Thức ăn cho cá chọi phần 2

THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG CỦA THỨC ĂN
Chất dinh dưỡng nuôi sống cá bao gồm chất lòng trắng trứng, đường, mỡ, muối vô cơ, các vitamin và một số tố chất phụ khác.
1. Chất lòng trắng trứng (abumin)
Là thành phần chủ yếu, rất cần thiết cho cơ thể cá, nó giúp cơ thể tăng trưởng, phát triển cung ứng chất mới, nếu được cung ứng đầy đủ, cá sinh trưởng nhanh vì trong lòng trắng trứng có thành phần axit amin rất quan trọng.
2. Chất đường.
Cơ thể cá nhất là phần thịt rất cần chất đường, qua tác dụng với dưỡng khí, mỡ được tạo thành trở nên dinh dưỡng dự trữ cho cơ thể cá. Có thể dùng đường nho, đường mía, đường trong sữa và tinh bột để nuôi cá.
3. Chất mỡ
Mỡ là một phần năng lượng dinh dưỡng của cơ thể, cá sinh trưởng nhanh hay chậm, có thể tồn tại qua mùa đông hay không là nhờ lượng mỡ trong cơ thể chúng.
4. Chất muối vô cơ
Là nguyên tố chủ yếu tạo xương cá và huyết dịch. Thức ăn của cá có muối sẽ giúp cho sự tiêu hóa và chuyển hóa mỡ tốt hơn. Muối vô cơ trong nước và trong thức ăn qua hô hấp của cá sẽ thành tạo da là lớp bảo vệ quan trọng với cơ thể. Ngoài ra, cá còn cần tới các thành phần sắt, đồng, natri trong thức ăn ... thiếu các nguyên tố đó, cá sinh bệnh và chậm phát triển.
5. Các vitamin
Sự phát triển, phát dục của cá chủ yếu nhờ các vitamin. Thiếu vitamin A, các mất đi sắc tố làm cá kém đẹp lộng lẫy, da kém bóng. Thiếu vitamin E, sự phát dục và sinh dục của cá giảm. Thiếu vitamin B, cá gầy yếu, hay mắc bệnh, phát triển chậm. Chính vì vậy, thức ăn của cá đòi hỏi khá đủ các tố chất, thành phần. mồi lý tưởng của cá là những thức ăn có thể nuốt thẳng. Dựa và những đặc điểm đó, chúng ta phải quan tâm tạo ra những thức ăn thích hợp với từng loại cá, tạo điều kiện cho cá được nuôi dưỡng phát triển, sinh sản tốt.
II. THỨC ĂN TRONG TỰ NHIÊN CỦA CÁ CHọI
Ngoài thiên nhiên, cá sônsg với nước sinh trưởng bình thường nhờ nguồn thức ăn tự nhiên phong phú về số lượng và chủng loại. Đó là các loại  cá nhỏ, thân giáp, thủy sinh, rong tảo, v.v...
Trong bể nuôi, với nguồn nước sử dụng nhất định là nước máy hoàn toàn không tồn tại thức ăn tự nhiên của cá. Muốn duy trì sự sống còn và phát triển của cá, cần phải chế tạo ra các loại thức ăn nhân tạo theo từng chủng loại cá. Các dạng thức ăn chế biến khác nhau thường là thức ăn lỏng, nén, dạng bánh ngọt hay miếng đông lạnh, thái lát. Theo nhịp sống bình thường của cá, cho đến nay người ta đủ khả năng cung cấp các loại thức ăn trong suốt cuộc đời phát triển của cá từ thức ăn cho cá bột tới cá lớn. Có thể nói điều hạn chế trong thức ăn nhân tạo là gây cho cá sự nhàm chán vì quá đơn điệu, khó phù hợp tuyệt đối với nhu cầu của cá. Cá ăn quá nó tích mỡ nhiều sẽ giảm thọ, thức ăn thừa tan trong nước gây ô nhiễm nước, làm ảnh hưởng tới sức khỏe của cá và thường là một trong những nguyên nhân gây bệnh cho chúng.
Muốn cá phát triển tốt, ít bệnh tật nên cho cá ăn ít theo trình tự ngày ba lần, một lần vào buổi sáng, lần sau vào buổi trưa và bữa ăn cuối vào buổi tối, đều đặn hàng ngày theo một lượng dự kiến nhất định. Hạn chế thức ăn thừa, khi đêm tối xuống cá ngủ và ít ăn.
Các loại thức ăn khô, giàu prôtêin đóng thành gói bán tại các cửa hàng bán cá dạng viên nhỏ cũng không nên cho cá ăn thường xuyên. Tìm kiếm các thức ăn của cá trong thiên nhiên để cải thiện cuộc sống ăn uống của cá cũng cần được quan tâm đúng mức. thức ăn tươi thích hợp với các loại cá, chúng thích ăn bắt mồi hơn ăn mồi có sẵn: các loại bọ gậy nước như bọ gậy muỗi Culex, giun ống Tubifex, rận nước Daphnia pulex (thủy trần, hồng trần), trứng nước hay bo bo Moina, bọ một mắt Cyclops, giun chỉ, ấu trùng, côn trùng, thủy sinh, cá con,...
1. Bọ gậy, cung quăng là ấu trùng của nhiều loài muỗi, là thức ăn quan trọng của nhiều loài cá nuôi, thông thường thấy loài này trên bề mặt hồ ao... có thể vớt nhanh bằng vợt trước khi chúng di chuyển xuống đáy. Nên cho vào bể vừa đủ trong 1 – 2 ngày, không nên thả quá nhiều, cá ăn không hết thành muỗi gây bệnh.
2. Trùng bánh xe Rotatoria thuộc ngành giun tròn Nemathelminthes là nhóm động vật không xương sống rất nhỏ (1 – 3 mm) tìm thấy ở ao và vùng nước ngọt. Loài phổ biến nhất là Brachionus rubens và Hydatina senta. Có thể dùng vợt dài 60 cm, đường kính vợt 15 cm căng lưới ni lông đặt đón ở chỗ nước tĩnh. Thức ăn này rất quan trọng với cá bột và cá ăn nổi.
3. Rận nước Daphnia thuộc bộ râu chỉ Cladocera lớp Giáp xác crustâc ngành chân khớp Arthropoda. Rận nước cũng thuộc vào nhóm sinh vật nhỏ, thường gặp loại Daphnia pulex sống ở ao tù, trong bể lọc nước uống và trong bể bơm nước gia dụng.
4. Bọ một mặt (hay con độc nhãn) Cyclops cũng là nhóm sinh vật nhỏ thuộc bộ chân kiếm Copepoda lớp giáp xác, ngành chân khớp như rận nước. Chúng nhỏ hơn Daphnia và có màu xanh xám
Chúng là thức ăn tốt cho cá săn bắt mồi. Không nên cho chúng vào bể nuôi sinh sản nếu chúng đang mang trứng hay sinh con.
5. Giun ống Tubifex thuộc họ Tubificidae, lớp Giun ít tơ Oligochaeta ngành giun đốt Annalidae. Giun đỏ nhợt là loại giun chỉ nhỏ, thường dài 1 – 5 cm, sống ở chỗ bẩn của ao hồ, cống rãnh được bán phổ biến ở cửa hàng cá cảnh, lẫn với thức ăn bẩn mà chúng sống. Trước khi cho loại giun này vào bể, nên xử lý nước trong nước muối pha loãng nồng độ 0,1%; lượng giun này bỏ vào bể cá chỉ nên vừa đủ cho cá ăn trong ngày. Không nên bỏ quá nhiều, giun thối trong nước sẽ làm cá ngộ độc.
Khi cho cá ăn các mồi sống trong tự nhiên phải chú ý loại trừ các khả năng chúng mang bệnh tật vào cơ thể cá hoặc trở thành kẻ thù của cá.
Giun ống hay giun chỉ cần dược bảo quản dưới dòng nước chảy. Ngoài ra có thể cho cá ăn giun đất nhỏ (ở vùng đất khai thác không có thuộc diệt cỏ hay thuốc trừ sâu).
Nhiều loại cá có khả năng ăn thức ăn thừa của người như thịt bò chín băm nhỏ, tim bò, đậu Hà Lan, xà lách, cải bắp thái, Tống xôi,... và cả thịt trai, cá, trứng cá, thịt sống băm nhỏ, các loại hạt đậu, cám...
Những loài thủy sinh thân giáp ở nơi có nhiều loại cá sống trong tự nhiên có thể mang mầm bệnh vào bể nuôi nếu lấy chúng làm thức ăn cho cá. Nhiều khi, vô tình trong lúc kiếm thức ăn cho cá lại mang những sinh vật có hại cho cá vào bể. Những sinh vật có hại này, chủ yếu là ấu trùng của Dyticú marginalis, Notonecta, Gyrinus và các loại ấu trùng chuồn chuồn (gọi là bắp cày của Aeshân, Libellula, Sympetrum), thủy tức, đỉa, ốc sên và nhiều sinh vật nhỏ khác. Với loại thức ăn này, cần phải lọc rửa cẩn thận.
Những động vật có thể nuôi làm thức ăn thường xuyên cho cá là trứng nước, hồng trần (bọ đỏ) hay bo bo Moina, cùng với rận nước Daphnia thuộc bộ râp chẽ Cladocera ngành chân khớp Arthropoda.
6. Trứng nước (hồng trần, thủy trần), thường tập trung thành những đám dày đặc màu đỏ hoặc xanh vào buổi sáng ở ao, hồ, đầm, vùng nước, cống rãnh chứa nhiều chất hữu cơ mà cá ưa thích đặc biệt với các loại cá bột và bể nuôi cá cảnh. Trứng nước vớt được trong tự nhiên thường vấy độc hoặc bẩn, nhiều khi còn mang theo những sinh vật độc hại cho bể nên tốt nhất là nuôi riêng để tạo nguồn thức ăn cho cá. Do có lối sinh sản đơn tính, con trứng nước cái có khả năng sinh sản những thế hệ con hoàn toàn cái để tăng sinh trong môi trường thuận lợi về thức ăn, mật độ và nhiệt độ. Trong những điều kiện môi trường khó khăn, nó còn có khả năng tự điều chỉnh sinh ra những con trứng nước đực, sinh sản hữu tính ra trứng ở trạng thái tiềm sinh giúp chúng tồn tại.
Trứng nước có khả năng sinh sản rất nhanh, loại Moinarechros tris, từ một con cái mới nở sau 48 – 60 giờ sinh sản lần đầu và sau đó 25 – 30 giờ lại sinh sản lần thứ hai, trung bình mỗi lần sinh ra 15 – 20 con. Với khả năng sinh sản cao như vậy, sau một tuần ( 7 ngày) chúng sẽ đạt một sinh khối tối đa khoảng 9.000 – 15.000 con/lít môi trường nuôi. Thức ăn chủ yếu của chúng là tảo đơn bào, các loại tế bào nấm men và các loại vi khuẩn. Phương pháp nuôi bằng môi trường vi khuẩn đơn giản, dễ áp dụng rộng rãi. Để tạo thức ăn cho trứng nước (hồng trần, thủy trần), người ta thường dùng phân chuồng tươi, tốt nhất dùng phân ngựa hay phân bò phơi khô và pha theo công thức sau:
- Phân khô 18,9 g, đất ao 100g, nước ao 1 lít. Cho hỗn hợp này vào một lọ chứa để ở chỗ râm mát. Sau 4 ngày lọc lấy nước, bỏ bã. Dung dịch thu được pha loãng với 4 phần nước ao, hồ đã lọc sạch (hoặc nước máy để sau 24 giờ cho hết clo) để nuôi trứng nước.
7. Trùng cỏ Paramecium caudatum
8. Artemia, chủ yếu là Artemia salina thuộc họ chân mang Acostraca lớp Giáp xác, ngành chân khớp. Trong thiên nhiên, Artemia sống ở mép bờ nước mặn hoặc nước lợ và cả ở nước ngọt trong thời gian ngắn. Khi độ mặn của muối thay đổi thì chẽ đuôi của Artemia cũng biến dạng; chúng sinh sản vô tính. Đây là loài được nuôi nhân tạo để làm mồi cho cá con và tôm he.
Với cá bột, Artemia giữ vai trò quan trọng, là thức ăn của cá trong bể nuôi. Trứng của loại này có thể bảo quản được lâu và chỉ nở khi nhúng vào nước mặn. Các ấu trùng mới nở là thức ăn tốt nhất của cá bột, chúng là loài hàm chứa chất dinh dưỡng cao và gần như không bị nhiễm bệnh. Nuôi quay vòng tạo thức ăn liên tục cho cá là cách thường xuyên hiện nay đã trở thành phổ biến. Trứng Artemia thường sẵn có ở hai dạng có vỏ và không vỏ, loại không vỏ cho năng suất nuôi cao hơn.
9. Giun đất cũng là loại thức ăn nhiều loài cá ưa thích. Chúng sống quanh năm, mùa đông khó kiếm hơn chút ít. Đây là loại nhuyễn thể màu đỏ, thân dài, sống mạnh mẽ trong bùn, đất ẩm, hoặc nửa nước nửa ẩm; hễ chạm tới là chúng chui trốn xuống đất sâu. Muốn bắt giun đất dễ dàng, ta dùng ván gỗ hay gạch viên úp lên vùng đất chúng sinh sống. Mỗi ngày lật lên hai ba lần mà bắt, mùa đông thì vài ngày bắt một lần. Mùa hè, giun đất sống thành ổ, khi bắt được chúng cần phải thay nước luôn, tốt nhất để nơi có nước chảy thì chúng mới sống được, có thể cho chúng ăn lá cây, ốc, hến, thức ăn thải (lòng gà vịt, thức ăn thừa, phân lợn, bò...).
Comments