Tin nội bộ‎ > ‎

01. Kỷ yếu bộ môn


TÓM TẮT QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN BỘ MÔN CẦU VÀ CÔNG TRÌNH NGẦM

Tiền thân của Bộ môn Cầu - Hầm là tổ Cầu thuộc bộ môn Công trình, khoa Xây dựng trường Đại học Bách khoa Hà Nội, được thành lập năm 1958. Cán bộ đầu tiên của tổ Cầu là thầy giáo Lê Văn Thưởng. Tháng 10 năm 1959, do yêu cầu của sự nghiệp đào tạo và sự lớn mạnh của đội ngũ cán bộ, các tổ của bộ môn Công trình được tách ra thành bốn bộ môn độc lập: bộ môn Cầu – Hầm, bộ môn Đường, bộ môn Thép-Gỗ và bộ môn Bê tông cốt thép. Các cán bộ đầu tiên của bộ môn Cầu – Hầm là các thầy: Lê Văn Thưởng (tổ trưởng), Nguyễn Trâm và Nguyễn Tiến Oanh.

Năm 1966, sau 10 năm phấn đấu và trưởng thành, khoa Xây dựng (trong đó có bộ môn Cầu – Hầm) trường Đại học Bách khoa Hà Nội được tách khỏi trường Bách khoa thành lập trường Đại học Xây dựng. Từ đó cho đến nay bộ môn Cầu – Hầm thuộc khoa Cầu Đường trường Đại học Xây dựng.

Nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế, tháng 5 năm 2008 bộ môn Cầu - Hầm đổi tên thành bộ môn Cầu và Công trình ngầm.

Từ ngày thành lập cho đến nay, có 43 cán bộ đã và đang công tác tại bộ môn, trong đó có: 2 Tiến sỹ khoa học, 4 Giáo sư, 5 Phó Giáo sư, 14 tiến sỹ, 7 Thạc sỹ, 6 thầy giáo được tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, 15 cán bộ đã chuyển công tác đến đơn vị khác.

Ngay từ khi mới thành lập bộ môn đã xác định mục tiêu phát triển theo phương châm: Tổng quát hóa nội dung, hiện đại hóa kiến thức, công nghiệp hóa xây dựng, tự động hóa và tối ưu hóa thiết kế. Mỗi cán bộ của bộ môn đều tích cực học hỏi bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn theo sát yêu cầu và mục tiêu trên.

Cho đến nay bộ môn Cầu và Công trình ngầm đã đào tạo được nhiều kỹ sư, thạc sỹ, tiến sỹ… có chất lượng đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi của thực tế sản xuất. Các công trình Cầu, Hầm lớn của đất nước đều có sự tham gia của cán bộ bộ môn: Sông Gianh, Mỹ Thuận, Cần Thơ, Phù Đổng, Bãi Cháy, Bính, Thanh Trì, Nhật Tân, Hầm Hải Vân … cán bộ của bộ môn đã trực tiếp tham gia thiết kế, thi công nhiều công trình quan trọng như: Tổ hợp ngầm của Thủy điện Hòa Bình, cầu treo dây văng Đakrông, cầu quay Sông Hàn…

Phát huy truyền thống của bộ môn và cụ thể hóa mục tiêu phát triển, các cán bộ môn Cầu và Công trình ngầm đã bám sát thực tế sản xuất, tích cực nghiên cứu khoa học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ để hòa nhập với các nước tiên tiến trong khu vực và Thế giới.


GIAI ĐOẠN TỪ 1958 ĐẾN 1976

Xây dựng đội ngũ

Năm 1958 sau khi tốt nghiệp ngành Cầu Đường tại trường đại học Đường Sơn (Trung Quốc) trở về thầy giáo Lê Văn Thưởng công tác tại tổ Cầu thuộc bộ môn công trình Khoa Xây dựng trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

Tháng 10/1959 bộ môn Cầu Hầm được thành lập với 3 thầy giáo: Lê Văn Thưởng (tổ trưởng), Nguyễn Trâm và Nguyễn Tiến Oanh (là kỹ sư khóa 1 ĐHBK), giúp đỡ bộ môn trong những năm tháng đầu tiên là chuyên gia Liên Xô - giáo sư B.E. Ulisky.

Năm 1960 thầy Nguyễn Biên tốt nghiệp trường MIIT (đại học Đường Sắt Matxcova) về bộ môn. Bộ môn tổ chức lớp bổ túc kỹ sư đầu tiên cho toàn thể cán bộ của Bộ môn và nhiều cán bộ chủ chốt của Bộ Giao Thông, giảng viên là chuyên gia Liên xô PGS.PTS. B.Erin và thầy Nguyễn Biên là phiên dịch cho lớp học này. PGS.PTS. B.Erin đã giúp đỡ bộ môn đến năm 1962.

Năm 1961 Bộ môn cử 2 thầy Nguyễn Trâm và Nguyễn Tiến Oanh sang biệt phái tại Viện Thiết kế Giao thông Thuỷ Bộ, được giao thiết kế cầu Đoan vĩ (Hà Nam - Ninh Bình).

Năm 1962, các thầy Nguyễn Như Khải, Phan Duy Pháp, Hoàng Đình Chuân tốt nghiệp đại học ở Liên Xô về công tác ở bộ môn, cô Nguyễn Thị Mỹ Hảo tốt nghiệp Trung cấp giao thông về làm thư ký bộ môn. Tháng 8 năm 1962 thầy Vũ Văn Tuấn đang dạy về khoan thăm dò tại khoa Mỏ địa chất đã chuyển về công tác tại bộ môn; Cuối năm 1962 thầy Lê Đình Tâm (tốt nghiệp khóa 3) về bộ môn. Như vậy đến thời điểm này bộ môn có 10 cán bộ gồm 9 cán bộ giảng dạy: Lê Văn Thưởng, Nguyễn Trâm, Nguyễn Tiến Oanh, Nguyễn Biên, Phan Duy Pháp, Nguyễn Như Khải, Hoàng Đình Chuân, Lê Đình Tâm, Vũ Văn Tuấn và một thư ký bộ môn là cô: Nguyễn Thị Mỹ Hảo.

Năm 1963 thầy Nguyễn Tiến Oanh học Trung văn và đi Tiến tu sinh tại Đại học Đồng Tế, thành phố Thượng Hải. Bộ môn giảng dạy cho lớp tại chức đầu tiên ngành Cầu đường (thầy Nguyễn Biên và thầy Nguyễn Trâm phụ trách). Cuối năm 1963 thầy giáo Lê Văn Thưởng đi Liên Xô làm nghiên cứu sinh, thầy giáo Nguyễn Biên được cử làm trưởng bộ môn.

Năm 1964 thầy Vũ Văn Tuấn làm quyền Tổ trưởng bộ môn thay thầy Nguyễn Biên (vì lý do sức khỏe), thầy Nguyễn Trâm vẫn là Tổ phó bộ môn, kiêm Tổ phó tổ Công đoàn Cầu đường.

Cuối năm 1965 thầy Trần Bình bảo vệ xong luận án Phó tiến sỹ trở về công tác tại bộ môn, đã nghiên cứu xây dựng móng cọc phục vụ đảm bảo giao thông. Trong quá trình học tập ở Liên Xô thầy Lê Văn Thưởng và thầy Trần Bình đã sớm xác định hướng nghiên cứu mới là ứng dụng máy tính để tính toán thiết kế cầu, và thầy Trần Bình đã trực tiếp đi vào lĩnh vực mới này. Được sự tạo điều kiện của giáo sư B.E. Ulisky thầy Trần Bình đã làm chủ được phương pháp lập trình và sử dụng máy Minxcơ 22 để tính toán công trình. Trong những năm sau này thầy Trần Bình và một số thầy của bộ môn như: thầy Nguyễn Trường Luyện, Nguyễn Tiến Cường đã là những người đầu tiên trực tiếp đào tạo phổ biến cho các cán bộ trong và ngoài trường lập trình và sử dụng máy tính để tự động hóa tính toán các bài toán công trình phức tạp.

Khi tách ra từ trường Bách khoa Hà Nội, trường đại học Xây dựng sơ tán ở Hà Bắc. Năm 1966 bộ môn được tăng cường thêm 2 cán bộ là: Nguyễn Tiến Cường và Nguyễn Mạnh Thuần (tốt nghiệp khóa 6). Cuối năm 1966 sau khi bảo vệ xong luận án Phó tiến sỹ thầy giáo Lê Văn Thưởng trở về và tiếp tục đảm nhiệm chủ nhiệm bộ môn Cầu – Hầm và là Phó chủ nhiệm khoa Cầu Đường, thầy Nguyễn Biên được Nhà trường bố trí phụ trách khoa Kinh Tế, cũng trong năm 1966 thầy Nguyễn Trâm được cử đi nghiên cứu sinh tại Liên Xô, cô Nguyễn Thị Mỹ Hảo lên công tác tại phòng Hành chính nhà trường.

Tháng 2 năm 1967 bộ môn được tăng cường thêm thầy Nguyễn Thế Phùng (khóa 7 ngành Quy hoạch đô thị), thầy Nguyễn Hữu Bảng (khóa 7 ngành Cầu Hầm) và đồng chí Hà Văn Thuấn (Khóa 7 ngành Đô thị) được giữ lại làm công tác tuyên huấn khoa và bộ môn Cầu – Hầm, sau đó năm 1970 chuyển làm công việc khác ở Thái Nguyên. Cô Nguyễn Thị Kim Quỳ về làm thư ký bộ môn (đến năm 1970). Cũng trong năm 1967 bộ môn thành lập nhóm Hầm gồm các thầy giáo: Vũ Văn Tuấn, Nguyễn Tiến Cường, Nguyễn Thế Phùng và Nguyễn Hữu Bảng, các thầy giáo của nhóm Hầm đã tự nghiên cứu học hỏi, làm một đồ án tương đương đồ án tốt nghiệp chuyên ngành Hầm để sớm đảm đương việc giảng dạy môn Hầm giao thông với giáo trình khá đầy đủ cho các khóa 11,12 ngành Cầu Hầm, thầy Nguyễn Tiến Cường được cử đi thực tế xây dựng các Hầm trên tuyến đường sắt Thái Nguyên – Kép.

Đầu năm 1968 thầy Nguyễn Trường Luyện về bộ môn. Bộ môn lập nhóm chuyên môn về lập trình và sử dụng máy tính tiến tới tự động hóa thiết kế Cầu Đường gồm các thầy: Trần Bình (nhóm trưởng), Nguyễn Tiến Cường, Nguyễn Trường Luyện và Trần Sanh (bộ môn Đường). Năm 1968 thầy Lê Đình Tâm đi NCS ở trường Giao thông Đường sắt Lêningrad (LIIT) Liên xô (đến năm 1972). Từ năm 1968 đến năm 1970 toàn bộ môn tham gia "Xuống đường" bảo đảm giao thông giai đoạn I với phương châm là: Vừa học vừa làm ngay tại công trường đảm bảo giao thông (Long biên, Đuống, Ninh bình, Đò lèn, Lai vu, Phú lương...). Thầy Nguyễn Tiến Oanh là Đội trưởng Đội đảm bảo GT tuyến đường sắt Hà nội-Hải phòng cùng 60 sinh viên.

Năm 1969 thầy An Văn Nhân và Lương Quang Hải (tốt nghiệp khóa 9) về bộ môn.

Năm 1970 thầy Phan Duy Pháp đi làm nghiên cứu sinh tại Tiệp Khắc, thầy Hà Văn Thuấn chuyển công tác về Thái nguyên, thầy Nguyễn Trâm bảo vệ thành công luận án PTS về nước.

Năm 1971 thầy Nguyễn Trâm dịch một phần cuốn " Thiết kế và tính toán cầu BTCT và cầu thép" của GS TSKH N.I.Polivanov in rônéô, đến năm 1979 thầy Nguyễn Như Khải dịch tiếp phần cầu thép để NXB KHKT in typo cuốn sách trên; Bộ môn bắt đầu phụ trách một trong các Tiểu ban Bồi dưỡng và kiểm tra NCS đi học nước ngoài của Bộ Đại Học và Trung học Chuyên Nghiệp. Thầy Lê Văn Thưởng và thầy Nguyễn Trâm tham gia Tiểu ban Cầu hầm: giảng chuyên đề, tổ chức thi và chấm bài cho thí sinh toàn quốc.

Trong thời kỳ này bộ môn đã chuẩn bị cải cách chương trình đào tạo của ngành Cầu Đường theo hướng: tổng quát hóa nội dung, hiện đại hóa kiến thức, tự động hóa thiết kế và công nghiệp hóa xây dựng, đã xác định các nội dung cụ thể:

Nhóm Cầu: Tiếp tục công tác giảng dạy kết hợp vừa học vừa làm, tham gia đảm bảo giao thông phục vụ chiến đấu. Lực lượng đã được bố trí ở hầu hết các trọng điểm đánh phá của địch ở miền bắc. Bộ môn đã kết nghĩa với đoạn Hưng Hà để vừa tham gia đảm bảo giao thông vừa có công trường cho sinh viên thực tập và tham gia sản xuất.

Nhóm Hầm: Tích cực bồi dưỡng lực lượng để tham gia xây dựng công trình Ngầm phục vụ chiến đấu, tham gia xây dựng công trình thủy điện Sông Đà và chuẩn bị phát triển công trình Ngầm sau chiến tranh, đã đóng góp ý kiến cho việc xây dựng công trình A315 và các công trình phòng tránh máy bay phục vụ quốc phòng.

Nhóm máy tính: Chuẩn bị phổ cập kiến thức về máy tính và lập trình (mặc dù lúc đó chưa có máy tính). Thầy Trần Bình được bố trí giảng chuyên đề về máy tính trong và ngoài trường, nên đến khi ủy ban khoa học Nhà nước nhập máy Minxcơ 22 các thầy trong nhóm đã tiếp cận được ngay. Đến năm 1971 chương trình giảng dạy cho khóa 12 thật sự được thay đổi theo mục tiêu đã được bộ môn xác định.

Thời gian này việc thành lập hai nhóm công trình Ngầm và Máy tính không được sự ủng hộ của lãnh đạo nhà trường. Năm 1971 nhà trường quyết định các thầy An Văn Nhân và Lương Quang Hải nhập ngũ, thầy An Văn Nhân đã hy sinh tại chiến trường Quảng Trị (năm 1972). Năm 1972 nhà trường lại tiếp tục quyết định thầy Nguyễn Tiến Cường và thầy Nguyễn Trường Luyện nhập ngũ, cũng trong thời gian đó thầy Trần Bình được điều về khoa cơ bản là tổ trưởng bộ môn máy tính, thầy Nguyễn Hữu Bảng đã chuyển về trường Đại học Mỏ địa chất, nên nhóm Hầm cũng như máy tính không còn đủ lực lượng như trước.

Năm 1972 thầy Lê Đình Tâm hoàn thành luận án Phó tiến sỹ trở về, thầy Lê Văn Thưởng sang Pháp thực tập (1 tháng); Thầy Nguyễn Trâm viết một tập chuyên đề về kết cấu Bán lắp ghép, in trong số 5 Tạp chí của Viện Thông Tin KHKT của UBKHKTNN; Thầy Nguyễn Trâm tham gia nhóm NC cơ cấu tổ chức ngành XDCB (do Phó Thủ Tướng Đỗ Mười chỉ đạo), thầy Đỗ Quốc Sam, hiệu phó phụ trách. Thầy Lê Văn Thưởng và thầy Nguyễn Trâm tham gia nhóm xét duyệt nhiệm vụ thiết kế cầu Thăng long ở Uỷ ban Kế hoạch Nhà Nước. Trường thành lập nhóm Dịch thuật Quy trình Quy phạm LX (GOST) theo hợp đồng với UBKTCBNN, thầy Nguyễn Trâm tham gia dịch; Thầy Nguyễn Mạnh Thuần bị bệnh mất ở bệnh viện Phủ doãn vào cuối năm 1972 sau trận "Điện biên phủ trên không" ở Hà nội. Như vậy bộ môn chỉ có 8 người.

Năm 1974 thầy Phạm Văn Thái (tốt nghiệp khóa 14) được giữ lại bộ môn và tham gia thiết kế và chuẩn bị xây dựng cầu treo dây văng đầu tiên – cầu Đakrông cùng thầy Lê Đình Tâm. Bộ môn phụ trách lớp Bổ túc KS ngành Cầu đường khoá I (chính quy), thầy Lê Văn Thưởng và Nguyễn Trâm phụ trách theo dõi và lập thời khoá biểu, phân công giảng dạy cũng như chương trình học tập chuyên ngành (kể cả các khoá 2, 3, 4).

Năm 1975 thầy Nguyễn Minh Hùng (tốt nghiệp khóa 15) về bộ môn, cũng trong năm này một số cán bộ của bộ môn: Lê Văn Thưởng, Nguyễn Như Khải, Lê Đình Tâm, Phạm Văn Thái cùng các thầy Lều Thọ Trình, Lê Đức Thắng, Đào Văn Toại, Đỗ Tạo đã vào Trường Sơn nghiên cứu xử lý móng cầu Đakrông và tổ chức thi công cầu, đồng thời nghiên cứu phướng hướng xây dựng một số công trình trên đường Trường Sơn; Thầy Lê Văn Thưởng và thầy Nguyễn Trâm phụ trách giảng dạy phần cầu trong chuyên đề về xây dựng cho cán bộ đoàn 559 bộ đội Trường sơn.

Năm 1976 hoàn thành xây dựng cầu treo dây văng Đakrông, đồng thời bộ môn cũng đã hoàn thành một loạt các bản thiết kế xây dựng cầu trên Đường Trường Sơn bàn giao cho bộ tư lệnh binh đoàn 559 thực hiện; Thầy Nguyễn Thế Phùng đi làm NCS ở Liên xô (đến năm 1980); Thầy Lê Văn Thưởng và Vũ Văn Tuấn được cử làm phó hiệu trưởng; Thầy Phan Duy Pháp là chủ nhiệm và thầy Nguyễn Trâm làm phó chủ nhiệm khoa Cầu Đường; Thầy Nguyễn Trâm giảng về xây dựng công trình cầu cho lớp bồi dưỡng về kỹ thuật cầu đường giúp Tổng cục Xây dựng Kinh tế Bộ Quốc phòng tại Ba la Bông đỏ (Hà Đông).

Một số cán bộ của bộ môn đã được chuyển đến các đơn vị khác như PGS. TS. Trần Bình là trưởng bộ môn đầu tiên của bộ môn Tin học trường Đại học Xây dựng, sau về làm Giám đốc sở Khoa học công nghệ tỉnh Bình định và trở thành Đại biểu Quốc Hội. PGS. TS Nguyễn Tiến Cường trở thành Phó viện trưởng viện Khoa học Công nghệ xây dựng, Cục phó Cục Giám định chất lượng các công trình xây dựng Bộ Xây dựng

Công tác đào tạo

Ngay từ khi còn thuộc tổ công trình, các cán bộ chuyên ngành Cầu - Hầm với sự giúp đỡ của các GS. B.E.Ulisky, PGS. PTS. B.Erin (Liên xô cũ) đã tham gia giảng dạy cho các sinh viên từ khoá 1 ngành Xây dựng của trường Đại học Bách khoa. Trong giai đoạn này cùng với việc đào tạo sinh viên các thành viên đầu tiên của bộ môn đã tích cực xây dựng lực lượng cán bộ và nội dung chương trình giảng dạy. Cuối năm 1962 bộ môn Cầu - Hầm gồm 8 cán bộ giảng dạy, đã đảm bảo dạy toàn bộ giáo trình Cầu và Hầm cho tất cả các khoá. Nhiều sinh viên do bộ môn đào tạo đã tham gia vào các công trình xây dựng, xuống đường đảm bảo giao thông và chiến đấu trên mọi miền của đất nước, điển hình là gương chiến đấu và hy sinh anh dũng của sinh viên khoá 7 ngành Cầu Đường Bùi Ngọc Dương, anh đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.

Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, ngay trong thời kỳ đầu, các cán bộ chuyên ngành Cầu – Hầm đã viết nhiều giáo trình như: Kết cấu bê tông cốt thép - Lê Văn Thưởng – 1959; Cầu Bê tông cốt thép - Lê Văn Thưởng – 1964; Giáo trình cầu gỗ - Nguyễn Như Khải, Lê Đình Tâm; Giáo trình cầu thép - Nguyễn Biên, Nguyễn Như Khải; Những ví dụ tính toán cầu bê tông cốt thép và cầu thép - Nguyễn Trâm, Nguyễn Như Khải; Hướng dẫn thiết kế đồ án cầu thép - Nguyễn Như Khải…

Do có nhiều cải tiến trong nội dung và phương pháp đào tạo, do lòng yêu nghề và sự nhiệt tình hăng say của các thầy, chất lượng đào tạo ngành Cầu Hầm và Cầu Đường khá tốt được các cơ quan sản xuất đánh giá cao, điển hình là các sinh viên: Đỗ Hữu Trí, Đặng Hải, Trịnh Xuân Cường, Trịnh Quang Nguyên, Hoàng Hòa…

Công tác nghiên cứu khoa học lao động sản xuất

Ngoài công tác giảng dạy, bộ môn luôn coi trọng công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất và phục vụ chiến đấu của đất nước. Một số lớp chuyên đề và công tác thực tế đã được bộ môn triển khai từ ngay nhưng ngày đầu mới thành lập:

Năm 1958-1959 bộ môn đã tổ chức giảng dạy chuyên đề bê tông ứng suất trước ở Bộ Giao thông Vận tải.

Năm 1960 kết hợp với viện khoa học Giao thông Vận tải làm dầm thí nghiệm để chế tạo bê tông mác 400, sử dụng cáp ứng suất trước.

Năm 1961 thầy Nguyễn Trâm và thầy Nguyễn Tiến Oanh tham gia thiết kế và theo dõi thi công 2 cầu nhỏ trong khu mới của trường ĐHBK.

Năm 1962 thành lập nhóm NCKH về BTƯST gồm bộ môn Cầu ĐHBK, Viện Kỹ thuật Giao thông, Viện Thiết kế Giao thông và trường ĐHGT. Các thầy Lê Văn Thưởng, thầy Nguyễn Biên và thầy Nguyễn Trâm tham gia vào nhóm này; Tiến hành thiết kế và xây dựng cầu Phủ Lỗ với 3 nhịp 18m là cầu BTCTUST đầu tiên, thầy Nguyễn Trâm được phân công thiết kế dầm cầu theo TTGH và bồi dưỡng biện pháp thi công cho công nhân tại công trường cầu Phủ lỗ. Sau đó bộ môn đã thiết kế các cầu Đồi, cầu Đại Thuỷ.

Năm 1964 xây dựng cầu Cửa Tiền cho Đường sắt nhịp 29m; Nghiên cứu thiết kế gia cố mở rộng một số hang động ở Quảng Bình phục vụ Quốc phòng; Thị sát và góp ý các công trình cầu cống trên đoạn đường biên giới từ Sapa đến Phong thổ (huyện Bình lư, tỉnh Lai châu), thầy Nguyễn Trâm đi cùng với hai thầy bộ môn Đường (Nguyễn Khải và Nguyễn Xuân Đào, Khóa 4); Thiết kế cầu Bòn cho Nông trường Tam đảo, tham gia thiết kế gồm: thầy Nguyễn Như Khải và thầy Nguyễn Trâm.

Năm 1963-1966 Nghiên cứu cầu treo dây văng, xây dựng phương pháp tính toán ảnh hưởng từ biến trong kết cấu siêu tĩnh nhiều bậc.

1965 tham gia nhóm nghiên cứu cầu treo dã chiến cùng bộ Quốc phòng. Thầy Nguyễn Trâm tham gia nghiên cứu cầu 2 dây treo, trong nhóm nghiên cứu của ĐHBK, gồm các thầy Đỗ Quốc Sam, Nguyễn Văn Hường, Lều Thọ Trình...

Năm 1970 bộ môn thiết kế và chỉ đạo thi công cầu Quan (Vĩnh phú); Thầy Nguyễn Tiến Oanh cùng 2 sv khoá 12 thiết kế và chỉ đạo thi công cầu qua sông Cà Lồ giúp huyện Bình xuyên, Vĩnh Phú.

1971 các thầy Lê Văn Thưởng, Nguyễn Như Khải, Nguyễn Trâm, Nguyễn Thế Phùng, Nguyễn Trường Luyện, An Văn Nhân và thầy Lều Thọ Trình, Nguyễn Mạnh Yên (bộ môn CHKC) đã thiết kế 16 cầu cho Cục CT2 trên ATK (Bắc thái).

Năm 1972 tại HNKH lần 3 ĐHXD, thầy Nguyễn Trâm tham gia báo cáo về phương trình của độ dốc tức thời trong cầu phao; Thầy Nguyễn Tiến Oanh làm Đội trưởng đội đảm bảo giao thông ĐHXD gồm 17 thầy và 200 sinh viên năm thứ I đến năm thứ V đi cứu chữa cầu Thị cầu (Bắc ninh), đoàn được biên chế thuộc Tổng cục Đường sắt, đã thiết kế phương án cứu chữa và trực tiếp thi công cầu Thị cầu thành công đúng tiến độ. Cuối đợt được tặng thưởng HC Chiến công hạng III; Các thầy Lê Văn Thưởng, Nguyễn Trâm, Nguyễn Như Khải và 2 thầy Lều Thọ Trình và Nguyễn Mạnh Yên (bộ môn CHKC) đã nghiên cứu thiết kế cầu phao và phương tiện sơ tán cầu bằng thùng phuy phục vụ cho đường sắt và thiết kế khôi phục 3 cầu đường sắt: Phú Lương, Lai Vu, Tam Bạc; Bộ môn tham gia thiết kế các phương án sơ bộ cầu Chèm qua sông Hồng (cầu Thăng Long) cùng với các đơn vị khác như: Viện Thiết kế, ĐHGT, VKTGT...(Bộ môn thiết kế 2 phương án); Thầy Nguyễn Trâm tham gia nhóm nghiên cứu "Đất có cốt" đầu tiên ở Việt Nam cùng các thầy Bộ môn Đường (các thầy Đặng Hữu, Dương Học Hải) và Cơ đất (thầy Đinh Xuân Bảng), đã làm thí điểm một đoạn ở đê La thành, bờ dốc xuống ký túc xá của trường Trung cấp Giao thông sắt bộ.

Năm 1973 thầy Nguyễn Trâm áp dụng kết quả nghiên cứu của mình ở Liên Xô vào thực tế thiết kế và thi công cầu Tam Canh (Vĩnh phúc) là cầu bán lắp ghép không dầm ngang đầu tiên ở Việt Nam, thầy Nguyễn Tiến Oanh tham gia chỉ đạo thi công. Sau đó kết quả này đã được áp dụng nhiều cầu trong tỉnh Vĩnh Phú; Thầy Nguyễn Như Khải chủ trì thiết kế 4 cầu nhỏ trên đường từ Nhà máy BT đúc sẵn Đạo Tú đi Đại Lải; Thầy Lê Văn Thưởng chủ trì thiết kế Hầm Quảng ninh và thầy Nguyễn Thế Phùng biệt phái công tác tại Quảng ninh từ 4-12/73.

Năm 1974 ứng dụng cầu treo dây văng để xây dựng cầu Đakrông với nhịp 128m (tỉnh Quảng Trị) nằm trên đường Trường Sơn với mục đích phục vụ cho chiến dịch giải phóng miền Nam, bộ môn đã phối hợp với bộ môn Cơ học kết cấu, Cơ học đất Nền móng, phòng thí nghiệm Công trình nghiên cứu đưa ra kết cấu hợp lý và chỉ đạo thi công trong điều kiện chiến tranh, không có thiết bị, lực lượng thi công là các chiến sỹ của tiểu đoàn 99 đoàn 559 (Binh đoàn Trường Sơn), vật liệu chủ yếu là thu nhặt được trong vùng giải phóng ở Quảng trị. Sau khi xây dựng xong đã tiến hành thử tải, đo đạc các thông số kỹ thuật và kết luận cầu có thể sử dụng được cho tải trọng H13, xe có thể chạy được với vận tốc 60Km/h ; Thầy Lê Văn Thưởng, thầy Nguyễn Trâm đã tham gia và báo cáo tại HN Cơ Học VRBD Miền Bắc lần I ; Thầy Nguyễn Trâm cùng sinh viên K14 Cầu hầm Nguyễn Trung Thành thiết kế cầu Đăm (ngoại thành Hà nội); Tham gia nhóm dự thi phương án thiết kế mỹ thuật đầu cầu Thăng long Do KTS Nguyễn Đức Thiềm chủ trì, thầy Đỗ Bá Chương, thầy Nguyễn Trâm cùng tham gia với phòng Thiết kế (có làm cả mô hình bằng gỗ. Phương án dự thi đã được giải thưởng và đã áp dụng trong thực tế). Sau đó, thầy Nguyễn Trâm thiết kế kỹ thuật cầu dẫn cho đường xe thô sơ ở hai bên đầu cầu Thăng long.

GIAI ĐOẠN TỪ 1977 ĐẾN 1987

Sau khi đất nước thống nhất, các hoạt động của bộ môn cũng đã có sự thay đổi để phù hợp với thời kỳ mới là đào tạo trên đại học, tham gia xây dựng các công trình lớn.

Xây dựng đội ngũ

Năm 1977 bộ môn Cầu - Hầm là một trong các bộ môn đầu tiên của trường và của 6 trường đại học được nhà nước giao nhiệm vụ đào tạo NCS đầu tiên theo chế độ đặc cách; Thầy Nguyễn Tiến Oanh đi học một năm và làm luận văn Master tại Paduava (Italia) do UNESCO tài trợ.

Năm 1978 thầy Nguyễn Phi Lân (tốt nghiệp trường Xây dựng Matxcova), thầy Nguyễn Sơn Hiền và thầy Tống Văn Mạnh tốt nghiệp khóa 18 về bộ môn.

Năm 1979 thầy Nguyễn Văn Mợi (tốt nghiệp trường Đường sắt Matxcova) về bộ môn.

Năm 1980 thầy Nguyễn Trâm được phong học hàm PGS đợt đầu tiên cùng với 8 thầy ở các bộ môn khác của trường ĐHXD. Thầy Nguyễn Thế Phùng sau khi hoàn thành luận án PTS đã trở về bộ môn.

1981 thầy Nguyễn Trâm đi NCS cấp II, làm luận án TSKH tại trường Cầu Đường Matxcova, Liên xô.

Năm 1982 thầy Nguyễn Thế Phùng được biệt phái làm Phó giám đốc kỹ thuật công ty công trình ngầm trực tiếp tham gia xây dựng các công trình ngầm của nhà máy thủy điện Hòa Bình, sau khi hoàn thành nhiệm vụ đầu năm 1987 thầy trở lại bộ môn và năm 1993 về làm giám đốc Ban quản lý dự án, phó văn phòng trung tâm KHXH và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện KHXH Việt Nam).

Năm 1983 thầy Lê Văn Thưởng được bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp điều lên làm Vụ trưởng vụ Đại học, thầy Nguyễn Như Khải làm trưởng bộ môn.

Năm 1984 sau khi hoàn thành luận án tiến sỹ khoa học thầy Nguyễn Trâm trở về bộ môn, thầy Phạm Duy Hòa tốt nghiệp khóa 24 về bộ môn. Thầy Lê Văn Thưởng được phong học hàm Giáo sư, thầy Trần Bình và thầy Phan Duy Pháp được phong Phó Giáo Sư. Thầy Nguyễn Trâm làm trưởng bộ môn, thầy Nguyễn Tiến Oanh làm phó trưởng bộ môn.

Năm 1985 thầy Nguyễn Như Khải đi NCS cấp II, làm luận án TSKH tại Ukraina; thầy Lê Đình Tâm được Bộ ĐH&THCN cử đi chuyên gia giáo dục tại CHDCND Algéri (trường USTO, thành phố Oran) đến 1990. . . ;

1986 thầy Nguyễn Ngọc Tuấn tốt nghiệp trường Mỏ Matxcova về bộ môn, chuẩn bị giảng dạy CT Ngầm, 1987 đi thực tế Thuỷ điện Sông Đà.

Năm 1987 thầy Nguyễn Trâm được cử làm Chủ nhiệm khoa Sau Đại Học vẫn kiêm Chủ nhiệm bộ môn; Thầy Lê Văn Thưởng từ Vụ Đại học, Bộ ĐH&THCN đi chuyên gia giáo dục tại trường đại học Chlef nước CHDCND Algérie (đến 1991); Thầy Vũ Văn Tuấn đi quản lý chuyên gia (đến năm 1990), sau đó trở lại bộ môn và về hưu tháng 7 năm 1992; Thầy Nguyễn Tiến Oanh được cử đi Chuyên gia Giáo dục tại trường Đại Học Marien NguAbi (CH Công gô) (đến năm 1988). Thầy Lê Trọng Quang tốt nghiệp đại học ở Ba Lan về bộ môn (đến năm 2002).

Công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học lao động sản xuất

Năm 1978 Bộ môn chiêu sinh khoá NCS hệ chính quy. Đầu tiên là NCS Nguyễn Văn Lạp, sau đó là NCS Bùi Đức Tân (Danh sách thầy hướng dẫn là Lê Văn Thưởng và Nguyễn Trâm). Các khoá tiếp sau có NCS sau: Phạm Quang Nhật (1979-1987); Nguyễn Ngọc long (1984-1989)

Năm 1979 Hướng dẫn sinh viên khoá 19 làm đồ án tốt nghiệp tại Pleiku (2 đợt).Tổ chức lễ bảo vệ đồ án tốt nghiệp tại Binh đoàn 12 (Sân bay Cù hanh) mời cả Hiệu phó Nguyễn Xuân Trọng vào dự. Hội đồng gồm các thầy: Nguyễn Trâm, Nguyễn Tiến Oanh, Phạm Văn Thái, Nguyễn Phi Lân..., mời cả thầy Nguyễn Xuân Trọng và đại tá Tô Đa Mạn thủ trưởng đơn vị tham gia hội đồng. Chủ tịch Hội đồng Tốt nghiệp là thầy Nguyễn Trâm.

Sau khi đất nước ta hoàn toàn được độc lập, nhiệm vụ chính yếu của thời kỳ này là khôi phục lại các công trình bị tàn phá trong chiến tranh và xây mới các công trình phục vụ đất nước. Trước nhiệm vụ mới bộ môn Cầu – Hầm đã tiến hành nghiên cứu khảo sát thiết kế 40 cầu nhỏ trên tuyến đường Trường Sơn đoạn Tây Quảng Bình và đoạn Từ Xơi đi Khâm Đức (năm 1978). Thị sát và quy hoạch thiết kế các cầu từ Đakrông đến Công Tum (phục vụ Quân đội), đã đưa ra nhiều phương án cầu lớn như cầu Thạnh Mỹ, cầu Bùng, cầu Giàng… toàn bộ hồ sơ thiết kế đã chuyển cho đoàn 559. Khảo sát phòng tuyến N2 (biên giới phía Bắc) và phòng tuyến Cát Bà 1978-1979. Tham gia xây dựng dự án Cầu Thăng Long (Hà Nội).

Bộ môn cũng đã cử nhiều cán bộ, sinh viên tham gia xây dựng công trình Thuỷ điện Hoà Bình và nhiều công trình trọng điểm khác trên mọi miền đất nước

Năm 1977 các thầy: Nguyễn Trâm, Phan Duy Pháp, Nguyễn Minh Hùng, Nguyễn Quang Đạo (BM đường), Nguyễn Xuân Diến, Nguyễn Văn Hiến (BM địa chất công trình) đã khảo sát thiết kế 10 cầu Tây Quảng bình (từ U bò đến Gìn Gìn) : Khe đót, cầu Đạo-Hùng... ; Tại Hội nghị Cơ học toàn quốc lần 2, thầy Nguyễn Trâm tham gia 1 báo cáo “Một thuật toán tổng quát để giải những KC trên các gối tựa đàn hồi”. Trong tuyển tập các CTKH số 5 ĐHXD thầy Nguyễn Trâm tham gia 2 bài: “Hệ số Phân bố tải trọng theo mô hình dầm có liên kết đàn hồi tổng quát” và “Tự động và tối ưu hoá nội lực trong KCN cầu theo phương pháp "Gối đàn hồi”.

Năm 1978: Khảo sát thiết kế 33 cầu từ Khâm đức tới Tân cảnh (Ngã ba biên giới), đúng thời gian bọn phản động Funrô hoạt động mạnh ở khu vực đoàn khảo sát. Đoàn gồm thầy Nguyễn Trâm, Nguyễn Tiến Oanh, Nguyễn Phi Lân, Nguyễn Sơn Hiền và 3 thầy ở bộ môn khác: Nguyễn Văn Kỳ (BM Cơ đất), Thái Khắc Kính (B.M Trắc địa), Nguyễn Xuân Diến (B.M Địa chất). Do đó xuất hiện hàng loạt các tên cầu do thầy Nguyễn Trâm đặt tên để dễ phân biệt, như Cầu: ĐakLan, Đakl'ing, Đakriel, Đakky, ĐakTr'Oanh, Đak Paco, Đaktr'ưng...Trung tá Thường, Cục phó Cục Cầu đường được Bộ Tư lệnh Binh Đoàn Trường sơn cử đi bảo vệ.

1980 Bộ môn hợp tác nhiều mặt với Sở GTVT thành phố Hải phòng về cầu Niệm, cầu Thượng lý, cầu An dương, bến phà Bính... Nghiên cứu sửa chữa gia cố cầu Thượng lý nhịp 32m (Hải phòng), các thầy: Nguyễn Trâm, Nguyễn Văn Mợi, Nguyễn Minh Hùng, Nguyễn Phi Lân đến làm việc trực tiếp với Sở Giao thông và công ty Thiết kế Hải phòng.

1984 thầy Lê Văn Thưởng, thầy Nguyễn Trâm tham gia Hội đồng Nghiệm thu nhà nước cầu Thăng long. Tại HNKH lần 7 ĐHXD, thầy Nguyễn Trâm báo cáo: "Một kiến nghị về lý thuyết tính toán kết cấu công trình theo sơ đồ tổng quát"

1985 Hội thảo Cơ học ứng dụng trong sản xuất và quốc phòng HVKTQS. Thầy Nguyễn Trâm có 2 báo cáo: “Cầu phao và dầm liên kết trong công trình nổi”, “Phát triển phương pháp ma trận chuyển trong cơ học ứng dụng”; Tại Hội thảo KH "Công trình kỹ thuật biển" ĐHXD-Tổng cục Dầu khí thầy Nguyễn Trâm tham dự với báo cáo: “PP phân tích tổng hợp tính toán KC giàn khoan”.

1986 thầy Lê Văn Thưởng, thầy Nguyễn Trâm tham gia Hội đồng Nghiêm thu nhà nước cầu Chương dương (tiểu ban kỹ thuật) ; HNKCXD lần I (3/86) thầy Hà Huy Cương và thầy Nguyễn Trâm báo cáo chung ở Tiểu ban lý thuyết công trình: Xu hướng phát triển các phương pháp số trong Cơ học công trình. Bộ môn có 2 báo cáo về: “Nghiên cứu và áp dụng kết cấu mới trong công trình cầu vừa và nhỏ”, “Phân tích tổng quát kết cấu khung có trụ cọc theo sơ đồ cùng làm việc với đất nền”.

Bộ môn thiết kế 3 cầu đường sắt Pom hán-ga quặng số 1 (khu mỏ apatit, tỉnh Hoàng Liên Sơn), đó là các cầu: Ngòi đường, Làng dạ, Ngòi Trát...thầy Nguyễn Trâm chủ trì hợp đồng với tổng cục Hóa chất.

Thầy Lê Văn Thưởng và thầy Nguyễn Trâm trong tiểu ban Giám định sự cố Cầu Rào (Hải phòng), cầu BTƯLT lắp hẫng, xây dựng đầu tiên ở Việt nam, bị đứt cáp ứng lực trước, sau 7 năm thông xe. Thiết kế cầu Mai động cho Sở Giao thông Hà nội, thầy Nguyễn Trâm chủ trì hợp đồng các thầy Nguyễn Văn Mợi, Phạm Văn Thái, Nguyễn Minh Hùng, Phạm Duy Hoà tham gia.

1987 HNKH lần 7 ĐHXD. Toàn bộ môn liên danh đăng ký 4 báo cáo về: “Kết cấu liên hợp”, “Dao động của kết cấu dạng khung có trụ cọc làm việc đồng thời với đất nền”; “Ma trận đặc trưng của phần tử thanh dầm vỏ mỏng”; “Phần tử hữu hạn dạng cong trong không gian 3 chiều”.

GIAI ĐOẠN TỪ 1988 ĐẾN 2008

Xây dựng đội ngũ

Năm 1988 thầy Nguyễn Trâm là một trong hai cán bộ của trường được nhà nước công nhận danh hiệu "Nhà Giáo Ưu tú" đợt đầu tiên của Bộ Đại Học và Trung học chuyên nghiệp; Thầy Nguyễn Như Khải bảo vệ thành công luận án TSKH về bộ môn và làm trưởng bộ môn. Cô Đặng Thị Tuyết về làm thư ký bộ môn (đến năm 2003);

Thầy Nguyễn Bình Hà tốt nghiệp khoá 28 đạt giải A trong cuộc thi các Đồ án tốt nghiệp xuất sắc nhất của các trường ĐH có ngành XDCB toàn quốc (nay là Giải thưởng Loa Thành) và được đặc cách tuyển vào danh sách dự thi NCS đi học nước ngoài về làm chuyển tiếp nghiên cứu sinh và sau đó ở lại bộ môn.

Các thầy trẻ trong Bộ môn và thầy Nguyễn Bình Hà (đang là sinh viên khóa 28) đã tham gia lớp Cao học kỹ thuật đầu tiên của trường do khoa SĐH mở (ngành Công trình Thềm lục địa), thầy Nguyễn Trâm phụ trách giảng ba chuyên đề: Phương pháp số (PP.Phần tử hữu hạn, PP. ma trận chuyển), Lý thuyết Tối ưu, Lý thuyết phân bố tải trọng.

Tham gia soạn thảo "Bách khoa Toàn thư". Thầy Nguyễn Trâm trong nhóm Cơ học, thầy Nguyễn Như Khải trong nhóm Kết cấu..

1990 thầy Nguyễn Như Khải được công nhận là Nhà Giáo Ưu tú (lần thứ 2); Thầy Nguyễn Trâm được Bộ ĐH&THCN cử đi chuyên gia giáo dục tại CHDCND Algéri (nhận nhiệm vụ với chức danh Giáo sư bậc 7/10)

1992 thầy Lê Văn Thưởng được công nhận là Nhà Giáo Ưu tú (lần thứ 3)

1995 thầy Nguyễn Trâm được tặng Huy chương "Vì sự nghiệp Giáo dục".

1996 thầy Lê Đình Tâm và Nguyễn Tiến Oanh được công nhận là Nhà Giáo Ưu tú (lần thứ 5)

1997 thầy Nguyễn Tiến Oanh được tặng Huy chương "Vì sự nghiệp GTVT" và nghỉ hưu vào năm đó. Thầy Nguyễn Trâm được nhà trường cho nghỉ hưu và trường Đại học Kiến trúc Hànội tiếp nhận về làm chủ nhiệm bộ môn Kết cấu Thép-Gỗ, sau đó kiêm chức Giám đốc "Trung tâm Tư vấn và Chuyển giao công nghệ", thuộc Viện Kiến trúc Nhiệt đới, ĐHKTHN cho tới nay.

Tháng 12/1999 thầy Khúc Đăng Tùng (tốt nghiệp K39 Cầu Đường), cô Nguyễn Thị Như Mai (tốt nghiệp K39 tin học Cầu) về bộ môn. Từ Năm 8/ 2002 - 5/2004 cô nguyễn Như Mai và từ 1/2003 – 1/2005 thầy Khúc Đăng Tùng đi học cao học tại trường University of Florida – Hoa Kỳ.

Năm 2000 thầy Nguyễn Văn Mợi đi làm thực tập sinh và đã bảo vệ được luận án tiến sỹ vào năm 2002 tại trường đại học Giao thông Đường sắt Matxcova.

Tháng 1/2001 thầy Nguyễn Ngọc Tuyển (tốt nghiệp K40 Tin học Cầu) về bộ môn, từ 08/2003 - 07/2005 học cao học và từ 08/2005 - đến nay làm nghiên cứu sinh tại New Mexico State University.

2002 thầy Phan Duy Pháp được công nhận là Nhà Giáo Ưu tú (lần thứ 8), thầy Nguyễn Minh Hùng được phong học hàm PGS (QĐ 92. 17/4/02)

Năm 2002 thầy Phạm Anh Tú (tốt nghiệp K41 Cầu Đường) về bộ môn và đã tốt nghiệp thạc sỹ

2003 thầy Nguyễn Phi Lân được phong học hàm PGS (QĐ 223. 28/12/03)

Năm 2004 thầy Đoàn Tùng (tốt nghiệp K41 kiến trúc, K43 Cầu Đường) và thầy Nguyễn Tiến Thành (tốt nghiệp K43 Cầu Đường) về bộ môn. Thầy Thành về để tham gia nhóm giảng dạy về Hầm. Tháng 8/2006 thầy Đoàn Tùng đi học Thạc Sỹ và sau đó làm NCS tại trường University of Wisconsin – Madison, Hoa Kỳ. Tháng 8/2007 – 1/2009 thầy Nguyễn Tiến Thành đi học cao học tại Liên hiệp Anh University of Nortingham

Năm 2005 thầy Đầu Khắc Cường (tốt nghiệp K44 Cầu Đường) về bộ môn. Tháng 6/2008 thầy Đầu Khắc Cường thôi tham gia công tác giảng dạy để về làm tại công ty TNHH VN Tower

Năm 2006 thầy Phạm Tuấn Lê (tốt nghiệp K45 Cầu Đường) về bộ môn, hiện thầy Phạm Tuấn Lê đang học Cao học tại Hoa kỳ.

Năm 2007 Nguyễn Hướng Dương, Trần Việt Hùng (tốt nghiệp K46 Cầu Đường) và năm 2008 Trần Hanh (K47 kỹ sư chất lượng cao) và Nguyễn Nguyệt Hằng (K47 Cầu Đường) về bộ môn. Hiện thầy Trần Hanh đang học cao học tại Đại học Sư phạm Cachan Pháp (Ecole Normale Supérieure de Cachan)

Số cán bộ của bộ môn trong biên chế hiện nay (thời điểm 31/7/2008) là 18 người, độ tuổi bình quân là: 36,61 tuổi, trong đó có 3 người trên 54 tuổi (có 2 PGS), 11 người dưới 35 tuổi, Có 3 nữ cán bộ. Số lượng PGS: 3 người, số lượng tiến sỹ: 6 người, số lượng thạc sỹ: 6 người; Bộ môn có 4 người đang ở nước ngoài: 1 người đang làm NCS và 3 người đang học cao học. Năm 2007, 2008 mỗi năm đã nhận thêm 02 cán bộ. Bộ môn mời 01 giáo sư, 01 Phó giáo sư (đã nghỉ hưu) tiếp tục tham gia giảng dạy. Số lượng cán bộ tham gia trực tiếp giảng dạy là 14 (không tính 02 cán bộ đang thử việc).

Xây dựng phòng thí nghiệm công trình Cầu

Trước đòi hỏi của thực tế học phải gắn liền với thực tiễn, năm 2005 bộ môn Cầu – Hầm đã xây dựng được phòng thí nghiệm công trình Cầu.

Ngoài sự đầu tư của Nhà nước, một số thiết bị thí nghiệm được mua từ nguồn kinh phí do các cá nhân thầy cô trong bộ môn đóng góp. Máy đo dao động hiện số SDA-830C, Máy đo biến dạng tĩnh nhiều kênh hiện số có cài sẵn 30 kênh Model TDS-303, thiết bị đo biến dạng tĩnh cơ học: Deformeter - Extensometer EL35-2884, Tensomet, Indicator, thiết bị đo chiều rộng vết nứt EL35-2505, thiết bị chuẩn đoán cọc trong đất PIT, Model PIT-F, máy siêu âm bê tông TICO, máy định vị cốt thép SCANLOG, các đầu đo: mở rộng vết nứt KG-5A, chuyển vị CDP-50, gia tốc theo 3 phương ARF-20A-T, gia tốc theo 1 phương ARF-20A.... Các thiết bị này đã được sử dụng để thử tải cầu Bãi Cháy (Quảng Ninh), Thanh Trì (Hà Nội), cầu vượt đường sắt Lê Lợi (Thanh Hoá)…

Thông qua phòng thí nghiệm, bài giảng cho sinh viên, học viên cao học sẽ sinh động hơn, chất lượng của đồ án, luận văn tốt nghiệp cao học, tiến sỹ sẽ được nâng cao.

Thành công của việc xây dựng phòng thí nghiệm là bước đột phá là thành tích lớn của bộ môn Cầu – Hầm góp phần thay đổi về chất của việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học và ứng dụng vào thực tiễn.

Công tác đào tạo

Hiện nay bộ môn trực tiếp giảng dạy hệ chính quy cho các chuyên ngành Cầu Đường, Cầu - Hầm, Tin học Cầu, lớp kỹ sư chất lượng cao và lớp cử tuyển. Cho đến nay đã đào tạo được hàng nghìn kỹ sư Cầu – Hầm. Từ năm 2000 số lượng sinh viên do bộ môn hướng dẫn tốt nghiệp ngày càng tăng, hiện nay mỗi năm bộ môn hướng dẫn hơn 100 sinh viên.

Về đào tạo Sau Đại học: Đào tạo học vị tiến sỹ cho chuyên ngành cầu tuy nen và các công trình trên đường, đã hướng dẫn và bảo vệ thành công 7 luận án Tiến sỹ, đồng hướng dẫn và bảo vệ thành công 3 luận án Tiến sỹ khác. Phụ trách giảng dạy thạc sỹ chuyên ngành xây dựng Cầu, Hầm, số môn học do bộ môn giảng dạy hiện nay 16 môn. Hiện nay bộ môn đang hướng dẫn 2 Nghiên cứu sinh, dạy và hướng dẫn luận văn Thạc sỹ cho hơn 40 học viên. Bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ giảng dạy trẻ của trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng và trường dân lập Duy Tân (Đà Nẵng).

Nhiều cán bộ bộ môn đã, đang tham gia giảng dạy chuyên đề Tư Vấn giám sát trên khắp mọi miền của đất nước cho các kỹ sư hiện đang công tác trên các công trình xây dựng.

Để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ đào tạo với khối lượng ngày càng tăng và sản phẩm có chất lượng cao nhằm đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Trong những năm qua bộ môn đã tích cực viết nhiều giáo trình tài liệu, 14 sách chuyên ngành đã được xuất bản, các tài liệu này được sử dụng ở nhiều trường đại học trong cả nước. Nhiều tài liệu đã được soạn thảo nhằm cập nhật các kiến thức cho Sinh viên và các học viên Cao học.

Do sự hoà nhập vào nền kinh tế thế giới, nên từ năm 2001 Bộ Giao thông vận tải đã ban hành quy trình thiết kế cầu mới, tiêu chuẩn 22TCN 272 - 01 và nay là tiêu chuẩn 22TCN 272 – 05 dựa trên nền tiêu chuẩn thiết kế cầu AASHTO LRFD 98 của Hoa Kỳ. Ngay trong năm học 2001-2002 đã có những nhóm sinh viên và sau là đó đa số sinh viên ngành Cầu – Hầm làm đồ án tốt nghiệp theo quy trình AASHTO LRFD 1998. Bộ môn đã giảng dạy theo tiêu chuẩn mới từ năm học 2006-2007.

Để làm được việc này đòi hỏi sự sáng tạo, nỗ lực không ngừng và phải thường xuyên cập nhật kiến thức của các cán bộ trong bộ môn. Cán bộ giảng dạy sử dụng thành thạo máy vi tính, các phần mềm chuyên dụng và thường xuyên truy cập InterNet, bộ môn liên tục đều đặn duy trì các buổi sinh hoạt học thuật và đi thực tế các công trình Cầu, Hầm có nhiều ứng dụng công nghệ mới như: cầu Bãi cháy, cầu Kiền, Cầu Thanh Trì, cầu Cần Thơ, cầu Rạch Miễu, Hầm Hải Vân…

Cải tiến phương pháp giảng dạy lấy người học làm trung tâm, sử dụng các công cụ hỗ trợ như Projector, Overhead, thu thập nhiều tư liệu phim ảnh từ các công trình lớn hiện đang xây dựng ở nước ta và khai thác từ nước ngoài, tự đầu tư máy ảnh, máy quay kỹ thuật số, máy tính có khả năng chế bản phim nhằm giúp cho bài giảng sinh động và gắn liền với thực tiễn, tạo điều kiện cho sinh viên nhanh chóng tiếp cận với nhiều công nghệ mới.

Các thế hệ sinh viên do bộ môn đào tạo ngày càng được các cơ quan trong nước cũng như các công ty nước ngoài đánh giá cao. Nhiều sinh viên do bộ môn hướng dẫn tốt nghiệp đã đạt giải cao trong các kỳ thi đồ án tốt nghiệp xuất sắc toàn quốc ngành xây dựng cơ bản (nay là giải Loa Thành) như: Sinh viên Nguyễn Bình Hà (khóa 28 Cầu Đường) do thầy Nguyễn Trâm hướng dẫn đạt giải A; Hoàng Thanh Hải (khóa 35) do thầy Lê Văn Thưởng hướng dẫn và Nguyễn Như Hùng (khóa 35) do thầy Phan Duy Pháp hướng dẫn đạt giải nhất. Sinh viên Trần Đức Giang (khóa 40 Cầu Đường), Đoàn Tùng (khoá 43 Cầu Đường) do thầy Nguyễn Bình Hà hướng dẫn và Nguyễn Ngọc Tuyển (khoá 40 tin học Cầu) do thầy Nguyễn Phi Lân hướng dẫn đạt giải Nhì.

Một số sinh viên tốt nghiệp ngành Cầu Hầm như: Hoàng Phương Hoa (khóa 24), Nguyễn Xuân Toản (khóa 30) đã vào trường Bách Khoa Đà nẵng để cùng anh Lê Văn Lạc (sinh viên K18 Cầu Hầm) tham gia giảng dạy tại bộ môn Cầu Hầm thuộc khoa Cầu Đường trường Đại học Bách khoa Đà nẵng.

Công tác nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất

1989 Symposium "Dao động trong kỹ thuật" (2/89), thầy Nguyễn Trâm tham gia báo cáo đề tài: "Tính toán dao động công trình bằng phương pháp phân tích số". HNKH Nghiên cứu và ứng dụng CHVRBD (7/89 Tam đảo) các thầy Trâm, Thái, Hùng, Lân, Mợi, Hoà đã tham dự. 1990 thầy Nguyễn Trâm viết “Một phương pháp tính KC tròn xoay chịu lực đối xứng trục” trong Tuyển tập CTKH KTCT Biển Số 1 /1990 .

1992 thầy Nguyễn Trâm tham gia báo cáo trong Hội nghị Khoa học Quốc tế về "Khai thác, sửa chữa cầu" ở thành phố Tlèmcène (Algeria), viết một chuyên đề bằng tiếng Pháp cho ngành cầu đường (VOA) trường USTO (Oran). Trong 5 năm ở Oran thầy Nguyễn Trâm đã hướng dẫn thành công 4 Magisters (Thạc sỹ) và đang hướng dẫn 2 NCS.

1994 Thiết kế gia cố sửa chữa Hầm số 8 đèo Gia Phú tuyến đường sắt Thống nhất do thầy Lê Văn Thưởng chủ trì. Xây dựng chương trình tính toán kết cấu Hầm phục vụ đào tạo và thiết kế công trình.

1995 các thầy: Nguyễn Trâm, Nguyễn Phi Lân, Phạm Văn Thái, Lê Đình Tâm và Nguyễn Minh Hùng đã viết 7 bài nghiên cứu khoa học trong Tuyển tập CTKH chuyên ngành CĐ và Cơ địa, số 3-1995.

1997 Thiết kế gia cố khôi phục cầu đường sắt Nam Ô (thành phố Đà nẵng) Các thầy tham gia gồm thầy Lê Văn Thưởng, thầy Pháp, thầy Nguyễn Trâm. Thẩm định gian máy nhà máy thủy điện Yaly.

Năm 1999 thiết kế hầm đường bộ A Roàng, nhánh phía Tây đường Hồ Chí Minh, tỉnh Thừa thiên Huế.

Tại thời điểm năm 1995, các khe co dãn cao su sử dụng ở nước ta đều phải nhập ngoại với giá thành rất đắt, bộ môn Cầu – Hầm đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu sử dụng khe co giãn bằng cao su cho các cầu ô tô ở nước ta” (B96- 34-05-TĐ), từ 1/1996 đến 12/1996, chủ trì: GS.TSKH. Nguyễn Như Khải. Giá thành khe co dãn do bộ môn nghiên cứu và sản xuất thử chỉ bằng 1/3 giá thành nhập ngoại. Các cán bộ của bộ môn đã trực tiếp triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu của đề tài vào cầu Sài Gòn (TP Hồ Chí Minh), cầu Nha Bích (Sông Bé) thành công của việc triển khai ứng dụng vào thực tiễn đã được các cơ quan chuyên ngành đánh giá cao và cho đến nay dạng khe co dãn mà đề tài đề xuất là dạng được sử dụng nhiều nhất trên khắp mọi miền của nước ta.

Trước tình hình giao thông đô thị ngày càng căng thẳng, các giải pháp đã được đưa ra nhưng vẫn chưa thể giải quyết được triệt để. Bộ môn Cầu – Hầm đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Cầu cạn trong thành phố” (B98- 34-39), 1998-1999, chủ trì: TS. Nguyễn Phi Lân và “Nghiên cứu kết cấu cầu trong cấu trúc giao thông khác mức (lập thể) ở nước ta” (B2003-34-49), chủ trì: TS. Nguyễn Văn Mợi, từ 1/2003 đến 12/2004. Những kết luận của đề tài đã trợ giúp, định hướng cho việc thiết kế các nút giao thông khác mức ở nước ta và khẳng định rằng chúng ta có khả năng thiết kế những công trình giao thông đô thị phức tạp.

Trong hơn mười năm gần đây, trên thế giới đã có những phát triển vượt bậc về vật liệu, nhiều dạng kết cấu Cầu mới đang được nghiên cứu và ứng dụng, đề tài “Nghiên cứu khả năng áp dụng kết cấu liên hợp giữa thép chất lượng cao và bê tông chất lượng cao trong công trình cầu ở Việt Nam” mã số B2003-34-44 do GV. Nguyễn Bình Hà chủ trì (từ 1/2003 đến 12/2003) đã kiến nghị một số dạng kết cấu cầu sử dụng vật liệu chất lượng cao có thể được áp dụng ngay trong thời gian này sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho việc đầu tư.

Trước đòi hỏi cần phải xây dựng cầu lớn đề tài cấp nhà nước (KHCN KC10-06) “Cầu dây văng” do GS.TS Lê Đình Tâm chủ trì và đề tài cấp bộ “Công nghệ xây dựng cầu BTCT nhịp lớn” năm 1992-1993 do GS. TS Lê Văn Thưởng chủ trì đã thúc đẩy và từng bước làm chủ trong việc xây dựng nhiều cầu lớn ở Việt Nam như cầu Kiền, cầu Phù Đổng, cầu Bãi Cháy, cầu Rạch Miễu…

Cầu Rạch Miễu vượt sông Tiền, nối liền thành phố Mỹ Tho với tỉnh Bến Tre là cầu dây văng nhịp lớn đầu tiên do Việt Nam thiết kế và thi công, hai đề tài trọng điểm cấp Bộ có sự tham gia cùng với Tổng công ty xây dựng công trình Giao thông 1 (CIENCO 1) là “Nghiên cứu thiết kế và chế tạo thiết bị công nghệ thi công tháp cầu dây văng bê tông cốt thép” mã số B2005-34-79-TĐ do TS. Phạm Duy Hoà chủ trì (1/2005-12/2006) và “Nghiên cứu thiết kế và chế tạo thiết bị công nghệ thi công đúc hẫng dầm cầu dây văng bê tông cốt thép” mã số B2005-34-80-TĐ do PGS.TS Nguyễn Phi Lân chủ trì (1/2005-12/2006) đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện dự án cầu dây văng nhịp lớn đầu tiên do nước ta xây dựng. Chỉ riêng đề tài “Nghiên cứu thiết kế và chế tạo thiết bị công nghệ thi công tháp cầu dây văng bê tông cốt thép” đã tiết kiệm được khoảng 1 triệu đô la Mỹ so với việc phải sử dụng các thiết bị nhập ngoại.

Đề tài trọng điểm cấp Bộ “Nghiên cứu xác định các tiêu chuẩn và phương pháp đánh giá năng lực khai thác của công trình cầu đường bộ” mã số 2004-34-62-TĐ do PGS.TS. Nguyễn Minh Hùng chủ trì (1/2004-12/2005). Nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tế là hiện nước ta đã có rất nhiều cầu đã được xây dựng từ trước những năm 1975 ở cả hai miền, được thiết kế theo các tiêu chuẩn khác nhau, sau nhiều năm sử dụng ít nhiều đã bị xuống cấp do thời gian cũng như chiến tranh, do vậy cần phải đánh giá được cầu có thể cho phép tải trọng bao nhiêu tấn qua cầu, cần phải duy tu sửa chữa gì nhằm mục đích khai thác hết khả năng còn lại của công trình, tiết kiệm kinh phí đầu tư xây dựng mới.

Ngoài các đề tài tiêu biểu trên nhiều thành viên của bộ môn Cầu – Hầm cũng đã tham gia các đề tài cấp Nhà Nước và cấp Bộ của trường Đại học Giao thông Vận tải, Viện khoa học Giao thông Vận tải… đã tham gia nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, trung bình mỗi năm thực hiện 1 đến 2 đề tài.

Năm 2002, nhằm mở rộng sự hợp tác quốc tế, trao đổi những kinh nghiệm xây dựng Cầu, bộ môn Cầu – Hầm bằng nguồn kinh phí của mình đã tổ chức cho 10 cán bộ giảng viên của bộ môn đi Trung Quốc để thăm quan các công trình cầu, phòng thí nghiệm động học và làm việc với trường Đại học Đồng Tế (Thượng Hải).

Cùng với công tác giảng dạy, các thầy giáo vẫn luôn động viên và giúp đỡ sinh viên trong phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học, từ năm 2000 đến nay đã có hơn 50 đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên ngành Cầu Đường và Tin học cầu, nhiều đề tài đã đạt giải cao của trường và đặc biệt có 3 giải sinh viên nghiên cứu khoa học – VIFOTEC đó là: Giải Nhì của sinh viên khoá 44: Phạm Quốc Hùng, Nguyễn Hùng Sơn và Vũ Hoàng Long với đề tài “Nghiên cứu phân tích lập chương trình tính toán nội lực - Kiểm toán tiết diện - Hỗ trợ tự động bố trí cáp ứng suất trước của kết cấu nhịp liên tục thi công bằng công nghệ đúc hẫng cân bằng theo quy trình 79 và AASHTO LRFD 98”, giải Ba của sinh viên Lê Quốc Anh (khoá 42) với đề tài “Tự động hoá tính toán nội lực cầu Bê tông cốt thép ứng suất trước liên tục thi công bằng công nghệ đúc hẫng cân bằng có sử dụng SAP2000”, và giải khuyến khích của sinh viên Phạm Anh Tú (khoá 41) với đề tài “Lập chương trình tự động thiết kế trụ cầu” đều do thầy Nguyễn Bình Hà hướng dẫn .

Triển khai ứng dụng các nghiên cứu khoa học và tham gia vào các dự án xây dựng là công việc thường xuyên của bộ môn, năm 2004 bộ môn đã thành lập xưởng Tư vấn thiết kế công trình giao thông (xưởng 7) thuộc công ty Tư vấn Đại học Xây dựng để thực hiện các đề tài lao động sản xuất, trong những năm qua những công trình lớn của nước ta đã có sự tham gia của các cán bộ bộ môn Cầu – Hầm như:

Thẩm định: dự án Cầu Bãi Cháy (Quảng Ninh), cầu Cần Thơ, cầu Trà Nóc, cầu Bình Thuỷ (Cần Thơ), báo cáo NCKT dự án khôi phục các cầu trên quốc lộ 1- Giai đoạn III, đoạn Cần thơ - Năm căn; Thẩm định thiết kế kỹ thuật: cầu Tân Đệ (Thái Bình-Nam Định), cầu Mỹ Lợi, Quốc lộ 50 (TP Hồ Chí Minh); tuyến, nút giao thông và các cầu trên đường Quản lộ - Phụng hiệp (Hậu giang-Sóc trăng-Bạc liêu-Cà mau), gói thầu 11, 17, 18.

Thử tải, thiết lập trạng thái ban đầu các cầu: Phù Đồng (Hà Nội), Như Nguyệt (Bắc Ninh), Xương Giang (Bắc Giang), Chi Lăng, Đồng Đăng (Lạng Sơn), Quý Cao (Hải Dương), Câu Lâu (Quảng Nam), Trà Khúc (Quảng Ngãi)…đây là các công trình cầu lớn được xây dựng ở nước ta bằng nguồn vốn vay ODA. Chúng tôi cũng đã đến vùng biên giới xa xôi, đi lại khó khăn để thử tải cầu Na Mèo nằm trên đường biên giới Việt Lào thuộc tỉnh Thanh Hoá…

Thiết kế nhịp cầu quay Sông Hàn (Đà Nẵng), công trình này đã trở thành biểu tượng và niềm tự hào của nhân dân thành phố Đà Nẵng…Khảo sát thiết kế kỹ thuật thi công cầu Phú Tảo (Trên đ­ường phía Tây Nam - Thành Phố Hải Dư­ơng), cầu Khe Thơi, Khe Choang Quốc lộ 7.

Cho đến thời điểm này bộ môn cầu đã tiến hành thử tải, kiểm định hơn 200 cầu trên khắp ba miền từ Đồng Đăng đến Cà Mau…cán bộ bộ môn đã đi qua tất cả các Quốc lộ thuộc Nam bộ, đến vùng Núi phía Bắc, Tây Nguyên xa xôi hẻo lánh.

Vừa phải đảm bảo nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, các thành viên của bộ môn vẫn dành thời gian để đi đến mọi miền của đất nước từ vùng kinh tế đang phát triển đến vùng núi xa xôi hiểm trở để góp phần xây dựng những công trình phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế, an ninh, quốc phòng. Qua các chuyến đi thực tế chúng tôi đã áp dụng các tiến bộ khoa học mà mình nghiên cứu được đồng thời cũng từ đó nảy sinh ra các đề tài nghiên cứu và những kiến thức thực tiễn này giúp cho bài giảng của chúng tôi phong phú, thực tế hơn.

CÁC CÔNG TÁC KHÁC

Trưởng thành từ bộ môn, nhiều thành viên của bộ môn Cầu – Hầm đã được bổ nhiệm vào những vị trí quan trọng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của trường Đại học Xây dựng như:

- Vụ trưởng vụ Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo - GS.TS. Lê Văn Thưởng.

- Hiệu trưởng trưởng Đại học Xây dựng - GS.TSKH. Nguyễn Như Khải.

- Phó Hiệu trưởng trường Đại học Xây dựng - GS.TS. Lê Văn Thưởng, TS. Vũ Văn Tuấn, PGS.TS. Nguyễn Minh Hùng.

- Chủ tịch Công đoàn trường: TS. Vũ Văn Tuấn, TS. Nguyễn Bình Hà.

- Trưởng khoa Sau Đại học: GS. TSKH. Nguyễn Trâm.

- Trưởng, Phó khoa Cầu Đường: GS.TS. Lê Văn Thưởng, PGS. TS. Phan Duy Pháp, GS. TSKH. Nguyễn Trâm, GS.TSKH. Nguyễn Như Khải, GS. TS. Lê Đình Tâm, PGS.TS. Nguyễn Minh Hùng, TS. Phạm Duy Hoà.

- Trưởng phòng Đào tạo: TS. Nguyễn Văn Mợi.

- Phó phòng Khoa học Công nghệ: PGS.TS. Nguyễn Phi Lân.




CÁC THÀNH TÍCH ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC

Tổ Cầu Đường là một trong hai tổ đầu tiên trong ngành Giáo dục được công nhận là tổ lao động Xã hội chủ nghĩa, thầy giáo Lê Văn Thưởng được công nhận danh hiệu Chiến sỹ thi đua, phát huy những thành tích đã đạt được bộ môn và các thành viên đã đạt được những thành tích sau:

Bộ môn:

- Năm 1977: Huân chương lao động hạng Nhì;

- Năm 1977: Huân chương chiến công hạng Ba;

- Năm 1962: Huân chương lao động hạng Ba

- Liên tục đạt danh hiệu Tổ lao động XHCN và tập thể lao động xuất sắc.

- 2007: bằng khen của Bộ Giáo dục và đào tạo

- Năm 2008: được Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị tặng bằng khen của Thủ Tướng Chính phủ

Cá nhân:

- Huân chương lao động hạng III: 2 cán bộ

- Huân chương kháng chiến hạng II: 2 cán bộ

- Huân chương kháng chiến hạng III: 5 người

- Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ: 2

- Bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo: 5



CÁC SÁCH GIÁO KHOA, TÀI LIỆU THAM KHẢO, GIÁO TRÌNH



+ Giáo trình cầu (gỗ, đá, BTCT, thép), viết tay (Nga văn) - 1959 B.E. Ulitxky.

+ Kết cấu bê tông cốt thép - Lê Văn Thưởng – 1959 - ĐHBK

+ Cầu bê tông cốt thép viết, in rônéô - Lê văn Thưởng - 1960 .

+ Kết cấu thép viết tay - Nguyễn Biên – ĐHBK - 1961.

+ Xây dựng cầu viết tay - Lê văn Thưởng – ĐHBK - 1961.

+ Hướng dẫn thiết kế cầu BTƯST theo TTGH dịch, in rônéô - Nguyễn Trâm – ĐHBK - 1961 .

+ Tính toán mố cầu Dịch, in rônéô - Nguyễn Tiến Oanh – ĐHBK - 1961 .

+ Thiết kế phương án sơ bộ dịch, in rônéô - Nguyễn Biên – ĐHBK - 1962.

+ Đặc trưng Kinh tế Kỹ thuật cầu dịch, in rônéô - Nguyễn Biên – ĐHBK - 1962 .

+ Khái luận mở đầu CT cầu cống viết, in rônéô - Nguyễn Trâm – ĐHBK - 1963.

+ Hướng dẫn thiết kế cầu thép dịch, in rônéô - Nguyễn Như Khải – ĐHBK - 1963.

+ Giáo trình cầu gỗ - Nguyễn Như Khải, Lê Đình Tâm - ĐHBK

+ Cầu thép viết, in rônéô - Nguyễn Biên, Nguyễn Như Khải – ĐHBK - 1963.

+ Những ví dụ tính toán cầu BTCT và cầu thép - Nguyễn Trâm, Nguyễn Như Khải – ĐHBK

+ Hướng dẫn thiết kế đồ án cầu thép - Nguyễn Như Khải - ĐHBK

+ Khai thác, kiểm định, gia cố và thí nghiệm cầu cống viết, in rônéô - Nguyễn Trâm – ĐHBK – 1963.

+ Sổ tay thiết kế cầu viết tay - Nguyễn Trâm - 1964.

+ Cầu gỗviết tay - Hoàng Đình Chuân - 1965.

+ Cầu đáviết tay - Phan Duy Pháp - 1965

+ Khôi phục cầu cống viết tay - Nguyễn Trâm - 1965

+ Thi công cầu viết, in rônéô - Nguyễn Tiến Oanh - 1966

+ Thi công cầu - Lê Văn Thưởng, Nguyễn Tiến Oanh, Nguyễn Trâm, Phan Duy Pháp – 1968 – ĐHBK

+ Thiết kế cầu BTCT và cầu thép trên đường ô tô (dịch từ tiếng Nga) - Nguyễn Trâm, Nguyễn Như Khải – 1979 - NXB KHKT

+ Cơ sở thiết kế công trình ngầm - Lê văn Thưởng, Nguyễn Tiến Cường, Đinh Xuân Bản, Phí Văn Lịch – 1981 - NXB KHKT

+ Thiết kế sơ bộ cầu BTCT và cầu thép - Phạm Văn Thái – 1982 - ĐHXD

+ Cầu kim loại tập I, II - Nguyễn Như Khải, Lê Đình Tâm – 1985 - ĐH và THCN

+ Hướng dẫn đồ án môn học cầu thép, - Nguyễn Minh Hùng -1986 -ĐHXD

+ Nguyễn Trâm, Lê Đình Tâm Thi công cầu thép – 1986 - NXB GTVT

+ Giáo trình cầu - Nguyễn Như Khải – 1990 - ĐHXD

+ Cơ sở thiết kế và ví dụ tính toán kết cấu nhịp cầu BTCT và BTCT ƯST - Nguyễn Phi Lân, Nguyễn Văn Mợi, Nguyễn Như Khải – 1994 - ĐHXD

+ Thi công cầu BTCT - Nguyễn Tiến Oanh, Nguyễn Trâm, Lê Đình Tâm – 1995 - NXB BXD

+ Thi công cầu thép - Lê Đình Tâm, Nguyễn Tiến Oanh, Nguyễn Trâm – 1996 - NXB BXD

+ Thi công mố trụ cầu - Nguyễn Trâm, Nguyễn Tiến Oanh, Lê Đình Tâm, Phạm Duy Hoà - 1997 - NXB BXD

+ Khai thác sửa chữa và gia cố cầu - Nguyễn Như Khải, Nguyễn Văn Mợi, Nguyễn Ngọc Long – 1997 - NXB BXD

+ Thi công Hầm - Nguyễn Thế Phùng, Nguyễn Ngọc Tuấn – 1997 - NXB KHKT

+ Cơ sở thiết kế và ví dụ tính toán cầu dầm và cầu giàn thép - Nguyễn Bình Hà, Nguyễn Minh Hùng – 2004 - NXBXD

+ Cầu thép bê tông cốt thép liên hợp - Nguyễn Như Khải, Nguyễn Bình Hà, Phạm Duy Hoà -2005 - NXBXD

+ Cầu BTCT trên đường ô tô - Lê Đình Tâm – 2005 - NXBXD

+ Cầu Thép - Lê Đình Tâm – 2005 - NXBXD

+ Phương pháp số (Phần tử HH & Dải HH) – Nguyễn Trâm -1997 - SĐH ĐHXD

+ Phân tích KCN cầu và LT phân bố tải trọng - Nguyễn Trâm -1998 SĐH ĐHXD

+ Lignes d' influence - Nguyễn Trâm – 1999 - ĐH GTVT

+ Những vấn đề chung và mố trụ cầu - Nguyễn Như Khải, Nguyễn Trâm, Phạm Duy Hoà - 2000 - NXB BXD

+ Cầu dây văng - Lê Đình Tâm, Phạm Duy Hoà - 2000 - NXB KHKT

+ Pont en béton armé et béton précontraint - Nguyễn Trâm – 2001 - ĐH GTVT

+ Kết cấu thép nhà cao tầng - Nguyễn Trâm – 2002 - Viện ĐTBDC Bộ XD

+ Tkế và XD cầu hầm GT đô thị - 2003 - Nguyễn Trâm - Viện ĐTBDC Bộ XD

+ CT ngầm đô thị (Thi công lộ thiên và hạ chìm) Viết tay - Nguyễn Trâm- 2005 -ĐHKT

+ GT Kết cấu thép (Dịch theo hợp đồng Quỹ Ford) - Nguyễn Trâm 2009 - ĐHKTHN

=======================================================================================================

Ghi chú: "Kỷ yếu bộ môn" do PGS. TS. Nguyễn Bình Hà biên soạn 3/2009.

Visits



Comments