Ngữ văn 6‎ > ‎

Biện pháp tu từ

1. So sánh

a. So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.

    VD:                                Trẻ em như búp trên cành

                                 Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan

b. Mô hình cấu tạo đầy đủ của một phép so sánh gồm:

 

Vế A (sự vật được so sánh)

Phương diện so sánh

Từ so sánh

Vế B (sự vật dùng để so sánh)

Mồ hôi

Những hạt mưa bé nhỏ, mềm mại

Mặt trời

thánh thót

rơi

xuống biển

như

mà như

như

mưa ruộng cày

nhảy nhót

hòn lửa…

c. Nhưng trong thực tế, mô hình cấu tạo nói trên có thể biến đổi ít nhiều. Cụ thể thường là các từ ngữ chỉ phương diện so sánh và chỉ ý so sánh bị lược bớt.

VD:                     Trường Sơn: chí lớn ông cha

                     Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào

 

Vế A (sự vật được so sánh)

Phương diện so sánh

Từ so sánh

Vế B (sự vật dùng để so sánh

chí lớn ông cha

lòng mẹ

bao la

(như)

(như)

Trường Sơn

Cửu Long

* Và đôi khi vế B có thể đảo ngược lên trước vế A cùng với từ so sánh.

VD: Như một thằng điên, tên cướp hung hãn lao cả xe vào cảnh sát.

D. Trong so sánh có hai loại: so sánh ngang bằng và so sánh không ngang bằng.

VD:    Những ngôi sao thức ngoài kia

       Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con  ->kiểu so sánh không ngang bằng

        Đêm nay con ngủ giấc tròn

       Mẹ (như) là ngọn gió của con suốt đời ->kiểu so sánh ngang bằng.

 

2. Nhân hoá

a. Nhân hoá là gọi hay tả sự vật bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người là cho sự vật (cây cối, loài vật, đồ vật…) trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người.

VD:                  Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

                        Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

                                                             (Viếng lăng Bác -Viễn Phương)

                      Gió theo lối gió mây đường mây

                      Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

                                                              (Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử)

b. Có ba kiểu nhân hoá thường gặp là:

* Dùng những từ vốn gọi người để gọi vật

VD: Từ đó lão Miệng, bác Tai, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay lại thân mật sống với nhau, mỗi người một việc, không ai tị ai cả.

* Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của con người để chỉ hoạt động, tính chất của sự vật.

VD: cụm từ: không ai tị ai cả ở ví dụ trên.

* Trò truyện xưng hô với vật như đối với người.

VD:     Trâu ơi, ta bảo trâu này                      Núi cao chi lắm núi ơi

   Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.        Núi che mặt trời chẳng thấy người

 

3. Ẩn dụ

a. Ẩn dụ là gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác khi giữa chúng có quan hệ tương đồng, tức chúng giống nhau về một phương diện nào đó, nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.

VD: Thuyền về có nhớ bến trăng                            Dưới trăng quyên đã gọi hè

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.              ….lửa lựu lập loè đơm bông.

-   Thuyền            = chàng (so sánh ngầm) = di động (Phú Xuân…)

-    Bến                  = thiếp, cô gái                = cố định

-    lửa lựu lập loè  = cảnh sắc mùa hè sinh động = tín hiệu mùa hè.

b. Có hai kiểu ẩn dụ là: ẩn dụ hình tượng và ẩn dụ chuyển đổi cảm giác.

Ví dụ 1:                    Thác bao nhiêu thác cũng qua

                       Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời.

Hình ảnh ẩn dụ “thác, thuyền” thể hiện hoành tráng hình ảnh người chiến sĩ giải phóng --> ẩn dụ hình tượng.

Ví dụ 2: “Vứt đi những thứ văn nghệ ngòn ngọt, bày ra sự phè phỡn thoả thuê hay cay đắng chất độc của bệnh tật, quanh quẩn vài tình cảm gầy gò của cá nhân co rúm lai”..  (Nguyễn Đình Thi – Nhận đường)

--> hình ảnh: “văn nghệ ngòn ngọt, sự phè phỡn thoả thuê, tình cảm gầy gò” thể hiện một cách sống động. --> ẩn dụ chuyển đổi cảm giác.

 

4. Hoán dụ

a. Hoán dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

Ví dụ : Đầu xanh có tội tình gì             ->chỉ tuổi trẻ, tuổi thơ

Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi.   -> Chỉ người con gái trẻ đẹp, mĩ nhân.

          (Nguyễn Du – Truyện Kiều)

b. Có ba kiểu hoán dụ thường gặp là:

* Lấy một bộ phận để gọi toàn thể:

Ví dụ : + Một cây Toán xuất; Một chân bóng cừ khôi; Một tay cờ thượng hạng…vv..

hoặc: “Bàn tay ta làm nên tất cả. Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”

* Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật.

Ví dụ: Ngày Huế đổ máu --> Đổ máu là dấu hiệu để chỉ hiện tượng chiến tranh (cuộc kháng chiến).

* Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng:

Ví du: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông             ->thôn Đoài, thôn Đông là chỉ

   Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào.        người thôn Đoài, thôn Đông.

(hàm ý người ở thôn Đoài, thôn Đông)

 

* So sánh ẩn dụ và hoán dụ:

+ Giống nhau: Lấy tên sự vật, hiện tượng này để gọi tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó.

+ Khác nhau

- Giữa hai sự vật, hiện tượng có mối quan hệ tương đồng, tức giống nhau về phương diện nào đó.

- Cơ sở của ẩn dụ là dựa trên sự liên tưởng giống nhau của hai đối tượng bằng so sánh ngầm.

- Thường chuyển trường nghĩa. - Giữa hai sự vật, hiện tượng có mối quan hệ tiếp cận, tức đi đôi, gần gũi với nhau.

- Cơ sở của hoán dụ là dựa trên sự liên tưởng kề cận của hai đối tượng mà không so sánh.

- Không chuyển trường nghĩa.

Comments