngoài chỉ định một nhà phân phối Brazil được các cơ quan Brazil uỷ quyền nhập khẩu và phân phối các sản phẩm y tế. Tuy nhiên, các sản phẩm đó phải đăng ký với Bộ Y tế Brazil.  

b. Đăng ký sản phẩm

Đăng ký sản phẩm ở Brazil là một công việc khó khăn. Chỉ các công ty có hoạt động trong nước mới được phép xin đăng ký các sản phẩm y tế. Phụ thuộc vào từng loại sản phẩm, đăng ký sẽ có thời hạn từ hai đến năm năm và có thể gia hạn với thời gian tương tự.  

Các nhà sản xuất phải báo cáo với các cơ quan trong nước thông qua đại lý của họ các thông tin kỹ thuật của sản phẩm, ví dụ, thành phần và bộ phận của các thiết bị y tế. Đối với dược phẩm và mỹ phẩm, nhà sản xuất sẽ phải thông báo các thành phần hoạt động và không hoạt động. Các chỉ dẫn, hướng dẫn, các điểm lưu ý, ký mã hiệu, hướng dẫn sử dụng và các thông tin thích hợp về sản phẩm phải được dịch ra tiếng Bồ Đào Nha.

Quá trình đăng ký sản phẩm mất khoảng hơn một năm. Nếu quá trình này diễn ra lâu hơn ba tháng, nhà nhập khẩu và nhà sản xuất được phép sử dụng một mã số do các cơ quan có thẩm quyền của Brazil cung cấp và phân phối sản phẩm của họ ở Brazil. Tuy nhiên, nếu làm vậy họ sẽ chịu những rủi ro đối với cáo buộc về trách nhiệm đối với sản phẩm nếu sản phẩm của họ bị các cơ quan có thẩm quyền của Brazil phát hiện không an toàn.  

c. Các quy định nhãn mác, ký mã hiệu

Luật bảo vệ người tiêu dùng của Brazil, có hiệu lực từ 12/09/1990, quy định nhãn mác sản phẩm phải cung cấp cho người tiêu dùng các thông tin chính xác, rõ ràng, dễ đọc về chất lượng, số lượng, thành phần, giá cả, bảo hành, thời hạn sử dụng, xuất xứ và các rủi ro của sản phẩm đối với sức khoẻ và sự an toàn của con người. Các sản phẩm nhập khẩu sẽ phải dịch sang tiếng Anh tất cả các thông tin này. Vì đơn vị mét là hệ thống đo lường chính thức, các sản phẩm sẽ phải dán nhãn mác theo đơn vị met hoặc chỉ rõ mét tương đương. Các quy định về nhãn mác đối với các sản phẩm biến đổi gen (GMO) cũng phải theo các quy trình thủ tục tương tự đã nói ở trên, mặc dù hiện nay việc sử dụng các sản phẩm GMO vẫn còn được tranh cãi ở nước này.  

4. Hệ thống thuế nhập khẩu

a. Thuế và phí quy định cho hàng nhập khẩu

ở Brazil, các mặt hàng nhập khẩu phải chịu nhiều loại thuế và phí, thường được thu trong quá trình thông quan hàng hoá. Có ba loại thuế chính chiếm phần lớn trong chi phí nhập khẩu -- (1) Thuế nhập khẩu (ở Brazil gọi là "II"), (2) thuế các sản phẩm công nghiệp hoá (ở Brazil gọi là "IPI"), và (3) thuế thương mại và dịch vụ (ở Brazil gọi là "ICMS"). Một điều đáng lưu ý là hầu hết các loại thuế đều được tính trên cơ sở thuế luỹ tiến. Bên cạnh ba loại thuế này, một vài loại thuế và phí khác cũng được áp dụng cho các mặt hàng nhập khẩu; các chi phí đó được liệt kê dưới đây:  

b. Thuế nhập khẩu

Thuế nhập khẩu là một loại thuế bắt buộc quy định trên phạm vi toàn liên bang. Sau khi thành lập liên minh thuế quan MERCOSUR, bốn nước thành viên -- Argentina, Brazil, Paraguay và Uruguay -- đã thông qua một cơ cấu thuế quan nhập khẩu riêng được gọi là "thuế quan chung" (ở Brazil được gọi là "TEC"). Mặc dù đã thông qua TEC, thuế suất thuế nhập khẩu của Brazil đã giảm, nhưng vẫn còn tương đối cao. Trong hầu hết các trường hợp, thuế suất thuế nhập khẩu của Brazil dao động từ 10-20%.

c. Thuế các sản phẩm công nghiệp hoá (IPI)

Thuế IPI là một loại thuế đánh trên hầu hết tất cả các sản phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu. Nó được xác định theo doanh số bán của các nhà xuất khẩu hoặc gia công chế biến nếu là hàng hoá được sản xuất trong nước, và theo số lượng thông quan nếu là hàng hoá nhập khẩu. Thuế IPI không được coi là một chi phí đối với nhà nhập khẩu, vì giá trị sẽ được ghi có cho nhà nhập khẩu. Đặc biệt, khi sản phẩm được bán cho người tiêu dùng cuối cùng, nhà nhập khẩu sẽ ghi nợ chi phí IPI.  

Chính phủ Brazil quy định thuế suất IPI bằng cách quyết định sản phẩm cần thiết thế nào đối với người tiêu dùng cuối cùng Brazil. Thông thường, thuế suất IPI dao động từ 0% đến 15%. Đối với các mặt hàng nhập khẩu, thuế suất được đánh theo giá CIF của hàng hoá cộng thuế nhập khẩu. Thông thường, thuế nhập khẩu thấp tương đối sẽ dẫn đến thuế suất IPI thấp hơn. Ngược lại, nếu thuế suất thuế nhập cao tương đối cao sẽ dẫn đến thuế suất IPI cao tương ứng. Cũng như thuế giá trị gia tăng ở Châu Âu, thuế IPI quy định đối với các hàng hoá đã qua các bước gia công chế biến có thể được bồi hoàn thuế IPI ở từng bước. Hàng xuất khẩu Brazil không phải chịu thuế IPI.  

d. Thuế thương mại và dịch vụ (ICMS)

ICMS là một loại thuế giá trị gia tăng của chính phủ được áp dụng cho cả hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước. Thuế ICMS đối với hàng nhập khẩu được tính theo giá hàng, theo trị giá CIF, cộng thuế nhập khẩu, cộng IPI. Mặc dù nhà nhập khẩu phải trả ICMS để thông quan hàng nhập khẩu tại các cơ quan thuế quan, nhưng đây không phải là một khoản chi phí của nhà nhập khẩu, bởi vì giá trị phải trả sẽ được ghi có cho nhà nhập khẩu. Khi sản phẩm được bán cho người tiêu dùng cuối cùng người nhập khẩu sẽ ghi nợ thuế ICMS, được tính vào giá cuối cùng của hàng hoá và do người tiêu dùng cuối cùng trả.  

Thực tế, thuế này chỉ phải trả trên giá trị gia tăng, vì chi phí thuế này thông thường được chuyển cho người mua theo giá mà thương nhân phải trả. Thuế ICMS do chính phủ đánh vào các công ty dựa trên các thuế thu theo doanh thu của công ty, trừ các loại thuế phải trả trong khi mua nguyên vật liệu và các hàng hoá trung gian. Thuế ICMS quy định đối với cả các giao dịch trong phạm vi một bang và liên bang, và được tính cho bất kỳ giao dịch thương mại nào. Thuế suất giữa các bang tương đối khác nhau, ở Bang Sao Paulo, thuế suất là 18%. Đối với các giao dịch liên bang, thuế suất sẽ được xác định theo thuế suất của bang hàng hoá được vận chuyển đến. (Một vài lĩnh vực kinh tế, như dịch vụ xây dựng, khai thác mỏ, năng lượng điện, năng lượng lỏng và ga được miễn thuế ICMS. Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu Brazil được miễn thuế này.)  

e. Thuế và các chi phí khác được tính thêm

- Thuế lưu kho: 0,65% giá CIF đối với thời hạn 15 ngày

- Chi phí bốc xếp hàng tại cảng Santos: 100 USD/container

- Thuế hàng hải thương mại: 25% chi phí chuyên chở đường biển (không áp dụng cho hàng chuyên chở đường hàng không)

- Đóng góp bắt buộc cho liên minh những người môi giới hải quan: 2,2% giá CIF với mức đóng góp tối thiểu là 71 USD và giá trần là 160 USD

- Phí sử dụng SISCOMEX: 30 USD

- Phí chuyên chở hàng hoá thông thường: 35 USD  

5. Tiêu chuẩn hàng hoá nhập khẩu  

+ Các tiêu chuẩn kỹ thuật

ở các lĩnh vực thông thường, các cơ quan có chức năng sẽ quy định các điều bắt buộc, từ việc đăng ký hàng hoá và các phòng thí nghiệm đến việc chứng nhận bắt buộc đối với việc kiểm tra của bên thứ ba ở trong nước.  

Brazil đã củng cố thêm nhiều quy định. Hầu hết các quy định mới được đưa ra bắt buộc phù hợp với các quy định an toàn với các bằng chứng phù hợp, nhưng không loại trừ, việc chứng nhận sản phẩm bắt buộc. Với các quy định được củng cố, các quy định này sẽ càng có hiệu lực . 

+ Khung luật pháp

Luật pháp liên bang thiết lập năm 1973 Hệ thống chất lượng đo lường, tiêu chuẩn hoá và công nghiệp, SINMETRO, có liên quan đến các tổ chức nhà nước và tư nhân. ABTN, Hiệp hội các tiêu chuẩn kỹ thuật Brazil (Associaỗao Brasilera de Normas Técnicas), là tổ chức tiêu chuẩn được công nhận. INMETRO, một cơ quan nhà nước, là cơ quan được uỷ quyền quốc gia, có trách nhiệm đối với việc đo lường và là cơ quan hoạt động của CONMETRO, uỷ ban quốc gia theo dõi việc thực hiện SINMETRO.

+ Các tiêu chuẩn tự nguyện

Các tiêu chuẩn tự nguyện quốc gia trong tất cả các lĩnh vực do ABTN phát triển. ở một số vùng, ABTN dựa trên cơ sở các tiêu chuẩn của ISO và IEC ... ABTN cũng là cơ quan chứng nhận đối với sản phẩm và hệ thống.

ở Brazil, nhiều tiêu chuẩn mang tính tự nguyện. Người mua và người bán chia sẻ trách nhiệm trong việc quyết định tiêu chuẩn sản phẩm nào được áp dụng.  

+ Kiểm tra và chứng nhận sản phẩm

Không có quy định pháp luật bắt buộc nào đối với việc kiểm tra lại các hàng hoá không bắt buộc đã được chứng nhận tại nước xuất xứ. Đối với các hàng hoá không bắt buộc, một vài nhãn hiệu và chứng nhận của nước ngoài có thể được chấp nhận. Cũng như với các tiêu chuẩn, bất kỳ chứng nhận nào bị yêu cầu đối với các hàng hoá không bắt buộc cũng là vấn đề giao kèo được quyết định giữa người mua và người bán.  

Mặt khác, đối với những hàng hoá bắt buộc, các cơ quan chức năng của nhà nước nói chung quy định rằng bất kỳ cơ quan nào được uỷ quyền chứng nhận (các sản phẩm bắt buộc) sẽ được uỷ quyền bởi INMETRO. Các phòng thí nghiệm kiểm tra tương tự cũng được uỷ quyền. Việc kiểm tra phải được thực hiện trong nước trừ khi ở Brazil không có khả năng kiểm tra.  

+ Xu hướng tương lai

Brazil đã phát triển các kế hoạch về thủ tục trên phạm vi toàn quốc đối với tiêu chuẩn và các hoạt động chứng nhận chỉ rõ các lĩnh vực nào các hoạt động này sẽ tập trung.  

+ Tiêu chuẩn và các quy định của MERCOSUR

Brazil, là một thành viên tích cực của MERCOSUR, tham gia và việc phát triển cả các tiêu chuẩn và quy định của MERCOSUR.  

Các tiêu chuẩn MERCOSUR được phát triển bởi một uỷ ban mà các viện tiêu chuẩn lĩnh vực tư nhân của Argentina, Brazil, Paraguay và Uruguay đều có mặt. Hiệp hội tiêu chuẩn MERCOSUR có một Ban điều hành tại Sao Paulo. Hầu hết các tiêu chuẩn tự nguyện đều được đưa ra với các sản phẩm thép, và xi măng và bê tông. Vài trăm tiêu chuẩn ở các mức độ khác nhau từ khi chuẩn bị đến khi lên kế hoạch công việc và gồm có nhiều tiêu chuẩn trong lĩnh vực an toàn điện.  

Các quy định kỹ thuật của khu vực được phát triển và/ hoặc điều hoà trong Nhóm làm việc cấp thấp của MERCOSUR 3 trong các lĩnh vực sau: ô tô, thực phẩm, đo lường, an toàn của các sản phẩm điện tử, đồ chơi và các sản phẩm khác. Các nhóm làm việc khác tập trung vào các vấn đề viễn thông và y tế. Để được áp dụng, các tiêu chuẩn đã được điều hoà của MERCOSUR phải được các nước chấp nhận.  

+ Các thoả thuận quốc tế

Brazil, một thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), ký hiệp định TNT về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại và chấp nhận các quy định của WTO để sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong phạm vi tối đa có thể. Trách nhiệm theo Hiệp định TNT bao gồm việc thành lập một địa điểm trên quốc gia nhằm cung cấp thông tin về các vấn đề liên quan đến chất lượng, bao gồm cả các quy định bắt buộc. Điểm cung cấp thông tin của Brazil là ở INMETRO tại Rio de Janeiro.  

Để có thêm thông tin về các tiêu chuẩn của Brazil và MERCOSUR, liên hệ:

Asociacion Mercosur de Normalizacion

Av. Mario de Andrade 664

01154-060 Sao Paulo – SP (Brazil)

Điện thoại: (55-11) 823-9846/42

Fax: (55-11) 823-9689

E-mail: secexecmn@target.com.br

  6. Các vấn đề về pháp luật  

+ Bảo vệ sản phẩm của bạn khỏi sự vi phạm quyền sở hữu trí tuệ

Brazil là một thành viên của Tổ chức quyền sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và đã ký Hiệp ước Paris, Bern và các hiệp ước về bản quyền trên thế giới nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (IPR) cũng như Hiệp định về các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của WTO (TRIPS).  

Viện quốc gia về sở hữu công nghiệp (INPI) - http://www.inpo.gov.br/ là cơ quan nhà nước có trách nhiệm đối với các quyền sở hữu công nghiệp và kiểm tra các yêu cầu về bằng sáng chế và đăng ký thương hiệu.  

Để một phát minh sáng chế được bảo vệ, nó phải được đăng ký sáng chế tại Brazil. Brazil là thành viên của Hiệp ước Paris. Một người nắm giữ sáng chế phải sử dụng sáng chế với mục đích thương mại hoặc sẽ mất quyền lợi về sáng chế. Thực phẩm, các sản phẩm y tế, các sản phẩm hoá học và dược phẩm hoặc các thành phần của nó, và các vi sinh vật cũng có thể đăng ký sáng chế. Những người nước ngoài có sáng chế đã bày tỏ mối quan tâm về quá trình xin cấp sáng chế INPI chậm trễ.  

Đăng ký một thương hiệu có thể là một thương hiệu nước ngoài hoặc một thương hiệu Brazil. Một thương hiệu nước ngoài được đăng ký theo các điều khoản của Hiệp ước Paris và vì thế đưa ra các ưu tiên đặc quyền. Đăng ký thương hiệu của bạn nhằm bảo vệ thương hiệu và làm cho thương hiệu đó được đăng ký hoặc được quyền đòi tiền bản quyền. Một thương hiệu đăng ký có hiệu lực trong vòng 10 năm và có thể xin gia hạn thêm 10 năm nữa.  

Bản quyền được bảo vệ không liên quan đến việc nó có được đăng ký hay không. Các vụ kiện hình sự và dân sự có thể liên quan đến việc vi phạm bản quyền. Đăng ký các phần mềm trước khi marketing cũng không cần thiết. Tuy nhiên, việc đăng ký này vẫn được khuyến khích. Luật phần mềm mới của Brazil đáp ứng được khung hiệp định TRIPS. Nó quy định việc bảo vệ các chương trình phần mầm và sửa chữa các định nghĩa về tái sản xuất, xuất bản, chuyển giao và phân phối. Nó đặc biệt bảo vệ các nhà phân phối lớn các phần mềm bị vi phạm bao gồm các nhà sản xuất phần cứng và CDs. Tuy nhiên, vẫn còn mối quan tâm về tính thiếu hiệu lực của luật bảo vệ bản quyền chống lại sự vi phạm các chương trình videocassettes, ghi âm, sách và phần mềm máy tính thâm nhập thị trường này.

Các công ty được thiết lập ở Brazil hiện nay được tự do thương lượng các hợp đồng chuyển nhượng công nghệ. Tuy nhiên, những hợp đồng này vẫn phải đăng ký với INPI.  

Các hợp đồng đặc quyền kinh tiêu không phải tuân theo các quy định tương tự như thương hiệu, sáng chế và chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, những hợp đồng này phải được INPI xem xét và chứng nhận. Không bắt buộc phải đăng ký một hợp đồng đặc quyền kinh tiêu cho có hiệu lực, nhưng khi được thực hiện với bên thứ ba phải đăng ký phù hợp với Tiêu chuẩn 115/93. Nếu bên đặc quyền kinh tiêu là bên nước ngoài, thì phải đăng ký với Ngân hàng trung ương để thực hiện chuyển tiền thanh toán.  

+ Cần thiết một nhà tư vấn trong nước

Thuê dịch vụ của một công ty tư vấn hợp pháp có kinh nghiệm trong nước rất quan trọng trong việc tham gia thương mại ở Brazil, đặc biệt trong các trường hợp liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Hơn nữa, một công ty tư vấn hợp pháp có thể giúp bạn hiểu hệ thống thuế phức tạp của Brazil cũng như giúp bạn giảm thiểu những rắc rối liên quan đến thuế của công ty bạn bằng việc tận dụng những ưu tiên về thuế ở mức độ trong nước, trong bang hoặc toàn liên bang.  

+ Kiểm tra tính cần mẫn xác đáng của các ngân hàng/ đại lý/ khách hàng

Do luật quy định các hợp đồng thương mại và các giao dịch thương mại giữa các nước rất khác nhau, nên các công ty nước ngoài được khuyến khích nên kiểm tra tính cần mẫn xác đáng về tình trạng pháp lý cũng như tài chính trước khi hoàn thành một giao dịch thương mại hoặc hình thành một hợp đồng đại lý/ đại diện. ở Brazil, các công ty nước ngoài có thể tìm đến các công ty luật và các công ty đánh giá tín dụng nổi tiếng để kiểm tra tình hình tài chính của khách hàng hoặc xin tư vấn pháp lý trước khi ký các hợp đồng thương mại. Điều này đặc biệt quan trọng ở Brazil và đặc biệt trong quá trình tư nhân hoá hoặc trong các vấn đề liên quan đến quy định của chính phủ. Nhiều công ty nước ngoài đã bị vướng mắc bởi các vấn đề về thuế trong việc đầu tư của họ ở Brazil cũng như trong công việc kinh doanh hàng ngày.

7. Một số điểm cần lưu ý

+ Diện mạo

Các bộ comple ba mảnh đặc trưng cho những nhân viên cấp cao, ngược lại những bộ comple hai mảnh dành cho những nhân viên văn phòng bình thường. Màu sắc trên cờ của Brazil là màu vàng và màu xanh. Tránh mặc những trang phục kết hợp giữa hai màu này.

Việc chạm tay, khuỷu tay và lưng được coi là bình thường. Dùng tay thể hiện sự đồng ý bị coi là một cử chỉ bất lịch sự ở Brazil. Để biểu lộ sự cảm kích, người Brazil có thể lấy ngón tay trỏ và ngón tay cái vân vê dái tai. Để được gặp may mắn, ấn mạnh ngón tay cái vào ngón trỏ khi nắm tay. Điều này cũng được hiểu là sự quyết tâm. Nhịp  các ngón tay trỏ dưới cằm thể hiện rằng bạn không biết câu trả lời.  

+ Cử chỉ

- Phải hẹn trước khi gặp ít nhất hai tuần. Đừng bao giờ liên lạc công việc qua điện thoại trong công việc kinh doanh hoặc tới các văn phòng chính phủ.

- Chuẩn bị sẵn sàng các nguồn lực dài hạn (cả thời gian và tiền bạc) để thiết lập các mối quan hệ tốt ở Brazil. Đây là chìa khoá thành công trong kinh doanh.

- Một số vùng không có ý thức nhiều về thời gian và công việc. Tuy nhiên San Paulo không thuộc các vùng này, và ở Rio sự thiếu trách nhiệm thường có đối với các cá nhân và trong các sự kiện xã hội, không xảy ra trong kinh doanh. ở hai thành phố này, các cuộc họp bàn công việc thường diễn ra đúng giờ.

- Không được trực tiếp đi thẳng vào vấn đề trước người chủ toạ. Các cuộc họp bàn công việc thường bắt đầu bằng việc thảo luận ngoài lề.

-Ăn trưa là bữa ăn chính. Buổi tối thường ăn nhẹ, trừ những dịp đặc biệt.

- Cà phê Brazil rất nổi tiếng. Hãy thưởng thức loại cà phê rất mạnh này.

- ở Brazil, các cuộc giải trí ở nhà hàng phổ biến hơn ở nhà riêng. Nếu dự tiệc tùng ở nhà riêng, hôm sau bạn nên gửi bó hoa cảm ơn tới chủ nhà cùng với lời cảm ơn.

- Không nên tặng quà trong lần đầu gặp gỡ, thay vào đó hãy mời đối tác đi ăn trưa hoặc ăn tối.

- Những loại hoa màu tía được sử dụng rộng rãi ở các đám tang. Vì vậy hãy thận trọng khi tặng ai hoa màu tía. Có thể tặng hoa màu tím.

- Nâng cốc chúc mừng: Saude hoặc Viva (Sah - OO-Day, VEE-va)

- ở Brazil thường boa 10%

- Nếu bạn dùng cụm từ jeito - điều ấy có nghĩa là không có gì chắc chắn cả, một sự nỗ lực cao có thể phá được các quy luật.

+ Giao tiếp

- Bắt tay, thường khá lâu, là một việc rất phổ biến. Bắt tay cả khi gặp và khi chia tay; kèm theo cả ánh mắt; khi chia tay một nhóm nhỏ, nên bắt tay với tất cả mọi người có mặt.

-Khi phụ nữ gặp nhau, họ thường hôn nhau bằng cách cọ má vào nhau và hôn vào không khí.

- Tên họ thường được gọi, nhưng các tước vị cũng hết sức quan trọng. Âm nhạc và các cuộc đàm đạo sôi nổi và dài là những thói quen rất hay của người Brazil. Khi chuyện trò, việc nói cắt ngang được coi là sự nhiệt tình. Người Brazil thích đùa và thân mật.

- Bồ Đào Nha là ngôn ngữ chính của Brazil.

- Những chủ đề hay được quan tâm: bóng đá, gia đình và trẻ em

- Những chủ đề nên tránh: Argentina, chính trị, nghèo đói, tôn giáo và Rừng mưa nhiệt đới.

- Không nên nói những câu như "Có phải người Brazil hoặc rất giàu hoặc rất nghèo không?"  

+ Thông lệ kinh doanh ở Brazil

Khách Việt Nam đến Brazil nên làm quen với một vài điều kiện làm việc đặc biệt ở Brazil. Tốc độ thương lượng công việc khá chậm và phụ thuộc nhiều vào các quan hệ cá nhân. Các cuộc thương lượng công việc quan trọng không được giải quyết qua điện thoại hoặc thư từ. Nhiều nhà kinh doanh Brazil không có phản ứng tốt trước các cuộc viếng thăm nhanh chóng và không thường xuyên của các đại diện bán hàng nước ngoài. Họ thích các mối quan hệ công việc lâu dài. Người mua hàng Brazil cũng quan tâm nhiều đến các dịch vụ sau bán của nhà xuất khẩu. Tốc độ chậm rãi của các cuộc thương lượng không có nghĩa là người Brazil ít hiểu biết về công nghệ hoặc các thực tiễn kinh doanh hiện đại. Trên thực tế, họ có thể rất hiểu biết về kỹ thuật khi gọi điện thay mặt một công ty Sao Paulo hoặc một công ty Chicago. Thêm vào đó, các doanh nhân nước ngoài nên học hỏi nhiều về nền kinh tế và môi trường thương mại Brazil trước khi tham gia kinh doanh. Uống cà phê trong các cuộc họp bàn công việc là một phong tục ở Brazil.

+ Ngôn ngữ

Mặc dù nhiều người Brazil có thể nói được tiếng Anh, nhưng họ vẫn muốn bàn luận công việc bằng tiếng Bồ Đào Nha. Những nhà kinh doanh nước ngoài không nói được tiếng Bồ Đào Nha nên thuê một phiên dịch. Tài liệu và các ấn phẩm giới thiệu sản phẩm nên in bằng tiếng Bồ Đào Nhà và tiếng Anh được ưa thích hơn tiếng Tây Ban Nha. Các chỉ dẫn và các số liệu kỹ thuật khác nên dùng hệ thống mét.  

+ Giờ làm việc

Các văn phòng thường làm việc từ 9h sáng đến 6h chiều, từ thứ 2 đến thứ 6.

- Các siêu thị, cửa hàng bách hoá và các trung tâm mua bán thường mở cửa từ 10h sáng đến 10h tối, từ thứ 2 đến thứ 7 và từ 10h sáng đến 6h tối chủ nhật.

- Các ngân hàng làm việc từ 10h sáng đến 4h chiều, từ thứ 2 đến thứ 6.

- Mặc dù giờ làm việc văn phòng ở Brazil thường từ 9h sáng đến 6h chiều, nhưng những người chủ chốt thường làm việc muộn hơn vào buổi sáng và ở lại muộn hơn vào buổi tối. Thời gian tốt nhất để gặp gỡ cho những nhà kinh doanh Brazil là từ 10h sáng đến trưa và từ 3h đến 5h chiều, mặc dù ở Sao Paulo các cuộc họp thường diễn ra cả ngày. Bữa ăn trưa thường diễn ra trong hai tiếng đồng hồ.  

+ Thực tiễn kinh doanh

- Khi thương lượng với các doanh nhân Brazil, bạn nên biết rằng họ thường tính toán bằng USD.

- Bạn phải luôn nhớ rằng các mối quan hệ cá nhân đóng vai trò hết sức quan trọng và có thể ảnh hưởng rất nhiều đến các công việc kinh doanh.

- Mặc dù nhiều người Brazil có thể nói tiếng Anh, nhưng một vài người trong số họ cảm thấy thoải mái hơn nếu có phiên dịch.

- Bạn nên có mối quan hệ trong nước và tất cả các tài liệu văn bản ban đầu với các đối tác kinh doanh quan trọng nên sử dụng tiếng Bồ Đào Nha hoặc tiếng Anh. Tránh sử dụng tiếng Tây Ban Nha thay thế tiếng Bồ Đào Nha.

- Các doanh nhân đến Sao Paulo nên lên kế hoạch rõ sẽ đi đâu để biết chính xác sẽ cần bao nhiêu thời gian. Nếu có thể, hãy tránh các giờ cao điểm (8h sáng đến 10h sáng và 5h30 đến 7h30 chiều). Trong mùa mưa (từ tháng 1 đến tháng 3) giao thông luôn luôn bị tắc nghẽn  

- Trong các cuộc họp bàn công việc, nên sử dụng chức vị nếu có thể (ví dụ như Giáo sư, Tiến sĩ) và "Senhor" (Ông) hoặc "Senhora" (Bà).

- Trong các cuộc họp, gọi "Ông" hoặc "Bà" và sau đó đến tên họ, không gọi tên gọi (ví dụ Sr Carlos, Sra Julia)

- Những doanh nhân không bao giờ quá thẳng thắn và họ thường không bao giờ nói "không".  

(Nguồn: dei.gov.vn, EXIMPRO)

--------------------------------------------------------------

Tìm hiểu thị trường

Marketing

HOME 
Comments