Cộng hoà Liên bang Đức

1. Tổng quan về kinh tế và chính trị

Là nước giàu có và đông dân nhất Tây Âu, Đức là một thành viên quan trọng trong nền kinh tế, chính trị và tổ chức quân sự của lục địa. Những cuộc tranh chấp quyền lực ở châu Âu đã đưa nước này vào hai cuộc chiến tranh thế giới nửa đầu thế kỷ 20 và bị các nước đồng minh như Mỹ, Anh, Pháp và Liên bang Xô viết đánh bại năm 1945. Do cuộc chiến tranh lạnh đã hình thành hai nước Đức năm 1949: Cộng hoà Liên bang Tây Đức (FRG) và Cộng hoà dân chủ Đông Đức (GDR). Cộng hoà dân chủ FRG đi theo đường lối kinh tế và quân sự phương Tây, khối EC và NATO trong khi GDR theo Hiệp ước hoà bình Warsaw do Xô viết đi đầu. Sự sụp đổ của Liên bang Xô viết và kết thúc chiến tranh lạnh, nước Đức thống nhất năm 1990. Từ đó Đức mở rộng các tổ chức tài chính để nâng sản lượng và mức lương của miền đông lên theo mức miền tây. Tháng 1 năm 1999, Đức cùng với 10 quốc gia châu Âu khác thiết lập đồng tiền chung châu Âu, đồng Euro.

Hình thức chính phủ: Cộng hoà liên bang; Hiến pháp: 23 tháng 5 năm 1949, gọi là Luật cơ sở, trở thành Hiến pháp của nước Đức thống nhất ngày 3 tháng 10 năm 1990; Hệ thống pháp luật: Hệ thống luật dân sự với các khái niệm bản xứ; các hoạt động xét xử diễn ra tại Toà án hiến pháp Liên bang, không chấp nhận quyền lực ICJ bắt buộc

Bầu cử: Tổng thống bầu theo nhiệm kỳ 5 năm theo Quy ước Liên bang gồm tất cả thành viên Hội đồng Liên bang và một số cử tri được bầu từ các bang; thủ tướng được bầu với đa số phiếu của Hội đồng Liên bang theo nhiệm kỳ 4 năm.

Cơ quan lập pháp: Lưỡng viện bao gồm Quốc hội Liên bang hay Bundestag

(thường có 656 ghế, nhưng nhiệm kỳ năm 1998 là 669 ghế, bầu cử theo phiếu phổ thông, một đảng phải thắng 5% trong cuộc bầu cử quốc gia hoặc 3 nghị sỹ để được đại diện, nghị sỹ làm nhiệm kỳ 4 năm) và Hội đồng Liên bang hay Bundesrat (69 ghế, các tiểu bang được đại diện trực tiếp bằng các lá phiếu, mỗi bang có từ 3 đến 6 phiếu phụ thuộc vào dân số)

Cơ quan lập pháp : Hội đồng Hiến pháp Liên bang hay Bundesverfassungsgericht (một nửa do Quốc hội Liên bang bầu, một nửa do Hội đồng Liên bang bầu)

Các nhóm áp lực chính trị và lãnh đạo: các tổ chức của người làm công; người bị trục xuất, người tị nạn, các liên minh thương mại và các nhóm cựu chiến binh

- Về kinh tế:

Đức có nền kinh tế kỹ thuật lớn thứ ba thế giới sau Mỹ và Nhật, nhưng cơ cấu thị trường thiếu linh hoạt - gồm chi phí ngoài lương lớn cho việc thuê nhân công mới - đã làm cho thất nghiệp dài hạn không chỉ là vấn đề theo chu kỳ. Dân số theo độ tuổi của Đức cộng với thất nghiệp cao đã đẩy chi phí an ninh xã hội lên mức cao, vượt quá mức đóng góp của công nhân. Vấn đề hiện đại hoá và hoà nhập nền kinh tế phương tây của Đức để lại những vấn đề tài chính trong dài hạn, với số tiền hàng năm thu được từ Tây Đức gần 70 triệu USD. Tăng trưởng cao nhất là 3% năm 2000. Tái cơ cấu doanh nghiệp và thị trường vốn tăng đang giúp nền kinh tế Đức đối đầu với những thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế châu Âu và toàn cầu hoá kinh tế nói chung.

Theo ước tính của các nhà chức trách, nền kinh tế của Đức chỉ tăng 0,6% vào năm 2001, một mức tăng trưởng thấp nhất tính từ năm 1993. Kết quả ban đầu của tổng sản lượng nội địa (GDP) vào quý 4 năm 2001 cho thấy đã giảm đi 0.2% sau -0.1% trong quý 2. Sự suy giảm này chủ yếu là do mức đầu tư vốn còn yếu kém, thấp hơn 3.4% trong năm 2001 so với năm 2000. Việc tạo ra việc làm mới cũng bị tạm dừng lại. Theo EIU, tỷ lệ thấp nghiệp ở mức 9.5% vào cuối năm 2001. Đặc biệt là mức thâm hụt ngân sách đã lên tới 53.8 tỷ hoặc chiếm 2.6% của GDP vào cuối năm 2001. Mức thâm hụt này có thể lên tới 2.7% vào năm 2002.

2. Đầu tư nước ngoài

Chính phủ Đức khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Đức và luật của Đức quy định đối với các doanh nghiệp nước ngoài giống như các doanh nghiệp ở Đức. Theo luật của Đức, các công ty do nước ngoài sở hữu đăng ký ở Đức là một công ty trách nhiệm hữu hạn (GmbH) hoặc là một công ty cổ phần (AG) được đối xử không khác gì so với các công ty của Đức. Không có bất cứ một yêu cầu đặc biệt nào về quốc tịch đối với giám đốc hoặc cổ đông cũng như đối với các nhà đầu tư phải đăng ký mục đích đầu tư với chính phủ. Các công ty nước ngoài cũng thường phải chịu những rào cản trong đầu tư giống như các công ty trong nước, chẳng hạn như mức thuế thu nhập biên cao, luật lao động không mềm dẻo và một số quy định nặng nề.

Luật về kinh tế nước ngoài của Đức bao gồm một điều khoản cho phép áp đặt những hạn chế đối với luồng đầu tư trực tiếp của tư nhân vì những lý do chính sách nước ngoài, ngoại hối hoặc an ninh quốc gia.

Đức giống như Mỹ có một hệ thống chính phủ liên bang, ở đó các tiểu bang có một số quyền lực riêng. Các nhà đầu tư nước ngoài có thể thảo luận với Uỷ viên Liên bang về Đầu tư nước ngoài có các trụ sở ở Mỹ và Đức và với mỗi bang trong 16 bang của Đức hoặc với các cơ quan phát triển kinh tế thành phố. Nhiều cơ quan phát triển của Đức có đại diện ở Mỹ. Văn phòng của Uỷ viên Liên bang về Đầu tư nước ngoài ở Đức là nơi đầu tiên mà các công ty nước ngoài có thể tới khi muốn đầu tư ở Đức. Các công ty nước ngoài dự định đầu tư và cần thông tin về đầu tư sẽ có được sự giúp đỡ nhanh chóng và tin cậy từ văn phòng này. Văn phòng được Bộ Kinh tế và Công nghệ Liên bang tài trợ. Mọi thông tin chi tiết có thể truy cập trong website: www.foreign-direct-investment.de.

3. Cấp phép và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

ở Đức có hai hình thức cấp giấy phép về sở hữu trí tuệ hoặc là trực tiếp hoặc là tập trung thông qua các cơ quan thu thập. Mặc dù những nhà làm luật đã đơn giản hoá việc thu thập tiền bản quyền cho người sở hữu, nhưng quá trình này vẫn không mang tính thực tế. Những phát triển gần đây trên Internet đã làm cho điều này ngày càng trở lên khó khăn hơn. Các cơ quan thu thập có thể kiểm soát một số lĩnh vực khác nhau của sở hữu trí tuệ. Chẳng hạn như GEMA (Musil Representation Soceity) vừa tạo ra một ban mới gọi là "GEMA Digital" có thể kiểm soát mọi mặt của bản nhạc đã đăng ký bản quyền ở dạng mẫu số. Không có bất kỳ một tổ chức nào khác ở Đức chuyên về lĩnh vực này lên Luật pháp của Đức phải tuân theo các quy định về bản quyền của EU.

Chính phủ Đức đã đưa ra một chính sách đối xử đối với quyền sở hữu của người nước ngoài đó là hoàn toàn được bảo vệ theo luật của Đức. Không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào đối với việc sở hữu, kiểm soát hoặc huỷ bỏ quyền sở hữu. Sở hữu trí tuệ được bảo vệ một cách nghiêm ngặt ở Đức do Đức là thành viên của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới. Đức cũng là một nước tham gia ký kết các hiệp định bảo vệ quyền sở hữu như Công ước Bern về bảo vệ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, Công ước Paris về bảo vệ sở hữu công nghiệp, Công uớc về Bản quyền chung, Công uớc về dấu ghi âm Geneva, Hiệp định hợp tác sáng chế...

Có một số ngoại lệ đối với các công ty và công dân Mỹ. Cam kết của chính phủ liên bang theo hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ của Vòng đàm phán Uruquay đã giảm bớt được mối lo ngại về mức độ ăn cắp bản quyền. Việc Đức thực thi chỉ thị về bản quyền phần mềm của EU năm 1993 đã giúp giải quyết được vấn đề này.

4. Quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam - Đức

- Về ngoại thương:

Sáu tháng đầu năm 2002, trao đổi thương mại giữa hai nước đã tăng 7,2%, nâng tổng số lên 838,4 triệu Euro. Dự kiến cả năm nay kim ngạch sẽ vượt 1,6 tỉ Euro của năm ngoái. Trong 6 tháng đầu năm, Việt Nam vẫn tiếp tục tạo ra thặng dư thương mại gần 400 triệu Euro. Tuy nhiên với việc nhập khẩu từ Đức tăng khoảng 1/3 thì cán cân thương mại hai nước dần tiến tới sự cân bằng.

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Đức trong 6 tháng đầu năm 2002 đã lên tới 618.1 triệu Euro, vượt kim ngạch nhập khẩu từ Đức cũng trong 6 tháng đầu năm nay khoảng 400 triệu Euro. Xuất khẩu của Đức trong 6 tháng đầu năm tăng từ 168.1 triệu lên 220,3 triệu Euro.

Về đầu tư của Đức, trong 8 tháng đầu năm, theo thống kê của Bộ KH&ĐT, có 41 dự án với số vốn đầu tư là 348,3 triệu USD đã được cấp phép.

Mặc dù Đức không phải là nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam nhưng các công ty của Đức vẫn coi Việt Nam là thị trường hấp dẫn đối với đầu tư lâu dài. Trên thực tế, các công ty Đức đầu tư vào Việt Nam còn nhiều hơn các số liệu thống kê cho thấy bởi vì một số dự án được thực hiện thông qua các công ty khác ở khu vực.

Về viện trợ, Đức cam kết giữ mức viện trợ cho Việt Nam trong năm nay ít nhất bằng mức năm 2001 là 65 triệu DM.

- Về đầu tư:

So với tiềm năng thì đầu tư trực tiếp của Đức vào Việt Nam vẫn chưa phải là nhiều. Tính đến ngày 20.2.2002, tổng vốn đầu tư trực tiếp của Đức vào VN chỉ đạt 475 triệu USD (kể cả dự án đầu tư 120 triệu USD của Tập đoàn Metro Cash & Carry) và Đức chỉ xếp thứ 17 trong số 61 nước đầu tư vào VN.

Tổng cộng đến nay đã có 50 cơ sở sản xuất của Đức được thành lập tại Việt Nam. Các cơ sở sản xuất này bao gồm nhiều hình thức đầu tư khác nhau như công ty liên doanh, các công ty 100% vốn đầu tư của Đức và các doanh nghiệp gia công hàng hoá.

Đức hiện chỉ tập trung đầu tư ở Việt Nam với các qui mô nhỏ và vừa, đa số dự án đều có số vốn đầu tư dưới 10 triệu USD, thậm chí có một vài dự án có số vốn ít hơn 1 triệu USD.

Mặc dù Việt Nam đã thay đổi và sửa đổi nhiều hệ thống pháp luật và hành chánh trong những thập kỷ qua, nhưng các nhà đầu tư Đức vẫn còn ngần ngại khi quyết định đầu tư vào Việt Nam, Bên cạnh sự khác biệt về văn hoá, khoảng cách địa lý và thiếu thông tin là một trong những nguyên nhân chính cho cách ứng xử này. Nhiều doanh nghiệp của Đức vẫn chưa biết đến những cải tổ của Việt Nam trong những năm qua.

Khác với tình hình đầu tư, quan hệ thương mại song phương phát triển với tốc độ cao. Tại Việt Nam tính đến thời điểm tháng 9.2002, có 238 văn phòng đại diện của các công ty và tổ chức khác nhau của Đức, tăng hơn năm trước 8%. CHLB Đức cũng là một thị trường nhập khẩu lớn sản phẩm tiêu dùng của Việt Nam ở châu Âu.

Trong trao đổi thương mại, Việt Nam xuất siêu khá nhiều sang Đức, hơn 1.2 tỉ Euro năm 2001. Tuy xuất khẩu của Đức đã tăng lên, nhưng cán cân thanh toán vẫn nghiêng rất mạnh về phía Việt Nam, với mức thặng dư khoảng 800 triệu Euro. Tổng kim ngạch trao đổi thương mại giữa 2 nước trong năm 2001 lên trên 1,6 tỉ Euro. Đức là một thị trường khó tính, nhưng rất đa dạng và hứa hẹn khả năng tiêu thụ hàng lớn. Hai nhóm hàng Việt Nam xuất khẩu sang Đức có giá trị cao là hàng may mặc và giày da. Nhóm hàng chủ lực của Đức vào Việt Nam là máy móc và thiết bị điện tử.

5. Yêu cầu về tiêu chuẩn, thử nghiệm và chứng nhận

- Về tiêu chuẩn:

Các quy định và thủ tục mang tính quan liêu của Đức có thể là những rào cản lớn cho các công ty muốn thâm nhập thị trường Đức. Những tiêu chuẩn về an toàn rất phức tạp được áp dụng rất thường xuyên và đã gây khó khăn cho các sản phẩm của các nước khi muốn thâm nhập thị trường.

Những cố gắng của EU nhằm hài hoà các yêu cầu về an toàn sản phẩm và những tiêu chuẩn có liên quan đến hàng hoá công nghiệp của các nước thành viên đã làm cho vấn đề thêm phức tạp. Trong suốt thời kỳ quá độ, các yêu cầu trong nước phải được đáp ứng (sau thời kỳ quá độ, nhãn CE của EU đã thay thế cho các chứng nhận phù hợp khác). Những cố gắng của EU nhằm hài hoà tiêu chuẩn thông qua các chỉ thị đơn giản hoá việc chứng nhận bằng "Phương pháp tiếp cận mới" vẫn chưa được thực hiện. Trong một số trường hợp, các doanh nghiệp nước ngoài, chẳng hạn về lĩnh vực ôtô và y học sẽ phải quan tâm đến việc đáp ứng các yêu cầu cụ thể của những quy định về tiêu chuẩn của EU áp dụng đối với mỗi loại hàng hoá cụ thể thông qua "Phương pháp tiếp cận cũ".

Điều này đặc biệt quan trọng do các tiêu chuẩn của EU đều rất phát triển, nên rất có thể các tiêu chuẩn hiện hành của Đức sẽ dựa trên tiêu chuẩn của Châu Âu. Trong nhiều trường hợp, Đức cũng sẽ là nước Châu âu đầu tiên áp dụng tiêu chuẩn của EU. Mặc dù đã được áp dụng trong khoảng thời gian là 5 năm nhưng việc áp dụng tiêu chuẩn về tương thích điện từ vẫn đã gây bất ngờ cho nhiều công ty, không chỉ các công ty nước ngoài mà còn các công ty của Đức.

Những nhà kinh doanh ở Đức cần phải có nhãn hiệu về chất lượng hoặc hiệu suất, mặc dù chúng không được quy định trong các điều luật nhưng chúng lại góp phần làm cho sản phẩm có nhiều cơ hội khi được bán ra thị trường. Trong nhiều trường hợp, cả tiêu chuẩn và những yêu cầu của EU đối với nhãn hiệu về hiệu suất hoặc chất lượng buộc các sản phẩm phải được thay đổi. Thậm chí nếu sản phẩm đó không cần có sự thay đổi thì việc thử nghiệm và chứng nhận lại là cần thiết trước khi hàng hoá được tung ra thị trường. Những nhãn hiệu quan trọng là các nhãn "gepruefte Sicherheit" (GS) cho sản phẩm cơ khí và nhãn "Verband Deutscher Elektrotechniker" (VDE) cho các linh kiện điện tử, nhưng không có nhãn hiệu nào là bắt buộc đối với hàng hoá được bán ở Đức.

Tổ chức ở Đức biên soạn ra tiêu chuẩn dựa trên những yêu cầu đối với nhãn nhiệu "GS" đó là DIN (Deutscher Industrie Normenausschuss)- Viện tiêu chuẩn Đức. Tổ chức chịu trách nhiệm về thử nghiệm là "Technischer Ueberwachungsverein e.V- TUV (Hiệp hội kiểm tra về kỹ thuật).

- Về thử nghiệm

TUV kiểm tra cả giấy phép "VDE" và giấy phép "GS". Quá trình chứng nhận "VDE" cũng như đối với nhãn "GS". TUV là các công ty tư nhân do nhiều tiểu bang của Đức thành lập để kiểm tra và thử nghiệm các hàng hoá cho phù hợp với tiêu chuẩn an toàn của Đức. Mỗi TUV cũng được Chính phủ Đức uỷ quyền kiểm tra sản phẩm phù hợp với quy định của EU, và nhiều TUV đã thành lập văn phòng đại diện ở nước ngoài.

+ Dấu thử nghiệm GS- Mark- Dấu của sự thành công trong môi trường được đảm bảo

Nhiều sản phẩm " giống nhau như hai giọt nước". Người tiêu dùng cuối cùng thường không biết dựa vào tiêu chí nào để đi đến quyết định cuối cùng khi muốn mua một hàng hoá nào đó. Ai có thể nhận biết ngay "giá trị bên trong" của sản phẩm? Đối với các nhà sản xuất, kinh doanh và nhập khẩu khi muốn tung sản phẩm của mình ra thị trường một cách thành công thì cần phải dán nhãn về an toàn cho sản phẩm. GS Mark đã tồn tại trong hơn 20 năm qua và được đánh giá cao trong lĩnh vực an toàn thiết bị. Trong tình hình thị trường hiện nay với sản phẩm luôn được cạnh tranh trên toàn thế giới thì GS Mark giữ vai trò quan trọng hơn bao giờ hết. GS Mark được một tổ chức thử nghiệm độc lập TUV Rheinland Product Safety GmbH cung cấp nhằm củng cố lòng tin của người tiêu dùng. GS Mark không chỉ được sử dụng ở Đức mà còn được sử dụng ở một số nước lân cận ở phía Đông và phía Tây.

Những mặt hàng nào cần được thử nghiệm?

Luật An toàn đối với Thiết bị quy định cơ sở thử nghiệm và phê chuẩn mọi "thiết bị làm việc hữu ích". Những sản phẩm như máy sấy tóc hoặc máy cắt gạch, bình lọc cà phê hoặc kéo làm vườn nằm trong số 3500 thiết bị điện và cơ khí sử dụng thông thường có thể được TUV Rheinland Product Safety GmbH thử nghiệm về an toàn và cấp GS Mark. Một số phòng thử nghiệm được trang bị nhiều máy móc hiện đại để thử nghiệm một số mặt hàng sau:

- Các thiết bị dân dụng

- Đèn các loại

- Dụng cụ làm vườn

- Dụng cụ thể thao

- Dụng cụ và máy móc tự chế

- Các thiết bị điện tử dùng cho giải trí

- Đồ chơi

- Đồ dùng cho trẻ sơ sinh và trẻ em

- Nội thất

- Thiết bị bảo vệ cá nhân

- Thiết bị văn phòng

- Thiết bị thử nghiệm

Thiết bị kỹ thuật có thể được ghi nhãn GS Mark nếu:

- Sau khi một loại thiết bị nào đó được một cơ quan độc lập, có thẩm quyền thử nghiệm kết quả cho thấy sản phẩm đó phù hợp với các yêu cầu về an toàn.

- Cơ quan chứng nhận và thử nghiệm quy định chỉ những sản phẩm phù hợp với những yêu cầu về an toàn mới được đưa ra thị trường (nhằm để kiểm soát sản xuất).

Nếu nhà sản xuất đáp ứng được những yêu cầu trên thì sẽ được trao chứng chỉ thử nghiệm GS.

Tại sao GS Mark lại quá phổ biến?

Các nhà sản xuất không thuộc Châu Âu thường hay nhầm lẫn giữa CE, CB và GS. Dưới đây là phần giảng giải nhằm giúp họ tránh có những hiểu lầm đó.

GS Mark là một loại dấu thử nghiệm tự nguyện, được đưa ra nhằm đáp ứng các nhu cầu của ngành công nghiệp, nhà nhập khẩu, phân phối, kinh doanh, các tổ chức tiêu dùng và bảo hiểm xã hội ở Đức. GS chứng nhận lại sự phù hợp của sản phẩm kỹ thuật với các yêu cầu an toàn theo Luật An toàn của Đức. Những tổ chức này không thể tự kiểm soát sự phù hợp của các mặt hàng trên toàn thế giới, nhưng họ muốn tránh những điều dễ thay đổi liên quan đến trách nhiệm về sản phẩm và sự hài lòng khách hàng. Khái niệm về GS đã rất thành công, nó không những trở thành một tiêu chuẩn để tiếp cận thị trường mà còn được xem như là sự chấp thuận của người tiêu dùng và nhà phân phối ở các nước khác trong và ngoài Châu Âu.

CE Marking là một quy định bắt buộc và không phải là dấu thử nghiệm. Nó do Liên minh Châu Âu cấp như là một hộ chiếu cho các quan chức hải quan, cho phép sản phẩm đó được kinh doanh tự do ở Châu Âu. Do CE Marking được gán cho các sản phẩm trong giới hạn các chỉ thị của Châu Âu nên nó không có giá trị tiếp cận thị trường đặc biệt nào.

Không được nhầm lẫn CB-Scheme với CE Marking hoặc GS Mark. CB- Scheme không phải là ghi nhãn mà cũng không phải là nhãn thử nghiệm mà nó là một Sơ đồ thừa nhận lẫn nhau giữa các nhà thử nghiệm dựa trên tiêu chuẩn IEC. Thành viên của Sơ đồ này cấp dấu thử nghiệm dựa trên chứng chỉ CB và kết quả thử nghiệm do những thành viên khác của Sơ đồ cung cấp. Do đó, không nhất thiết phải thử nghiệm lại đối với mỗi nước. Một số thử nghiệm phụ có thể sẽ được thực hiện nhằm để kiểm tra sự sai lệch quốc gia.

- Tự chứng nhận

Đối với một số sản phẩm, các nhà sản xuất có thể tự chứng nhận (thông qua Ban Công bố phù hợp của nhà sản xuất). Để có thông tin chi tiết xin liên hệ với:

U.S. Mission to the EU (USEU)

40 Blvd. Du Regent

B-1000 Brussels, Belgium

Phone: 011-32-2-508 2746

6. Nguồn nhân lực, luật lao động

Với tỷ lệ thất nghiệp lên tới gần 4 triệu người, Bundesrat đã thông qua bộ luật lao động Job-Aktiv Gesetz vào tháng 12/2001. Công đoàn đã phản đối bộ luật này nhằm cho phép các ban cung cấp việc làm của Văn phòng việc làm Liên bang sử dụng các khoản tiền trợ cấp cho công nhân lương thấp (với mức phân phối ngân sách hàng năm là 2.5 tỷ -3 tỷ euro).

Lực lượng lao động ở Đức nói chung có trình độ tay nghề cao, có học vấn, có kỷ luật và làm việc rất có hiệu quả. Tuy thị trường lao động được đặc thù hoá do nhiều vấn đề về cơ cấu nhưng Đức là một trong những nước có mức lương và phụ cấp cao nhất thế giới, một phần là do tỷ lệ thất nghiệp cao (khoảng 10%). Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp cao nhưng trong một số ngành công nghệ cao vẫn xuất hiện tình trạng thiếu lao động trầm trọng, các doanh nghiệp mong muốn những thủ tục visa sẽ đơn giản hơn đối với những lao động nước ngoài có trình độ cao về chuyên môn, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Để đáp ứng điều này Chính phủ đã đưa ra một số chương trình nhằm thu hút các chuyên gia nước ngoài nhiều hơn nữa.

(Nguồn: EIU, Trung tâm Thông tin Bộ Thương Mại Mỹ, VAST ORIENT)

Comments