BƯỚM VIỆT NAM


Nhóm Bướm - Côn trùng cảnh

Ảnh bướm1, 2, 3

Ảnh ngài

Tranh bướm

Nghệ thuật trang trí

Bướm nuôi 

Côn trùng cảnh

Cánh cứng (Coleoptera)

Chát trong Bướm Việt Nam

Diễn đàn Bướm Việt Nam
 Số người truy cập:

            Các kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học côn trùng Việt Nam còn rất hạn chế, trước Cách mạng tháng 8 thì phần lớn các cuộc thăm dò khám phá tài nguyên sinh vật nói chung và côn trùng nói riêng đều do các nhà khoa học ngoài nước nghiên cứu và công bố. Dữ liệu đầu tiên đươc nhà côn trùng học người Pháp Joannis (1900, 1912, 1928-1929) công bố với 527 loài thuộc các họ ngài ở phía Bắc Việt Nam. Sau đó còn có các nhà khoa học khác như Vitalis de Salvaza (1919), Prout (1921), Candeze (1927), Boursin (1928, 1940), Lamee và Tam (1950) cũng có những công bố về côn trùng Việt Nam.

            Sau Cách mạng tháng 8 thành công, những nghiên cứu về điều tra cơ bản và hệ thống học côn trùng đã được tiến hành bởi các nhà khoa học trong nước. Viện Bảo vệ thực vật đã tiến hành 3 cuộc điều tra côn trùng nông nghiệp: Năm 1967-1968 ở Phía Bắc với kết quả thu thập và giám định được 2.962 loài, năm 1976-1977 ở Phía Nam 1.096 loài và năm 1997-1998 trên cây ăn quả thu được 428 loài. Các kết quả nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các loài côn trùng gây hại trong nông nghiệp và các loài thiên địch của chúng nên số lượng loài còn hạn chế chưa nêu được bức tranh đa dạng thành phần loài côn trùng nói chung ở Việt Nam.

            Đất nước ta nằm trải dài gần 3.000 km, địa hình phong phú bao gồm địa hình đồi núi, cao nguyên, đồng bằng châu thổ của các hệ thống sông và các vùng duyên hải. Cùng với sự đa dạng về điều kiện thời tiết khí hậu của các tiểu vùng chính vì thế mà sự đa dạng côn trùng Việt Nam được sếp vào những khu vực có trữ lượng loài lớn nhất thế giới. Một khuynh hướng nghiên cứu khá phổ biến bắt đầu từ cách đây trên 10 năm là lĩnh vực đa dạng sinh học côn trùng. Những nghiên cứu này nói chung thường gắn với các vùng cụ thể như vườn Quốc Gia, khu bảo tồn thiên nhiên và các khu vực đang đề xuất thành khu bảo tồn. Các nhà khoa học trong nước phối hợp cùng các nhà khoa học ngoài nước tiến hành các nghiên cứu về lĩnh vực này bước đầu đã có những kết quả nghiên cứu được công bố như các tác giả Ronkay (1989), Speidel & Kononenko (1998), Hreblay & Ronkay (1997, 2000), Kononenko & Ronkay (2000, 2001), Phạm Văn Nhạ (2006) với kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học Tổng họ ngài sáng (Pyraloidea) bộ cánh vảy (Lepidotera) ở 3 rừng Quốc Gia: Cúc Phương, Tam Đảo và Ba Bể đã công bố 203 loài trong đó có 164 loài mới ở Việt Nam. Park Kyu Tek (2006), nghiên cứu về họ Lecithoceridae đã công bố 23 loài, đặc biệt đã xác định được 10 loài mới cho khoa học đó là: Torodora phamae Park, T. bachmaensis, T. nabiella, Antiochtha angustivalua, Thubana circularis, Torodora vietnamensis, T. babeana, Homaloxestis vinhphuensis, Synersaga kuni, S. nigriptera, Nosphistica sp. Nov.1 và Nosphistica sp. Nov.2. Những kết quả này được nhóm tác giả biên soạn trong cuốn “Moths of North Vietnam”. Từ năm 2008, Viện Bảo vệ thực vật phối hợp với Bảo tàng Chân khớp bang Florida – Hoa kỳ tiến hành nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng ở Việt Nam và đã công bố trên tạp chí Lepidoptera Novae 2 loài là Brihaspa atrostigmellaJoelminetia kostjuki.

            Với 57 vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên trải dài từ Bắc đến Nam, lĩnh vực nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng còn là một “Miền đất hứa” sẽ đem lại cho chúng ta – những người yêu thiên nhiên khám phá. Nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng cũng chính là một chỉ số sinh thái quan trọng nhất để đánh giá môi trường, mặt khác nó giúp ta xây dựng được dữ liệu thành phần loài phục vụ trong công tác kiểm dịch thực vật và bảo tồn thiên nhiên.

Thành viên:

Phạm Văn Nhạ: 0982248922

Nguyễn Tiến Quân: 0982 0982 04

Phạm Anh Tuấn: 0944132268

Liên hệ: buomvn@gmail.com

(Tiếp tục được xây dựng)