TƯ LIỆU‎ > ‎

Sinh quyển CM

 
Trang tư liệu giới thiệu Khu dự trữ Sinh quyển Mũi Cà Mau.

Logo, Bản đồ, hình ảnh Khu dự trữ Sinh quyển Mũi Cà Mau

đăng 05:58, 7 thg 4, 2010 bởi Phạm Văn Uýnh   [ cập nhật 21:09, 17 thg 4, 2010 bởi Banlienlac Ban ]

 
 

Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau

đăng 05:42, 7 thg 4, 2010 bởi Phạm Văn Uýnh   [ đã cập nhật 06:21, 7 thg 4, 2010 ]

 

 

KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN MŨI CÀ MAU

TỈNH CÀ MAU

 

 

 

PHẦN I: TÓM TẮT

 

1. TÊN KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN ĐƯỢC ĐỀ CỬ:

Nên sử dụng tên được địa phương thừa thuận, tên cần được mô tả và biểu tượng hoá có thể giúp mọi người có thể tự cảm nhận được (Vd Rio Platano Biosphere Reserve, Bookmark Biosphere Reserve). Ngoại trừ những chi tiết đặc biệt, khu dự trữ sinh quyển không nên đặt tên trùng với tên các vườn quốc gia đang tồn tại hoặc trùng với tên hành chính của khu vực.

 

Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau (Mui Ca Mau Biosphere Reserve)

 

2. QUỐC GIA:

 

Việt Nam

 

3. THỰC HIỆN 3 CHỨC NĂNG CỦA CÁC KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN

(Trong mục 3 của quy định đưa ra 3 chức năng mà một khu dự trữ sinh quyển phải đáp ứng là - bảo tồn, phát triển và các hoạt động hỗ trợ. Giải thích rõ những khái niệm để có thể đáp ứng được những nhiệm vụ này)

 

Cà Mau là tỉnh cực Nam của Việt Nam, có diện tích tự nhiên là 532.916,42 ha, gồm 9 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh, ngoài ra còn có các cụm đảo Hòn Khoai (5 đảo), Hòn Chuối (2 đảo), Hòn Đá Bạc (2 đảo) và đảo Hòn Bương. Tỉnh Cà Mau có hai mặt giáp Biển Đông và Vịnh Thái Lan. Phía bắc Cà Mau giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông giáp tỉnh Bạc Liêu. Nói đến Cà Mau là bất cứ người dân Việt Nam nào cũng nghĩ đến một vùng đất xa xôi‚ lắm tôm, nhiều cá, “rừng vàng, biển bạc”, là biểu tượng của đất nước Việt Nam vươn ra biển. Nơi đây đất và nước giao hòa làm nên vẻ đẹp chưa đâu có. Hình ảnh này đã đi vào thơ ca, ghi đậm dấu ấn trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam:

“Đất nước ta như một con tàu

Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau”.

Mũi Cà Mau nổi tiếng trong nước và quốc tế qua 4 điểm đặc trưng:

-      Các hệ thống diễn thế nguyên sinh trên đất mới bồi: “Mắm trước, Đước sau, Tràm theo sát; Sau hàng Dừa nước mái nhà ai”.

-      Các hệ thống chuyển tiếp hệ sinh thái đặc trưng (ecotones) từ rừng ngập mặn sang rừng tràm – ngập nước ngọt theo mùa.

-      Bãi sinh đẻ và nuôi dưỡng con non các loài thủy, hải sản cho cả một vùng rộng lớn - Vịnh Thái Lan.

-      Nơi còn dấu tích tụ cư dân đầu tiên của người dân các vùng khác di cư đến.

 

Vùng đất ngập nước Mũi Cà Mau đã được đưa vào danh mục đề của các khu bảo tồn biển quốc gia do Bộ Thủy Sản đề nghị vào năm 2005 và nằm trong danh mục đề xuất các khu bảo tồn chim di cư vùng ven biển (Ramsar) năm 2006. Ngày 31/05/2007 Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công ước Đa dạng sinh học”, trong đó Mũi Cà Mau là một trong những điểm nhấn về bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững đa dạng sinh học về các nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái phong phú của Việt Nam.

 

Việc bảo tồn nguồn lợi đa dạng sinh học nơi đây đang đóng góp thiết thực vào công tác bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học trong khu vực và toàn cầu, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về đa dạng sinh học và An toàn sinh học mà Việt Nam là thành viên. Việc xây dựng Khu DTSQ đề cử Mũi Cà Mau là thực hiện đường lối của Đảng và Chính phủ về phát triển bền vững của địa phương (Agenda 21) đồng thời góp phần gìn giữ di sản sinh quyển cho nhân loại.

 

Bảng  1: Phân vùng và dân số của khu DTSQ Mũi Cà Mau

Phân vùng

Hệ sinh thái

VQG Mũi Cà Mau

(Vùng lõi 1)

VQG U Minh Hạ

(Vùng lõi 2)

Rừng phòng hộ Biển Tây

(Vùng lõi 3)

Tổng số

Vùng lõi (ha)

 

Nội địa

12.203

2.570

0

14.773

Biển

0

0

2.556

2.556

Vùng đệm (ha)

 

Nội địa

3.059

5.716

0

8.775

Biển

26.600

0

7.934

34.534

Vùng chuyển tiếp (ha)

 

Nội địa

12.133

82.555

0

94.688

Biển

87.027

0

129.153

216.180

Tổng số (ha)

 

141.022

90.841

139.643

371.506

Dân số (Người)

 

10.331

159.990

0

170.321

 

Khu DTSQ Cà Mau thuộc tỉnh Cà Mau được đề cử với ba vùng lõi là các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (vùng lõi) của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, Vườn Quốc gia U Minh Hạ và dải rừng phòng hộ ven biển Tây Cà Mau. Nơi đây có những hệ sinh thái điển hình theo tiêu chí của UNESCO thế giới như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái đất ngập nước than bùn, hệ sinh thái biển… Mỗi hệ sinh thái đều lưu giữ nguồn tài nguyên sinh vật, tài nguyên địa chất phong phú, có giá trị bảo tồn cao, đã và đang được các tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế quan tâm bảo vệ.

 

Bên cạnh đó, khu DTSQ Cà Mau còn có nhiều di sản văn hoá, nhân văn đặc sắc, phản ánh lịch sử hình thành và phát triển, đời sống tâm linh của các dân tộc cư trú trong vùng. Khu DTSQ đề cử Mũi Cà Mau sẽ là mô hình phát triển bền vững của địa phương thực hiện chiến lược phát triển bền vững quốc gia do đó nó mang nhiều ý nghĩa quan trọng trong công tác bảo tồn, phát triển, nghiên cứu khoa học, tuyên truyền và giáo dục.

 

3.1. “Bảo tồn - làm sao để khu dữ trữ sinh quyển đóng góp bảo tồn cảnh quan, hệ sinh thái, các loài và các nguồn gen - di truyền” (Nhấn mạnh và làm rõ tầm quan trọng và vị trí  của bảo tồn tại khu vực hoặc đối với toàn cầu).

 

Để góp phần bảo tồn đa dạng sinh học bao gồm đa dạng cảnh quan, hệ sinh thái, các loài và các nguồn gen - di truyền, cả 3 vùng của khu DTSQ đều tham gia thực hiện. Đối với các vùng lõi, việc bảo tồn và bảo vệ các hệ sinh thái, cảnh quan, vốn gen (đa dạng sinh học) có tính chất lâu dài về tính toàn vẹn của các hệ sinh thái, các quá trình tự nhiên “các vùng hoang dã” với tác động mức độ tác động tối thiểu do con người gây ra. Với việc sử dụng dải rừng phòng hộ ven biển như một hành lang xanh sẽ nối kết hai hệ sinh thái đặc thù rừng ngập mặn và rừng Tràm (Melaleuca leucadendion) trên đất chua phèn ngập nước theo mùa. Cụ thể như sau:

 

Vùng lõi 1: 12.203 ha (Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau): Khu vườn Quốc gia này trực thuộc UBND tỉnh Cà Mau và được thành lập theo Quyết định số 142/2003/QĐ - TTg, ngày14/07/ 2003 của Thủ tướng Chính phủ thông qua việc sát nhập và nâng cấp Khu Bảo tồn Thiên nhiên Đất Mũi và rừng phòng hộ bãi bồi thuộc huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

-      Tổng diện tích của Vườn quốc gia là 41.862 ha (đất liền: 15.262 ha; biển: 26.600 ha) phần bảo tồn biển chiếm gần 70% diện tích của vườn, còn lại là phần đất liền bao gồm các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái và phân khu hành chính dịch vụ.

-      Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 12.203 ha (tiểu khu 2,3)

-      Phân khu phục hồi sinh thái: 2.859ha (Tiểu khu 4, 1)

-      Phân khu hành chính dịch vụ: 200 ha (rạch Tàu, kênh Hai Thiện, rạch Bàu Lớn và rạch Mũi).

 

Khu bảo tồn biển: 26.600 ha (Cửa Sào Lưới thuộc huyện Cái Nước đến đầu rạch Trương Phi thuộc huyện Ngọc Hiển).

Quá trình diễn thế tự nhiên của các loại rừng ngập mặn tại Mũi Cà Mau được thể hiện như sau: Mắm trắng (Avicennia alba) là loại rừng ngập mặn tiên phong cố định các bãi bồi mới hình thành, dạng bùn loãng. Sau rừng Mắm trắng là rừng Đước (Rhizophora apiculata); sau rừng Đước là rừng Vẹt (Bruguirea gymnorrhiz, B. Parviflora); sau rừng Vẹt là rừng Dà (Ceriops decandra C. Tagal); cuối cùng là rừng Cóc (Lumnitzra). Ở vùng nước lợ cửa sông có độ mặn của nước không cao, dưới 10‰ và mức độ biến thiên về độ mặn của nước trong năm lớn 3 ppt – 20 ppt có thể xuất hiện các loại cỏ và cây bụi rừng ngập nước theo mùa.

 

Trải qua một thời gian dài của lịch sử, rừng ngập mặn Mũi Cà Mau cũng có nhiều biến động. Một phần diện tích rừng ngập mặn đã bị bom đạn và chất độc hóa học hủy diệt trong thời kỳ chiến tranh, một phần khác bị khai phá do nhu cầu cuộc sống và mưu sinh của con người. Từ những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn vào những năm 40, đến nay, dù chính quyền địa phương và nhân dân quan tâm khôi phục, nhưng cũng chỉ duy trì ở mức 50.354 ha. Tuy vậy, rừng ngập mặn Mũi Cà Mau vẫn là một trong những hệ sinh thái điển hình của Việt Nam và khu vực.

 

Nói đến hệ sinh thái rừng ngập mặn là nói đến hệ sinh thái chuyển tiếp giữa hệ sinh thái biển và hệ sinh thái đất liền, nơi thường xuyên cung cấp nguồn giống động thực vật cho hệ sinh thái biển và hệ sinh thái đất liền; là bãi đẻ, nơi trú ngụ một số loài động vật hoang dã và các loài chim di cư. Rừng ngập mặn có tác dụng cải thiện nhân tố khí hậu trong khu vực: giảm biến động nhiệt độ, điều hòa mưa, giảm tốc độ tuần hoàn của nước… giảm ô nhiễm môi trường. Do vậy, bảo tồn và phát triển rừng ngập mặn Mũi Cà Mau đóng vai trò quan trọng không chỉ đối với Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến hệ sinh thái khu vực và thế giới. Cụ thể là:

 

Tổng số loài cây rừng ngập mặn hiện có tại Cà Mau là 66 loài. Trong đó chia ra :

+ Cây rừng ngập mặn chính thức 28/32 loài hiện có ở Việt Nam.

+ Cây tham gia rừng ngập mặn: 28 loài.

+ Các loài chuyển tiếp sinh thái (nhập cư) : 38 loài, trong đó có 10 loài chính yếu (được nêu trong danh lục đính kèm).

 

Đặc điểm nổi bật và riêng biệt của mũi Cà Mau là hầu hết các sông thông với biển cả phía biển Đông và vịnh Thái Lan qua cửa sông và hệ thống kênh rạch chằng chịt nối liền các sông với nhau nên độ mặn trong năm thay đổi không nhiều. Các sông này nhận được một phần lượng phù sa của hệ thống sông Cửu Long trong năm. Phần lớn phù sa được dòng hải lưu chuyển về phía Tây Nam tạo điều kiện cho rừng ngập mặn phát triển mạnh. Theo kết quả nghiên cứu vào các năm 1976 – 1980, P.N. Hồng (1991) đã phân loại các quần xã cây ngập mặn ở Mũi cà Mau như sau:

 

-      Quần xã Mắm biển (A. marina) thuần loại ven biển, sống trên nền đất cát bùn sét, ngập triều trung bình cao hoặc triều cao. Các quần xã này phần lớn là dạng rừng già có nhiều cây gỗ lớn (đường kính 25 – 40cm) cao 8 – 10m, thân rỗng ruột, phân cành nhiều và thấp, dáng cây không thẳng, có khi xen lẫn một ít Giá (E. agallocha), Mắm lưỡi đòng (A. officinalis). Giá trị kinh tế kém, chủ yếu là rừng phòng hộ ven biển, phân bố dọc sông Bồ Đề, xóm Khai Long (Đất Mũi), diện tích ngày càng thu hẹp do xói lở ở bờ biển phía Đông.

-        Quần thể Mắm lưỡi đòng (A. officinalis) thuần loại, có chỗ là loài ưu thế. Dưới tán của mắm là Dà vôi (Ceriops tagal), Dà quánh (C. decandra). Nền đất là bùn sét hơi chặt, ngập triều trung bình. Các quần xã Mắm lưỡi đòng (A. officinalis) thuần loại thường ở phía sau quần xã Mắm biển (A. marina) và là dạng rừng già gồm nhiều cây gỗ lớn, có đường kính 30 – 40cm, cao 12 – 15m, thân đặc, dáng cây thẳng. Giá trị kinh tế tương đối cao, cây lớn có thể xẻ ván.

-        Quần xã Mắm trắng (A. alba) trên đất mới bồi tập trung ở ven biển phía tây nam, cây chưa đến tuổi trưởng thành, nền đất là bùn mềm, ngập triều thấp.

-        Quần xã Đước đôi (R. apiculata) – Vẹt tách (B. parviflora) sống trên nền đất sét chặt hai bên kênh rạch, ngập triều trung bình. Rừng ở trạng thái trưởng thành, kích thước cây tương đối lớn, cao 25 – 30cm, đường kính 20 – 30cm. Đây là loại rừng có giá trị kinh tế cao.

-        Quần xã Mắm trắng (A. alba)Đước đôi (R. apiculata) sống trên nền đất bùn sét hơi nhão, ngập triều trung bình thấp hoặc trung bình, ở gần biển, cửa sông, bờ sông, kênh rạch. Cây cao 15 – 20m, đường kính 20 – 30cm.

-        Quần xã Cóc vàng (Lumnitzera racemosa)Dà vôi (C. tagal): Loại quần xã này thường sinh sống trên các vùng đất cao, thỉnh thoảng ngập triều, ở phía sau các quần xã Đước hoặc Đước – Vẹt khang, cây cao 6 – 8m, đường kính 15 – 25cm. Nền đất tương đối chặt.

-        Quần xã Đước đôi (R. apiculata)Đưng (R. mucronata) dọc sông Ông Định và lẻ tẻ một số nơi khác. Các loài khác cây cao 15 – 20m: Mắm trắng (A. alba), Vẹt tách (B. sexangula) phân bố ở đường biên, Sú (Aegiceras), Trang (Kandelia).

-        Quần xã Giá (E. agallocha) trên nền đất cao gần biển, gồm quần thể giá thuần loại, diện tích hẹp, mật độ cây thưa, cây thấp, tán rộng, cây cao 5 – 6m. Quần xã Chà là (Phoenix paludosa) sống trên nền đất sét hơi rắn, ít khi ngập triều. Đây là loại rừng thứ sinh sau khi rừng nguyên sinh bị chặt.

 

Với 28 loài cây rừng ngập mặn chính thức, Cà Mau là nơi có độ đa dạng sinh học khá cao so với cả nước, chưa kể một số loài đã từng tồn tại nhưng nay chưa phát hiện được như Cóc đỏ (Lumnitzera littorea), Côi (Scyphiphora hydrophyllacea), Mắm quăn (Avicenia lanata). Hệ động vật của vùng lõi Mũi Cà Mau được ghi nhận 2 loài thú có trong Sách đỏ của IUCN là Khỉ đuôi dài (Macaca fasciculalis), Cà khu (Trachypithecus cristatus), và 4 loài thú có trong Sách đỏ Việt Nam.

 

Trong 74 loài chim thuộc 23 họ, có 5 loài trong Sách đỏ IUCN: Cò Trung Quốc (Egretta eulophotes), Bồ Nông chân xám (Pelecanus philippinensis), Giang sen (Ibis leucocephalus), Rẽ mỏ cong hông nâu (Numenius madagascariensis), Quắm trắng (Threskiornis melanocephalus). Ngoài ra, nơi đây các nhà khoa học còn thấy sự có mặt của 28 loài chim di cư. Như vậy, Vùng Mũi Cà Mau là một vị trí quan trọng trong mắt xích các điểm kiếm ăn và sinh sống của các loài chim di cư trên thế giới. Ngoài ra, vùng này có 17 loài bò sát, trong đó, 2 loài có trong Sách đỏ IUCN, 6 loài có trong Sách đỏ Việt Nam.

 

Kết quả thực hiện ở phía Tây Ngọc Hiển bước đầu cho thấy có 11 bộ cá các loại với 14 họ và 27 loài cá (Sở KHCN & Môi trường Cà Mau). Giáp xác và nhuyễn thể trên nền rừng là một nhân tố quan trọng tham gia trong chuỗi thức ăn và chuyển hoá vật chất của rừng ngập mặn; đồng thời cũng là một nguồn lợi đáng kể đối với cư dân địa phương. Sau đây là kết quả khảo sát tại khu bảo tồn đa dạng sinh học, Lâm ngư trường 184 năm 1999.

Tổng số loài tìm được là                         :           26 l loài.

Trong đó:

-        Nhóm Gastropoda                             :           15 loài

-        Nhóm Pelecypoda                             :           4 loài

-        Nhóm Decapoda – Brachyura             :           7 loài.

 

Vùng lõi 2: 2.570 ha (Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn quốc gia U Minh Hạ):

 

VQG U Minh Hạ được thành lập theo Quyết định số 112/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 20/01/2006. Hiện nay UBND Tỉnh trực tiếp quản lý. Tổng diện tích 33.280 trong đó có 8.286 ha thuộc Vườn quốc gia và 25.000 ha vùng đệm. Các phân khu chính bao gồm:

-        Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 2.570 ha (bảo tồn hệ sinh thái rừng trên đất than bùn)

-        Phân khu phục hồi và sử dụng bền vững hệ sinh thái rừng ngập nước: 4.961 ha

-        Phân khu dịch vụ hành chính: 755 ha.

Vùng đệm: 25 000 ha (lâm ngư trường U Minh 1, 3, lâm ngư trường Trần Văn Thời, trại giam K1 Cái Tàu và trung tâm nghiên cứu ứng dụng rừng ngập Minh Hải).

 

U Minh Hạ là vùng rừng tràm trên đất than bùn rất nổi tiếng ở đồng bằng sông Cửu Long. Đây là dạng đất ngập nước độc đáo, là nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã, có giá trị bảo tồn cao, đã và đang được các tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc thế quan tâm bảo vệ. Than bùn là loại khoáng chất đã được hình thành qua hàng ngàn năm trong điều kiện ngập nước, yếm khí, không có tác động của con người, nếu tác động bị mất đi sẽ không thể tái tạo lại được hoặc phải trải qua một thời gian dài với những điều kiện tương tự.

 

Khi nói đến rừng tràm U Minh, người ta nghĩ ngay đến những hình ảnh rất đặc biệt của rừng tràm, thảm cây dương xỉ dầy đặc, bạt ngàn, đất than bùn, nước đỏ, với rất nhiều loài sản vật trù phú, các loài động vật hoang dã quý hiếm. Thảm thực vật ở U Minh Hạ thuộc kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, kiểu phụ thổ nhưỡng úng nước phèn. Quần thể thực vật rừng lá cứng hình thành và phát triển trong điều kiện ngập nước, đất chua, với các loài cây đặc hữu vùng Đông Nam Á là cây Tràm (Melaleuca cjuputii) thuộc họ Sim (Myrtaceae).

 

Rừng ngập nước theo mùa trên đất than bùn - rừng nguyên sinh Vồ Dơi hiện còn hơn 3.600 ha với khoảng 79 loài cây cỏ tự nhiên thuộc 65 chi, 36 họ thực vật khác nhau. Thành phần loài trong rừng tràm chủ yếu là: cây gỗ (Tràm, Bùi, Trâm khế, Móp, Trâm sẻ);  cây bụi (Mua lông, Mật cật gai, Bòng bong, Dầu dấu ba lá, Bí bái); thảm tươi (Sậy, Năng, Dây choại, Dớn, Mây móc).

 

Thảm thực vật ngập nước đã tạo nơi cư trú thuận lợi cho nhiều loài động vật hoang dã. Các kết quả nghiên cứu của Viện Sinh thái và tài nguyên Sinh vật về hệ động vật hoang dã ở rừng tràm trên đất than bùn U Minh từ năm 2000 đến 2002 đã thống kê (Bảng 1):

 

Bảng 2: Danh sách các loài ở VQG U Minh Hạ

Lớp

Bộ

Họ

Loài

Loài trong Sách đỏ

Thú

8

13

32

10

Chim

 

 

74

4

Bò sát

 

 

36

 

Lưỡng cư

 

 

11

 

 

Rừng tràm ở U Minh Hạ cũng in đậm khí phách hào hùng của những cuộc đấu tranh cách mạng chống áp bức, chống giặc ngoại xâm. Đó là lịch sử đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, chống Pháp, chống Mỹ đầy hy sinh, gian khổ, đau thương, bất khuất vầ rất hào hùng.

 

U Minh Hạ còn có nhiều di sản văn hoá nhân văn đặc sắc. Những hình thức sinh hoạt văn hoá phán ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc trong vùng, hướng tới các sự kiện lịch sử hoặc vui chơi giải trí của nhân dân là những di sản văn hoá phi vật thể đang được gìn giữ và tôn tạo. Những di sản văn hoá tâm linh đặc sắc của địa phương càng làm tăng thêm những giá trị sinh thái của U Minh Hạ.

 

Vùng lõi 3: 2.556 ha - Dải rừng phòng hộ ven biển Tây Cà Mau.

 

Được thành lập theo quyết định số 08/201/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 11/01/2001. Hiện nay UBND Tỉnh trực tiếp quản lý. Tổng diện tích là 1.870,86 ha, bao gồm vùng phòng hộ xung yếu (725,11 ha); vùng đệm (1145,75 ha).

 

Bảng 3: Diện tích trồng rừng phòng hộ năm 2000- 2006

Năm trồng

Tổng số (ha)

Vùng phòng hộ xung yếu

Vùng đệm

Tổng

Trồng mới

Trồng bổ sung

Tổng

Trồng mới

Trồng bổ sung

2000

280,69

189,01

160,3

28,71

91,68

52,78

38,90

2001

9,73

9,73

9,73

 

0

 

 

2002

75,43

75,43

69,58

5,85

0

 

 

2003

107,72

107,72

55,22

52,50

0

 

 

2004

84,95

84,95

84,95

 

0

 

 

2005

841,37

193,02

151,32

41,70

648,35

642,45

5,9

2006

470,86

65,25

65,25

 

405,61

405,61

 

Tổng

1.870,86

725,11

596,5

128,76

1.145,64

1.100,84

44,8

 

Đây là khu vực trầm tích hoạt động mạnh nhất của hệ thống sông Cửu long: bãi bồi thấp, rộng, giàu bùn sét và các chất dinh dưỡng. Độ mặn của nước rất thích hợp cho các cây ngập mặn phân bổ và sinh trưởng và độ mặn ít biến động trong năm. ? khu vực này có các quần xã quần thể cây ngập mặn chủ yếu sau đây:

-           Quần thể Mắm trắng (Avicennia alba) tiên phong cố định bãi bồi giàu bùn sét.

-           Quần xã Mắm trắng (A. alba), Đước (R. apiculata) phân bố trên b•i bồ ngập khi nước triều thấp.

-           Quần thể Đước (R. apiculata) phân bố trên các bãi ngập khi triều cao trung bình.

-           Quần xã  Đước (R. apiculata), Vẹt tách(B. parviflora) phân bố trên các b•i bồi ngập nước khi triều cao trung bình và cao.

-           Quần thể Vẹt tách (B. parviflora) phân bố trên các b•i bồi được ngập nước khi triều cao trung bình và cao.

-           Quần x•  Đước (R. apiculata) và Dù quánh (Cyperus decanda) tầng thấp, trên các b•i bồi tương đối thành thục,được ngập khi nước triêu cao.

-           Quần x•  Đước (R. apiculata), Đưng (Rhizophora mucronata) phân bố dọc các b•i bồi ven sông, ngập nước sâu, chiếm diện tích không lớn.

-           Quần x• Cóc vàng (Lumnitzane racemosa), Dà vôi (C. tagal) thường mọc trên b•i bồi cao, đất tương đối chặt, và ngập nước triều không thường xuyên.

-           Quần x• Giá (Excoecaria agollochov) xen lẫn ễ rô (Acanthus ilicifolus), trên đất cao, thành thục, ít được ngập nước triều.

-           Quần xã Mắm biển (A. marina) xen lẫn với Mắm đen (A. officinalis) và Giá (Excoecaria agollochov) phân bố trên các b•i bồi giàu cát lẫn bùn, được ngập khi nước triều cao trung bình và cao.

-           Quần x• Dừa nước (Nypa fruticans) xen lẫn ễ rô (Acanthus ilicifolus) ở tầng thấp, phân bố tự nhiên dọc các bãi ven sông, kênh, rạch, trong nội đồng.

 

Bên cạnh các quần xã và quần thể tự nhiên nêu trên, ở khu vực bán đảo Cà Mau và đồng bằng sông Cửu Long con người còn tạo nên các quần thể cây ngập mặn nhân tạo như quần thể Đước, quần thể Bần chua và các quần x• thứ sinh nhân tác (quần x• Chà là xen ễ rô sau khi rừng ngập mặn  bị khai thác).

Bng 4: Qu¸ tr×nh diÔn thÕ tù nhiªn cña c¸c lo¹i rõng ngËp mÆn  t¹i b¸n ®¶o Cµ Mau (§BSCL)

Lo¹i rõng ngËp mÆn

Ch­a xuÊt hiÖn rõng ngËp mÆn

Rõng M¾m tr¾ng (RNM tiªn phong cè ®Þnh b·i båi)

Rõng M¾m tr¾ng + §­íc

Rõng §­íc

Rõng VÑt

Rõng Dµ

Rõng Gi¸

Rõng Cãc

ChÕ ®é ngËp n­íc triÒu

NgËp khi n­íc triÒu rÊt thÊp

NgËp khi n­íc triÒu thÊp

NgËp khi n­íc triÒu cao trung b×nh 

NgËp khi n­íc triÒu cao

NgËp khi n­íc triÒu cao bÊt th­êng trong n¨m  

Lo¹i ®Êt

§Êt ngËp mÆn

§Êt ngËp mÆn phÌn tiÒm tµng

D¹ng ®Êt ®ai

Bïn rÊt lo·ng

Bïn lo·ng

Bïn

SÐt mÒm

SÐt

SÐt chÆt

SÐt r¾n ch¾c

§é thµnh thôc cña ®Êt (n)

 

³ 2,5

2,4 - 1,5

1,4 - 1,0

0,9 - 0,7

0, 6 - 0,4

 < 0,4

 

Vùng đệm: 43.309  ha

 

Diện tích vùng đệm khá rộng như một hành lang sinh thái bao bọc 3 vùng lõi của Khu DTSQ đề cử Mũi Cà Mau kể cả trên đất liền và biển. Điều này sẽ đảm bảo tính liên tục của các môi trường sống. Nhằm góp phần bảo tồn đa dạng sinh học của vùng lõi, trong các văn bản pháp lý của UBND Tỉnh đều nêu rõ hạn chế đến mức tối thiểu những hoạt động tiêu cực do con người gây ra, đảm bảo cho các hệ sinh thái bị đảo lộn ở mức tối thiểu trong vùng lõi. Các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học gắn liền với bảo tồn đa dạng văn hóa và các nguồn lợi tự nhiên thông qua những hoạt động tích cực của con người. Trong kế hoạch quản lý khu DTSQ đều nhấn mạnh bảo tồn các di sản văn hóa, bảo tồn các hệ sinh thái nhân văn trong cảnh quan hài hòa được thể hiện trong việc sử dụng đất truyền thống (đồng cỏ, bậc thang, ao hồ) sử dụng đất thích ứng để duy trì đa dạng sinh học cũng như bảo tồn đất màu mỡ lâu dài.

 

Trong các hoạt động bảo tồn ở vùng đệm, kế hoạch quản lý cũng nhấn mạnh việc cải thiện môi trường tự nhiên, vệ sinh đất, duy trì hàng cây chắn gió, cát, duy trì cảnh quan đẹp và sử dụng bền vững nguồn lợi tự nhiên. Đặc biệt là tập trung vào việc bảo tồn, khôi phục tính tự nhiên của hệ sinh thái đã bị xuống cấp hoặc bị phá hủy.

 

Vùng chuyển tiếp: 310.868 ha

 

Để góp phần thực hiện chức năng bảo tồn trong vùng chuyển tiếp, diện tích vùng chuyển tiếp khá lớn nhằm bảo vệ các dịch vụ hệ sinh thái trợ giúp cho việc khôi phục các hệ sinh thái tự nhiên đã bị xuống cấp hoặc phá hủy cũng như bảo vệ môi trường và sử dụng thông minh các nguồn lợi tự nhiên (đất, nước, chất lượng không khí và khí hậu). Các hoạt động trong vùng chuyển tiếp được đề cập đến trong kế hoạch quản lý khu DTSQ với phương châm tích hợp bảo tồn đa dạng sinh học vào trong các vùng nông nghiệp, rừng sản xuất, công trình xây dựng, các mô hình vườn rừng, đa dạng sinh học đô thị...

 

3.2. “Phát triển - làm sao để khu dữ trữ sinh quyển hỗ trợ, khuyến khích phát triển kinh tế, phát triển nguồn nhân lực và đó là ổn định văn hoá xã hội và ổn định phương diện sinh thái”. (Chỉ ra tiềm năng của khu dữ trữ sinh quyển được đề cử trong việc đáp ứng yêu cầu này)

 

Chức năng phát triển được thực hiện ở cả 3 vùng, nhằm hỗ trợ, khuyến khích phát triển kinh tế, phát triển nguồn nhân lực cũng như ổn định văn hoá xã hội và ổn định phương diện sinh thái.

 

Vùng lõi thực hiện chức năng phát triển, các vùng lõi sẽ thực hiện duy trì các dịch vụ hệ sinh thái cho cả hai hệ sinh thái điển hình là rừng Đước và rừng Tràm trong một phạm vi rộng lớn. Điều này duy trì dòng cácbon, hạn chế xói lở, lọc nước thải, giải trí, nâng cao sức khỏe và tinh thần cho nhân dân địa phương cũng như du khách đến tham quan và du lịch. Đồng thời, đây cũng là địa điểm triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và giám sát lợi ích kinh tế cũng như tạo nguồn thu từ du lịch sinh thái gắn với mục đích bảo tồn

 

Chức năng phát triển của Vùng đệm được thực hiện thông qua việc duy trì các dịch vụ hệ sinh thái (cho vùng lõi) cũng như cung cấp sinh kế và thu nhập cho người dân địa phương (phát triển văn hóa xã hội, kinh tế xã hội) song song với mục tiêu bảo tồn. Các hoạt động sẽ tập trung vào tạo nguồn thu nhập từ du lịch sinh thái nếu phù hợp với mục tiêu bảo tồn đồng thời nâng cao giá trị di sản văn hóa và kinh nghiệm sử dụng đất truyền thống.

 

Khu DTSQ đề cử Mũi Cà Mau là một trong những mục tiêu bảo tồn và phát triển mang tầm khu vực và thế giới. Chức năng phát triển khu DTSQ được thực hiện dựa trên quan điểm:

-        Phát triển đi đôi với bảo tồn sinh thái khu DTSQ và bảo vệ môi trường địa phương.

-        Phát triển kinh tế xã hội vùng đệm một cách toàn diện và phù hợp với điều kiện tự nhiên trên cơ sở thiết lập các mô hình sản xuất có tính bền vững về tự nhiên, kinh tế xã hội.

-        Phát triển trên cơ sở nâng cao thu nhập của người dân, từng bước giảm số người nghèo xuống mức thấp nhất; gắn liền phát triển kinh tế với bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống của người dân vùng căn cứ cách mạng.

-        Phát triển dựa trên hệ thống - thể chế pháp lý đảm bảo trật tự xã hội, an ninh chính trị quốc phòng.

 

Phát triển diện tích rừng là chỉ số hàng đầu thể hiện sự quan tâm của con người đối với hệ sinh thái tự nhiên này. Nhờ vào sự giúp đỡ của Chính phủ Việt Nam, các tổ chức trong nước và quốc tế khác, diện tích rừng ngập mặn Mũi Cà Mau không ngừng được gia tăng trong những năm gần đây.

 

Bên cạnh phát triển diện tích rừng, vùng đệm Khu DTSQ đề cử Mũi Cà Mau có thể phát triển thành vùng sản xuất hàng hoá dựa trên cơ sở phát triển các mô hình sản xuất lâm - nông - ngư kết hợp. Thực hiện kinh doanh RNM tạo hàng hoá từ gỗ Đước, nâng cao sản xuất và sản lượng nuôi trồng thuỷ sản (tôm, cua, sò huyết, ốc len, vọp…) tăng hiệu quả sử dụng đất.

 

Việc công nhận khu DTSQ Cà Mau còn là cơ hội để cải thiện đời sống của cộng đồng dân cư thông qua các chương trình phát triển nông thôn như:

-        Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường đã khoan được 105 giếng nước ngọt ở 2 xã, xây dựng trạm cung cấp nước sạch công cộng cho các hộ dân trong vùng.

-        Chương trình đường giao thông nông thôn.

-        Chương trình kéo lưới điện nông thôn đến những nơi được đánh giá là còn nhiều hộ diện nghèo đói.

-        Chương trình xây dựng trường học cấp I nhằm hỗ trợ sự nghiệp giáo dục tại địa phương góp phần nâng cao trình độ dân trí cho con em của nhân dân vùng sâu vùng xa.

-        Ngoài ra, Khu DTSQ đề cử Mũi Cà Mau còn có một tiềm năng phát triển kinh tế du lịch sinh thái, lợi dụng những giá trị về cảnh quan, tài nguyên thiên nhiên và những nét văn hoá đặc sắc của khu vực để phục vụ cho các hoạt động du lịch, nghỉ ngơi, giải trí của du khách. Thông qua đó, nâng cao ý thức của xã hội đối với các giá trị của hệ sinh thái đất ngập nước, gắn hiệu quả và lợi ích của phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên.

 

Về mặt xã hội, ổn định dân cư trong khu vực vùng đệm và vùng chuyển tiếp, cải thiện thu nhập, nâng cao đời sống và dân trí góp phần loại bỏ các nguy cơ làm tổn hại đến hệ sinh thái rừng ngập mặn, rừng tràm và vùng biển ven bờ. Công tác bảo tồn, phát triển các hệ sinh thái tiêu biểu trong khu DTSQ gắn với lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội của người dân, giúp người dân nhận thức được quyền lợi của bản thân gắn với sự tồn tại của các hệ sinh thái này, từ đó tự nguyện tham gia quản lý bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên.

 

Tạo điều kiện thuận lợi để phát huy tiềm năng, nguồn nội lực thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, từng bước đưa dân các xã nghèo trong Khu DTSQ đề cử Mũi Cà Mau tiến lên theo kịp sự phát triển chung của đất nước và hoà nhập với cộng đồng quốc tế.

 

3.3. Hỗ trợ - hỗ trợ các dự án thuyết minh, tập huấn và giáo dục môi trường, các nghiên cứu và giám sát liên quan đến các vấn đề toàn cầu, quốc gia, khu vực và địa phương về bảo tồn và phát triển bền vững.

 

Khu DTSQ đề cử Mũi Cà Mau có vai trò lớn trong việc chống xói lở ven bờ biển Đông. Vùng ven bờ biển Đông của Mũi Cà Mau đang bị xói lở nghiêm trọng, thảm thực vật và lớp đất mặt bị đào bới và tróc đi tạo thành vùng bãi biển cạn thường bị trơ ra khi thuỷ triều xuống thấp. Tuy nhiên, nhiều nơi được phủ một lớp cát mỏng do thuỷ triều đem tới, tình trạng này dễ bị lầm tưởng là quá trình bồi tụ, nhưng thực chất là lớp đất đang bị bóc dần do tác dụng của sóng thuỷ triều. Để giảm tình trạng xói lở này, cần tăng cường trồng rừng ngập mặn, bao chắn lại những chỗ bờ biển bị xói lở do sóng trực tiếp đập vào. Dự án Bảo vệ và Phát triển các vùng đất ngập nước ven biển của Hà Lan đang được xúc tiến để ngăn chặn tình trạng này.

Việc triển khai thực hiện các chương trình hỗ trợ trong vùng đệm và vùng chuyển tiếp của khu DTSQ sẽ củng cố và đảm bảo cho sự ổn định toàn vùng. Các chương trình phải gắn với kế hoạch thực hiện của các chương trình phát triển kinh tế xã hội tại địa phương.

-          Chương trình phát triển cơ sở hạ tầng vùng đệm

-          Chương trình phát triển văn hoá – giáo dục – y tế

-          Chương trình khuyến lâm – ngư và hỗ trợ kỹ thuật và công nghệ.

 

Vùng chuyển tiếp

           

Chức năng phát triển được thực hiện chủ yếu trong vùng chuyển tiếp rộng lớn. các hoạt động nhằm cung cấp sinh kế cho cộng đồng địa phương (phát triển kinh tế xã hội và kinh tế xã hội) như vùng sinh sống, làm việc và nghỉ ngơi và quản lý các hệ thống sử dụng bền vững đất, nước đa mục đích. Các hoạt động cũng tập trung duy trì phát triển kinh tế xã hội, văn hóa xã hội của khu DTSQ và các vùng rộng lớn hơn như một tổng thể; sử dụng bền vững nguồn lợi, kiểm soát các hoạt động nhân văn, cung cấp dòng sản phẩm và dịch vụ tự nhiên bền vững, không làm xuống cấp hệ sinh thái, ở mức mà có thể chấp nhận được về mặt văn hóa và xã hội. Các chương trình cụ thể bao gồm:

 

Chương trình phát triển cơ sở hạ tầng

Với đặc điểm vùng đệm nằm ở các xã vùng sâu, vùng xa, khó khăn kinh tế chậm phát triển nên cơ sở hạ tầng như giao thông, thuỷ lợi, giáo dục, y tế, điện, thông tin liên lạc chậm phát triển, thiếu và yếu, trình độ dân trí thấp kém, cần có một chương trình phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn. Đây là chương trình phải thực hiện trong thời gian dài do đặc điểm phức tạp của địa hình vùng đất ngập nước, mức đầu tư cho các công trình cao hơn rất nhiều so với nơi khác do đó đòi hỏi phải có quyết sách phù hợp và có sự đầu tư thoả đáng của trung ương và địa phương để đưa các xã vùng đệm cải thiện cuộc sống và sinh hoạt văn hoá.

 

Chương trình này nhằm vào các hạng mục: nâng cấp, mở thêm  đường giao thông; xây dựng cầu dân sinh trên các tuyến dân cư chính; góp phần mở rộng phạm vi sử dụng mạng lưới điện hiện có.

 

Chương trình phòng cháy chữa cháy

Diện tích rừng tràm trong khu DTSQ đề cử là 13.012 ha, đây là loại rừng rất dễ cháy trong mùa khô do nền đất than bùn tích tụ nhiều năm. Việc phòng cháy chữa cháy ở khu vực này là một nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng. Quản lý điều tiết nước một cách hợp lý để tạo điều kiện thích hợp cho các hệ sinh thái rừng tràm phát triển bình thường, góp phần hạn chế cháy rừng, có thể hỗ trợ nguồn nước tham gia vào chữa cháy.

 

Thiết lập hệ thống dự báo cháy thông qua xây dựng chỉ tiêu cấp báo cháy từ các nhân tố khí hậu thời tiết như: lượng mưa, độ ẩm không khí, lượng bốc hơi, tốc độ gió, nhiệt độ bình quân, số ngày nắng đã quan trắc trong 10 – 15 năm gần đây. Lập thang độ cấp dự báo cháy rừng theo 5 cấp. Thiết lập các chòi quan sát, bảng báo cấp độ cháy đặt ở các đầu kênh, các khu tập trung dân cư…

 

Đặt các điểm thông tin liên lạc từ các trạm quản lý bảo vệ rừng và các chòi canh lửa đến trung tâm chỉ huy tại văn phòng Ban quản lý và Ban chỉ đạo phòng cháy chữa cháy. Thiết lập các điểm theo dõi chế độ thuỷ văn và khí tượng phục vụ công tác dự báo cháy rừng. Sau khi thu được số liệu, cần lưu giữ một cách có hệ thống làm cơ sở cho việc nghiên cứu sau này.

 

Thiết lập hệ thống các đường ranh cản lửa dựa vào hệ thống kênh và đê hiện có. Trồng cây xanh trên các tuyến đê, tổ chức phát quang cỏ, lau Sậy vào đầu mùa khô đế hạn chế vật liệu cháy. Trữ nước trong các kênh để duy trì độ ẩm của lớp than bùn. Xây dựng quy chế sử dụng lửa và kiểm soát người ra vào rừng trong mùa khô.

 

Thực hiện tuần tra canh gác thường xuyên, tuyên truyền, giáo dục và các hoạt động liên quan đến phòng, chữa cháy cho toàn thể nhân dân địa phương sống trong vùng đệm và quanh hệ sinh thái rừng tràm. Mở các lớp tập huấn cho lực lượng bảo vệ rừng, lực lượng nòng cốt trên vùng đệm sử dụng các trang thiết bị chữa cháy.

 

Các hoạt động trên nhằm quản lý bền vững nguồn lợi trên cơ sở hợp tác các cộng đồng địa phương, các nhà khoa học, các tổ chức xã hội, các lợi ích kinh tế và các bên tham gia khác nhau đồng thời tập trung phát triển kinh tế chất lượng kể cả nâng cao giá trị văn hóa và thực tiễn truyền thống. Đặc biệt là duy trì sự cân bằng các mục tiêu xã hội khác nhau, các giải pháp giải quyết vấn đề văn hóa xã hội như xuất và nhập cư, tăng trưởng dân số, động thái dân số, biến đổi khí hậu, sa mạc hóa, ngành nghề truyền thống, đô thị hóa, xung đột lợi ích, tác động của toàn cầu hóa... đồng thời cải thiện sử dụng Năng lượng bền vững phát triển nguồn Năng lượng mới, phát triển cơ sở hạ tầng với dấu chân sinh thái cacbon thấp cũng như cải thiện dịch vụ hệ sinh thái trong các cảnh quan đã bị tác động bởi con người.

 

3.3. “Chức Năng hỗ trợ - chỉ ra những kế hoạch có thể đóng góp vào các dự án trong các lĩnh vực (demonstration), giáo dục môi trường, đào tạo, nghiên cứu và khảo sát các mối liên quan khác tới địa phương, khu vực, quốc gia và các văn kiện mang tính toàn cầu về bảo tồn và phát triển bền vững” (chỉ ra những đóng góp hiện tại và các kế hoạch hỗ trợ trong tương lai).

 

Chức Năng hỗ trợ cũng được thực hiện ở cả 3 vùng. Vùng lõi sẽ là nơi học tập, nâng cao kiến thức về các quá trình tự nhiên (nghiên cứu, giám sát, hiểu biết và giáo dục). Vùng đệm sẽ thực hiện có hiệu quả là nơi học tập, mô hình trình diễn cho sử dụng đất có định hướng bảo tồn. Trong khi đó, vùng chuyển tiếp sẽ là nơi học tập, mô hình trình diễn cho phát triển bền vững, cho sử dụng thông minh, cho bảo tồn và khôi phục, nơi triển khai các thí nghiệm, thực nhiệm khoa học và phát triển mạng lưới về tất cả các cấp (địa phương, quốc gia và quốc tế).

 

Khuyến lâm khuyến ngư là chương trình không thể thiếu trong quá trình xây dựng và phát triển khu DTSQ. Đồng thời với các hoạt động khôi phục và bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn và hệ sinh thái biển, người dân cần có hiểu biết nhất định và đời sống phải được đảm bảo ở mức cơ bản. Dự án sẽ chuyển giao khoa học - kỹ thuật – công nghệ tới người sản xuất.

 

Hàng năm, mở các lớp tập huấn cho các cán bộ kỹ thuật viên nhằm phát triển mạng lưới cán bộ kỹ thuật nòng cốt cho công tác truyền thông, phát hiện vấn đề, vận động người dân tham gia chương trình. Tập huấn cho nông dân theo yêu cầu cụ thể của từng khu vực, Người nông dân sẽ vận dụng trực tiếp vào hoạt động sản xuất. Phát triển hệ thống truyền thông nghe nhìn. Phối hợp với Ban quản lý các Vườn quốc gia, Đài phát thành truyền hình Cà Mau thực hiện phổ cập kiến thức phổ thổng về Pháp luật rừng và sử dụng đất đai, các chính sách của Đảng, Nhà nước liên quan đến công tác phát triển rừng.

 

Nâng cao hơn nữa trình độ dân trí của người dân trong vùng là một yêu cầu cấp thiết. Với trình độ văn hoá, dân trí như hiện tại thì công tác giáo dục về vấn đề bảo tồn tự nhiên, đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Nâng cao trình độ dân trí trong điều kiện địa hình sông nước phức tạp, cơ sở hạ tầng yếu kém, phương tiện giao thông kém phát triển thì giải pháp cụ thể mang lại hiệu quả nhanh chóng là thông qua các phương tiện truyền thông nghe, nhìn, và tài liệu sách báo.

 

Hỗ trợ việc thành lập các tủ sách tại các cụm dân cư trên cơ sở phối hợp với các Bưu điện văn hoá xã. Dự án hỗ trợ đầu tư trang thiết bị truyền thông, cung cấp tài liệu pháp luật phổ thông về rừng và sử dụng đất đai; tài liệu khoa học kỹ thuật về bảo tồn thiên nhiên, nuôi trồng thuỷ sản, kinh doanh rừng ngập mặn, sản xuất một số sản phẩm nông nghiệp; tài liệu về văn hoá giáo dục, phổ biến kiến thức phổ thông.

 

Bên cạnh đó, dự án phối hợp với chương trình khuyến lâm - ngư xây dựng phim video theo các chuyên đề tuyên truyền về bảo tồn thiên nhiên rừng ngập mặn, khoa học kỹ thuật, khuyến lâm – ngư, vệ sinh nông thôn và phát triên đài truyền hình tỉnh.Xây dựng các bảng tuyên truyền về Bảo tồn thiên nhiên tại những nơi nhiều người qua lại trong các tuyến dân cư vùng đệm và vùng chuyển tiếp.

 

Phối hợp với chương trình phát triển của ngành giáo dục đào tạo địa phương tham gia xây dựng các lớp học bậc tiểu học tại các cụm dân cư. Xây dựng nhà ở cho giáo viên từ nơi khác đến, nhằm đảm bảo đời sống tinh thần và vật chất cơ bản, giúp cho công tác giảng dạy được hiệu quả. Về y tế, mục tiêu chủ yếu là chăm lo sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, khắc phục suy dinh dưỡng của bà mẹ - trẻ em. Tuyên truyền tốt các biện pháp về kế hoạch hoá gia đình, giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đến năm 2010 còn khoảng 1,1 – 1,3%. Vận động toàn dân thực hiện vệ sinh môi trường ở nhà, trường học, nơi làm việc, nơi công cộng. Giữ gìn nguồn nước sạch chống ô nhiễm môi trường nước.

 

Phối hợp với các cơ quan thông tấn địa phương biên soạn in ấn và phát hành các tài liệu tập huấn kỹ thuật sản xuất lâm – ngư. Đăng các bài báo chuyên đề phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật lâm – ngư, các giá trị về rừng, tầm quan trọng của công tác bảo tồn thiên nhiên, các điển hình sản xuất lâm – ngư giỏi. Thông qua việc xây dựng các điểm trình diễn quy trình nhằm phổ biến kỹ thuật sản xuất lâm – ngư đồng thời đúc kết kinh nghiệm sản xuất, hoàn thiện công nghệ sản xuất trong vùng đệm. Các điểm trình diễn sẽ chuyển giao kỹ thuật mới cho nông dân trong vùng. Mô hình được chọn phù hợp với điều kiện sản xuất, thiết thực và được nhiều người quan tâm chú ý là mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến, nuôi tôm thâm canh, mô hình trồng rừng kết hợp với nuôi tôm.

 

4. TIÊU CHÍ ĐỂ ĐẠT DANH HIỆU MỘT KHU DỰ  TRỮ  SINH QUYỂN.

(Trong mục 4 của quy định đưa ra 7 tiêu chuẩn chung của một khu vực để có thể xác nhận làm khu dự trữ sinh quyển và sẽ được liệt kê theo thứ tự dưới đây.)

 

4.1. “Khu vực đó có đại diện đa dạng của các hệ sinh thái của những khu vực địa lý sinh vật chính bao gồm cả những giai đoạn phát triển có sự tác động của con người không”.

(Thuật ngữ “mosaic” đề cập tới môi trường tự nhiên đa dạng và loại hình đất đai bao bọc có từ việc sử dụng của con người như các cánh đồng, sử dụng rừng v.v. Thuật ngữ “major biogeographic region - khu vực địa lý sinh vật chính” không hoàn toàn được xác định rõ ràng và hữu ích khi đề cập tới bản đồ “Mạng lưới khu dự trữ sinh quyển của thế giới” điều này sẽ được đưa ra trong 12 loại hình hệ sinh thái chủ yếu toàn cầu.

 

Đa dạng hệ sinh thái khu vực mũi Cà Mau

Khu vực Mũi Cà Mau của khu DTSQ đề cử gồm nhiều khảm sinh thái thuộc 2 vùng là vùng biển và vùng đất liền.

 

Vùng sinh thái biển

Vùng sinh thái biển nằm trong vùng bảo tồn biển của VQG Mũi Cà Mau. Phạm vi của vùng bảo tồn biển được tính từ mép bờ biển khi mực thuỷ triều thấp nhất bình quân trong năm ra biển, tới độ sâu mực nước biển bình quân 6 m khi thuỷ triều thấp nhất bình quân trong năm, trong khoảng toạ độ sau:

-        Điểm 1 là Cửa Sào Lưới (Thuộc huyện Cái Nước) có toạ độ: 104o47’30’’ kinh độ Đông và 8o48’ vĩ độ Bắc.

-        Điểm 2 (ngoài biển) có toạ độ: 104o45’ kinh độ Đông và 8o48’ vĩ độ Bắc, cách bờ biển 4.700 m theo hướng 270o.

-        Điểm 3 (ngoài biển) có toạ độ: 104o42’ kinh độ Đông và 8o40’ vĩ độ Bắc.

-        Điểm 4 (ngoài biển) có toạ độ: 104o42’ kinh độ Đông và 8o35’ vĩ độ Bắc.

-        Điểm 5 (ngoài biển) có toạ độ: 104o48’ kinh độ Đông và 8o33’ vĩ độ Bắc.

-        Điểm 6 (đầu Rạch Trương Phi, huyện Ngọc Hiển) có toạ độ: 104o48’ kinh độ Đông và 8o34’30’’ vĩ độ Bắc.

 

Vùng sinh thái đất liền

Tổng diện tích vùng đất liền là 15.262 ha bao gồm các khảm sinh thái sau:

 

Bảng 5: Thống kê diện tích các loại đất đai vùng đất liền khu vực Mũi Cà Mau

Loại rừng

Diện tích (ha)

Rừng tự nhiên

3.492

Rừng Đước

222

Rừng mắm

1.648

Rừng hỗn giao ngập mặn

2.326

Rừng trồng ngoài vuông tôm

2.695

Rừng mắm hỗn giao

13

Rừng Đước trên 3 tuổi

2.547

Rừng Đước dưới 3 tuổi

135

Rừng trồng trong vuông tôm

1.622

Rừng Đước trên 3 tuổi

1.412

Rừng Đước dưới 3 tuổi

47

Loài khác

163

Đất không có rừng, cây rải rác

3

Kênh bờ

257

Đất thổ cư

215

Sông rạch tự nhiên

109

Đầm lầy

6.110

Tổng số (ha)

15.262

Nguồn: Dự án đầu tư bảo vệ và phát triển VQG Mũi Cà Mau, 2004 – 2010

 

Rừng mắm thuần loại:

Rừng mắm tự nhiên phân bố tập trung ven bờ Biển Tây, phía Tây Bán đảo Cà Mau (Cửa sông Bẩy Háp, Mũi Ông Trang). Rừng mắm non hình thành trên đất bãi bùn lỏng, đất chưa ổn định, mật độ cây tái sinh cao, cây sinh trưởng tốt. Loài cây ưu thế là mắm trắng (Avicennia alba). Bãi bồi bùn ven mép nước biển là rừng mắm non có đường kính nhỏ (D < 3 cm), mật độ cây rất cao. Dải rừng mắm non thường có chiều rộng từ 5 – 50m. Sau dải rừng mắm non là dải rừng mắm có đường kính lớn hơn.

 

Rừng mắm non hình thành trên đất than bùn chặt hoặc sét mềm khu Tây bán đảo Cà Mau phát triển khá tốt. Độ tàn che của rừng từ 0,6 - 0,8. Một số diện tích đã có cây Đước xâm nhập và đang dần hình thành trạng thái rừng hỗn giao mắm - Đước. Rừng mắm hình thành trên đất sét mềm, bùn chặt phía bờ biển Đông là loại rừng có đường kính lớn (D > 12 cm), rừng có hai tầng tán rõ rệt, chiều cao rừng từ 8 – 10 m.

 

Rừng Đước trồng: Rừng Đước trồng được chia ra làm 2 dạng phụ là rừng trồng từ 3 tuổi trở xuống và rừng trên 3 tuổi. Rừng Đước đã được trồng từ 1977 – 1986 với quy mô lớn trên các diện tích đất trống. Sau năm 1986, phong trào phá rừng làm đầm nuôi tôm đã làm suy giảm phần lớn diện tích rừng. Đến năm 1991, các chương trình trồng rừng 327, 556, 661 được triển khai trên địa bàn rừng phòng hộ, về cơ bản đã phục hồi được diện tích rừng bị mất và phủ xanh một phần đất trống còn lại.

 

Nhìn chung, ở những nơi đất bùn mềm hoặc bùn chặt, bị ngập khi thuỷ triều lên bình quân trong ngày thì cây sinh trưởng tốt. Rừng Đước trồng thường theo phương thức tập trung hay hỗn giao với rừng mắm tái sinh tự nhiên ven biển trên các bãi bồi, dạng lập địa bùn lỏng ngập triều thường nhật theo chế độ bán nhật triều biển Đông.

 

Đất trống kênh bờ: Đất trống kênh bờ có diện tích 441 ha, phân bố tập trung xã Đất Mũi và xã Viên An. Đây là loại đất được tạo ra do việc xây dựng các kênh đê trong vuông tôm, kênh được đào thủ công có chiều rộng 2,5 m, chiều sâu 1,5 m. Kênh đào bằng cơ giới có chiều rộng 5 – 10 m, chiều sâu 2 – 2,5 m. Tuỳ theo khả Năng đầu tư của các chủ vuông tôm mà mật độ kênh đê trong các vuông tôm khác nhau. Nhiều khu vực kênh đê được đào để nuôi tôm chiếm đến 80% diện tích tự nhiên tạo ra các vuông tôm trống hoàn toàn, hoặc có độ che phủ của rừng rất thấp.

 

Toàn bộ diện tích đất bờ kênh là loại đất thuộc nhóm đất mặn M (Solonchaks) bị đào đắp đưa tầng Pyrite từ dưới lên cao hơn mức nước thuỷ triều. Các bờ kênh đã bị phơi nhiều năm và hàng năm đều được bồi cao thêm một lớp đất khi con người cải tạo, nạo vét kênh. Đất thường bị nén chặt, các tàn tích xác thực vật chậm phân giải.

 

Phần lớn diện tích đê không có thực vật che phủ do đất cao và đã bị thoái hoá, việc trồng rừng trên đê rất khó khăn. Trên đất bờ thường thấy các loài cây bụi, cỏ, Dây leo sinh trưởng như Lức cây (Pluchea indica), Cóc kèn (Derris trifolia), Chùm gọng (Clerodendrum inerme), Mây nước (Flagellaria indica), Dây giác (Cayratia trifolia), Ô rô (Acanthus ilicifolius). Rất ít cây rừng ngập mặn tái sinh trên bờ kênh cao.

 

Một số đê trong khu vực đã giải toả (vuông tôm) được trồng lại rừng hoặc bỏ hoang. Các đê đào đắp thủ công có khả Năng trồng tạo rừng và phục hồi rừng bằng tái sinh tự nhiên lớn hơn các đê đào đắp bằng cơ giới.

 

Đất thổ cư, bờ ao, nông nghiệp: Thổ cư trong vùng gồm có hai kiểu đất ở ổn định tập trung và tạm thời (rải rác). Phần diện tích đất ở tập trung ven các kênh rạch lớn có các tuyến giao thông chính trong vùng đi qua không thể sử dụng để trồng rừng do dân cư đã ổn định. Diện tích đất ở rải rác trên các đê bao vuông tôm chỉ có thể tiến hành trồng rừng sau khi giải toả vuông tôm và thực hiện san lấp các kênh bờ.

 

Bãi bồi bùn: Các bãi bồi bùn xuất hiện ở các cửa sông với chế độ bán nhật triều biển Đông. Với biên độ triều lớn, tốc độ truyền triều nhanh, sóng và gió lớn nhất là và mùa gió chướng tháng 9 – 11. Bãi bùn lỏng phân bố ở các cửa sông lớn, tập trung nhiều nhất là cửa sông Bẩy Háp, Cửa Lớn (Mũi Ông Trang), phía bắc Mũi Cà Mau. Thành phần chủ yếu của đất là sét và xác bã động thực vật (gỗ, lá, vỏ ốc sò…). Đất chưa ổn định, lầy thụt, thường xuyên bị ngập nước thuỷ triều và lộ ra khi nước biển ròng (rút) sát trong ngày.

 

Diện tích bãi bùn thay đổi theo mức nước ròng của các ngày trong tháng, lớn nhất là vào các ngày nước cường (ngày 30, 1, 2, 14, 15, 16 âm lịch). Ở ven các bãi bùn ven bờ, tại các bãi sát với các khu rừng, nơi cường độ sóng thấp (khuất gió, có vật cản) loài Mắm lưỡi đòng tái sinh với mật độ cao. Tuy nhiên mật độ này giảm nhanh chóng khi đất bắt đầu ổn định (khi bùn chặt).

 

Vật liệu hình thành các bãi bồi này là những vật liệu sét mịn được hình thành chủ yếu do quá trình bồi tụ phù sa của các cửa sông. Những vật liệu này tạo nên nền tảng ban đầu cho quá trình diễn thế tự nhiên của các cây rừng ngập mặn. Tuy nhiên cây rừng chỉ đứng vững được trên nền đất đã ổn định. Mặt đất sẽ bị ngập khi mực thuỷ triều lên cao ở mức bình quân trong ngày và khi thuỷ triều hạ xuống tới mức thấp hơn mức nước bình quân trong ngày thì bãi bùn triều sẽ trơ ra. Ở những điều kiện như vậy, thời gian ngập nước triều cao nhất khoảng 5 – 6 giờ trong ngày.

 

Ở những bãi bùn triều xa cửa sông nên loài cây Mắm trắng sẽ chiếm vị trí tiên phong. Những loài cây tiên phong này thường có bộ rễ khá dài cắm sâu xuống nền đất. Ở giai đoạn non, phần rễ cây ở dưới mặt đất thường dài hơn so với phần thân cây trên mặt đất. Khi những loài cây này xuất hiện chúng sẽ làm giảm cường độ của sóng triều, đẩy nhanh quá trình lắng đọng phù sa, làm cho mặt đất cao lên các vật liệu rơi rụng hàng năm cũng góp phần làm cho nền đất cao lên nhanh chóng. Khi mặt đất ổn định thì nhiều loài cây khác sẽ tham gia vào quá trình diễn thế tự nhiên của rừng.

 

Việc trồng rừng ngập mặn ở vùng bãi bồi cần đặc biệt chú ý tới quá trình diễn thế tự nhiên của rừng ngập mặn. Không nên trồng ở những vùng đất bùn lỏng, thời gian ngập triều dài và sóng lớn. Trên những vùng bãi bồi là bùn lỏng thì nên xúc tiến quá trình tái sinh của rừng bằng cách tạo các đường đê không liên tục kết hợp với các vật liệu rào cản để cắt sóng, nhằm hạn chế cường độ sóng và đẩy nhanh quá trình lắng đọng, bồi tụ phù sa. Nếu trồng rừng ở các bãi bùn này thì phải trồng bằng cây con cao (đường kính, chiều cao), bầu lớn, có sọt bầu. Một số hàng ngoài phải cắm cọc che đỡ hoặc có một số cây tái sinh tự nhiên tạo điều kiện cho cây con mới trồng phát triển.

 

Bái đất lở: Các bãi biển lở có chiều rộng 150 – 900 m (bờ biển từ bãi Khai Long đến xóm Mũi), có nơi rộng đến hơn 1.000 m. Một số nơi sóng biển đưa lớp cát phủ lên bề mặt các bãi biển lở làm cho ta có cảm giác bờ biển đang bồi. Vùng bãi biển lở hoàn toàn không có khả năng tạo rừng nếu không có các công trình chống xói lở bằng các vật liệu vững chắc để chắn sóng như các mỏ hàn, và các rỏ đá để chắn sóng, cắt sóng.

 

Đa dạng hệ sinh thái khu vực U Minh hạ

Thảm thực vật rừng ở U Minh Hạ thuộc kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, kiểu phụ thổ nhưỡng úng nước phèn. Hình thành trong điều kiện ngập nước, đất chua. Đây là quần thể thực vật rừng lá cứng sau rừng ngập mặn, trong đó có loài Tràm (Melaleuca cajuputii) thuộc họ Sim (Myrtaceae) là cây bản địa của vùng Đông Nam Á.

Khu vực Vồ Dơi có khoảng 79 loài cây cỏ tự nhiên thuộc 65 chi, 36 họ thực vật khác nhau. Thành phần loài trong rừng tràm đơn giản, các loài cây gỗ tiêu biểu gồm: Tràm, Bùi, Trâm khế, Móp, Trâm sẻ; cây bụi gồm: Mua lông, Mật cật gai, Bòng bong, Dấu dầu ba lá, Bí bái; thảm tươi gồm: Sậy, Năng, Dây choại, Dớn, Mây móc.

 

Bảng 6: Thống kê diện tích các loại đất đai vùng đệm khu vực U Minh H

 

Loại hình sử dụng đất

Diện tích (ha)

1.        

Rừng tràm trồng cấp tuổi I, II

5.428

2.        

Rừng tràm trồng cấp tuổi III, V

7.614

3.        

Đất ngập nước

1.430

4.        

Đất kênh bờ, khuôn hộ

1.263

5.        

Đất sản xuất nông nghiệp

7.394

6.        

Đất thổ cư

202

7.        

Đất giao thông, sông rạch

1.507

8.        

Các loại đất khác

247

 

Tổng diện tích (ha)

25.085

Nguồn: Dự án đầu tư phát triển cùng đệm Vườn Quốc Gia U Minh Hạ, 2007-2011.

 

Vùng đệm của khu vực U Minh Hạ có tổng diện tích đất là 25.085 ha, cụ thể được phân bố như sau:

 

Quần hợp rừng tràm bán tự nhiên

 

Cấu trúc của rừng tràm bán tự nhiên chia làm hai tầng rõ rệt. Tầng cây gỗ là Tràm với mật động khoảng 1 - 2 cây/m2, cũng có một vài loài cây gỗ khác nhưng số lượng rất ít như Bùi (Ilex cimosa) và Móp (Alstonia spathulata). Các loài cây Dây leo ở đây đặc biệt phát triển với sự tham gia của Dây choại (Stenochlaena balustris), Mây nước (Flagellaria indica), Cương (Sumatra scleria) và đôi khi có Khoai rạng (Dioscorea glabra).

 

Hình thái cấu trúc của quần hợp tràm có tầng ưu thế sinh thái và tầng dưới tán. Chiều cao của tầng ưu thế trung bình từ 6 – 12 m trên các dạng đất sét, từ 8 – 15 m trên các dạng đất than bùn phèn. Rừng tràm tự nhiên là rừng thuần loại và diễn thế thứ sinh đến giai đoạn cuối xuất hiện một số loài cây gỗ nhỏ như Bùi (Ilex cimosa), Móp (Alstonia spathulata), Trâm bầu (Combretum quadrangulare), các loài khuyết thực vật (dạng suy thoái).

 

Rừng tràm trên các khu đất cao hơn trong vùng và đất than bùn phèn có thành phần thực vật gần với rừng tự nhiên, gồm các loài Móp, Bùi, Trâm sẻ, Côm, Bí bái, Mật cật, Gừa, Xương cá và các loài cây bụi như Bình bát, Mua, các loài cây Dây leo như Choại, Dây vác, Mây nước, Bòng bong. Rừng tràm trên đất sét hình thành khi rừng trên đất than bùn bị cháy, lớp than bùn đã bị cháy hết, thành phần thực vật tại đây nghèo nàn, ưu thế của cây tràm rất rõ ràng, tầng dưới tán chủ yếu là Sậy, Dớn. Trên các bờ bao dọc theo bìa rừng Dây choại cương Sumatra tạo thành những bụi dày đặc với sự tham gia của Dây giác (Cayratia trifolia), Cứt heo (Ageratum conyzoides), Vi kim (Thespis divaricata), Hạt nổ (Hygrophila salicilolia).

 

Trảng Sậy trên đất sét

Quần hợp Sậy là kiểu thảm thực vật hình thành sau khi rừng tràm trên đất than bùn bị cháy đến tầng đất sét hoặc rừng tràm bị khai thác quá mức, nhiều lần trong thời gian ngắn. Loài Sậy phát triển mạnh, độ che phủ có thể lên đến hơn 90%. Cây gỗ tái sinh có mật độ thấp, khả Năng phục hồi rừng tràm rất kém. Thực vật trong đồng Sậy thường gặp là Dây vác, Bòng bong, Mây nước, Năng, Đế. Vào mùa mưa các loài thực vật thuỷ sinh ưa nước ngọt phát triển mạnh mẽ như Rau muống, Rau nghể, Bèo cám, Bông súng.

 

Sậy là loài cỏ đa niên, có thể cao 3 – 4 m, sinh khối tươi đạt đến 18 tấn/ha, Sậy có rễ ăn sâu 10 – 20 cm. Đối với công tác trồng rừng, diện tích dất có thảm cây Sậy sẽ gây khó khăn, làm tăng chi phí trồng rừng và phòng chống cháy rừng.

 

Trảng Năng kim, Năng ngọt trên đất ngập nước theo mùa

Quần hợp Năng là kiểu thảm thực vật hình thành sau khi rừng tràm bị khai thác trắng trên đất trũng úng nước phèn, trong mùa khô đất bị phơi khô, mùa mưa ngập nước 20 – 50 cm, đất có lượng độc chất cao, phèn nặng. Cỏ Năng ngọt và Năng kim phát triển mạnh, độ che phủ có thể lên trên 90%. Cây gỗ tái sinh có mật độ không đáng kể trên trảng Năng ngọt và hầu như không có cây tái sinh trên trảng Năng kim. Quần hợp Năng đặc trưng cho diễn thế rừng tràm thoái hoá trên đất sét ở địa hình trũng thường xuyên ngập úng nước phèn.

 

Ven các kênh bờ trong vùng rừng tràm cũng có thành phần thực vật rất đa dạng với các loài thuỷ sinh nổi và thuỷ sinh chìm như Lục bình (Eichhornia crassipes), Bèo cái (Pictia stratiotes), Bèo tai chuột (Salvinia cucullata), Rau muống (Ipomoea aquatia), Rau dừa nước (Luduwidgia adscendens), cỏ Sước nước (Centrostachys aquatica), Bèo dâu (Azolla pinmata), Bèo đánh trống (Spirodela polyrrhiza), Bèo cám nhỏ (Lemna aequinoxialis) và một loài bèo cám rất hiếm là Bèo nhọn (L. tenera).

 

Trảng dớn - choại trên đất than bùn

Đây là kiểu thảm thực vật hình thành sau khi rừng tràm trên đất than bùn bị cháy (nhưng lớp than bùn còn một phần) hoặc rừng tràm sau khai thác trắng (than bùn còn nguyên). Lớp than bùn dầy từ 1 – 1,5 m, thường ẩm ướt vào mùa mưa, là nơi sinh trưởng thuận lợi cho các loài dớn, choại. Những loài này có độ che phủ cao, một số cây tràm bị choại leo tới ngọn. Do lớp thảm tươi phát triển mạnh nên số lượng các loài cây gỗ tái sinh ở đây ít. Các loài cây tái sinh chủ yếu ở đây là tràm, móp, bí bái, tạo nên sự đa dạng cho các quần xã thực vật ở khu vực này.

 

Sinh cảnh cỏ đồng thấp ngập sâu

Sinh cảnh cỏ đồng thấp ngập sâu thường tập trung nơi địa hình trũng, đất ngập nhiều tháng trong năm hoặc ngập thường xuyên. Độ sâu ngập nước từ 2 – 3 m. Thực vật đặc trưng chiếm ưu thế là Năng ngọt, mồm nước (Sacciolepis myuros). Mồm nước sinh trưởng nơi có độ ngập nhỏ.

 

Sinh cảnh cỏ đồng cao không ngập

Sinh cảnh cỏ đồng cao không ngập thường tập trung nơi địa hình cao hoặc nước không vào do đê, cống ngăn chặn, mùa mưa mức nước ngập dưới 50 cm trong thời gian ngắn. Thực vật đặc trưng chiếm ưu thế là mồm mốc, cỏ đuôi chồn, Sậy. Hiện nay, đất có sinh cảnh cỏ đồng cao không ngập được sử dụng trồng tràm, cây nông nghiệp.

 

Những trảng cỏ phổ biến nhất có các loài cây ưu thế là các loài cây thân thảo như Năng ngọt (Eleocharis dulcis), các loài cỏ (Cyperus halpan), và các loài Cyperus polystachyos, Fuirena umbellata, Philydrum lanuginosum, Sậy (Phragmites vallatoria). Đôi khi thấy những đám lác (Cyperus elatus) và (Cyperus digitatus) mọc rải rác trong các trảng cỏ Năng (Eleocharis) và Sậy (Phragmites). Trên các nền cao hơn chút ít, xuất hiện các quần xã ưu thế bởi Sậy, đôi khi Sậy tạo thành những lớp dầy cao đến 3 m, ngoài ra còn có một số loài khác tương đối phổ biến như Cayratia trifolia, Vigna luteola, Panicum repens, Leersia bexandra, Saccnarum spontaneum, Flagellaria indica, Lygoddium scandenes và Melastoma affine.

 

Rừng tràm trồng

Rừng trồng (thuộc kiểu thảm thực vật thứ sinh nhận tạo) hiện nay chiếm tỷ lệ diện tích rất lớn trong tổng diện tích đất có rừng. Phần lớn diện tích rừng được trồng sau khi khai thác trắng hoặc sau cháy rừng. Mật độ trồng ban đầu phổ biến là 20.000 cây/ha.

 

Cây tràm (Melaleuca cajuputii) là cây trồng rừng chủ yếu tại vùng U Minh Hạ, do đặc tính thích nghi cao với điều kiện sinh thái tại đây, trong đó yếu tố thích nghi chủ đạo là loại đất trong nhóm đất phù sa sông biển (đất phèn). Hiện nay, trồng rừng chủ yếu tại U Minh Hạ là tràm cử, tuy nhiên trữ lượng và năng suất bình quân của rừng trồng không cao do phần lớn rừng trồng theo phương pháp truyền thống. Từ năm 2003, các lâm ngư trường đã thực hiện trồng rừng thâm canh trên một số ít diện tích. Năng suất bình quân của cây tràm đạt 10,9 m3/ha/năm trên các dạng đất phèn tiềm tàng ngập nước nông.

 

4.2 “Có ý nghĩa về bảo tồn đa dạng sinh học”

 (Câu hỏi này đề cập không chỉ tới những loài đặc hữu hay những loài hiếm, nguy cấp tại địa phương, khu vực hay cấp toàn cầu mà còn đế cập tới cả những loài mang tính kinh tế quan trọng, những loại hình môi trường sống rất hiếm hoặc những khu vực đất được sử dụng bằng những kỹ thuật đặc biệt và rất thuận lợi cho việc bảo tồn đa dạng sinh học (Vd những cách chăn nuôi mang tính truyền thống, những nơi đánh bắt cá thủ công). Điểm này chỉ cần chỉ ra những thông tin chung nhất.

 

Khu DTSQ đề cử Mũi Cà Mau có ý nghĩa về bảo tồn đa dạng sinh học với ba kiểu hệ sinh thái điển hình là sinh thái biển, sinh thái rừng ngập mặn và sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới (sinh thái rừng tràm trên đất than bùn). Dù chưa có nghiên cứu điều tra đa dạng sinh học đầy đủ ở các kiểu hệ sinh thái trên, nhưng bức tranh về đa dạng sinh học có thể được hình dung như sau:

 

Khu vực RNM Mũi Cà Mau

 

Đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn, số loài cây rừng ngập mặn chính thức nói lên mức độ đa dạng sinh học của khu vực rừng ngập mặn được khảo sát và thông qua sự xuất hiện của chúng có thể xác định được vùng sinh trưởng của chúng. Với 28 loài cây rừng ngập mặn chính thức, Cà Mau là nơi có sự đa dạng sinh học khá cao so với cả nước, chưa kể 1 số loài đã từng tồn tại nhưng nay chưa phát hiện được như : Cóc đỏ (Lumnitzera littorea); Côi  (Scyphiphora hydrophyllacea) và Mắm quăn (Avicenia lanata)

 

Mắm trắng : (Abicenia alba) : Đây là loài chiếm ưu thế tuyệt đối ở các vùng bãi bồi ven biển thuộc khu vực từ Mũi Cà Mau đến bờ Nam sông Bảy Háp (nơi giáp ranh giữa hai chế độ triều biển Đông và Vịnh Thái Lan); đồng thời cũng là loài chiếm ưu thế ở các Bãi Bồi ven sông rạch. Chúng có thể chịu được độ mặn từ 20-30‰ ở vùng ven biển đến những vùng gần như ngọt hoàn toàn (có thể gặp loại này tại Thành phố Cà Mau, thậm chí ở thị trấn Thới Bình, vùng nước ngọt). Mắm trắng thường tạo thành các quần thụ thuần loại ven các bãi bồi hoặc mọc hỗn giao với các loài Đước, Vẹt tách, mắm đen ... ở các vùng đất đã được bồi tụ ổn định.

 

Mắm biển (Avicenia marina) : Đây cũng là một loài cây lấn biển, nhất là ở khu vực có độ mặn cao. Khác với vùng biển tỉnh Bạc Liêu, mắm biển là loài cây chiếm ưu thế tuyệt đối ở Cà Mau, loài cây này sống chủ yếu ở vùng ven biển Đông và bờ Bắc sông Bảy Háp. Số lượng cá thể không nhiều và thường mọc hỗn giao với các loài mắm trắng và mắm đen. Loài này ít thấy ở các vùng nước lợ đến ngọt.

 

Mắm đen (Vivicenia officinalis) : Thường sống ở cac khu vực đất đã ổn định và đặc biệt chúng thích nghi với các vùng đất lở ven sông và ven biển. Có thể thấy các quần thụ Mắm đen ven các kênh rạch với những dãy hẹp hoặc tạo thành các rừng hỗn giao Mắm đen- Đước ở ven khu vực biển Đông.

 

Đước (Rhizophora apiculata) : Đây là loài cây phổ biển nhất ở rừng ngập mặn Cà mau kể cả ở rừng tự nhiên cũng như rừng trồng. Đối với rừng trồng: Trong số 56.226 ha rừng trồng hiện có tại Cà Mau thì Đước có thể nói là loài duy nhất được trồng (các loài khác được trồng với diện tích rất ít). Do có phổ thích nghi rộng cho nên ta có thể thấy các cánh rừng Đước được trồng từ những khu vực đất mới bồi tụ đến những khu vực đất rất ổn định, độ ngập triều không đáng kể. Từ các khu vực với thực bì là giá (Excoecaria agallocha) đất rất cao tại một số nơi ở LNT 184; đến những dạng đất rất cứng với độ ngậm nước của đất chỉ đạt 20-30%, độ mặn tầng đất 40 cm đạt đến 60-70‰ khu vực Giá Rai, Bạc Liêu. Chúng cũng có thể sống được ở những vùng hầu như ngọt hóa hoàn toàn (Thới Bình, U Minh).

 

Trong tự nhiên : Theo diễn thế rừng, loài Đước diễn thế sau loài mắm trắng, tuy nhiên chúng lại có thể tiếp tục tồn tại ở các diễn thế tiếp theo, tạo thành các quần thụ Mắm trắng- Đước, Đước thuần loại, Đước- Vẹt tách, Đước- Dà quánh …

 

Vẹt tách (Bruguiera parviflora): Vẹt tách là loài cây tăng trưởng nhanh và có giá trị kinh tế cao (chỉ sau cây Đước) cho nên cũng được đưa vào trồng rừng tại Cà Mau, nhưng diện tích không nhiều).

 

Trong tự nhiên Vẹt tách là loài cây diễn thế sau cây Đước, thường chúng sống hỗn giao với Đước hoặc Mắm trắng, Dà quánh (Ceriops decandra) … Ở Cà Mau cũng có thể gặp các quần thụ Vẹt tách thuần loại khá lớn như ở rạch Kiến Vàng - LNT Kiến Vàng, LNT Tam Giang I ... với diện tích hàng trăm ha.

 

(Ceriops): Chi Dà ở Cà Mau có 2 loài, gặp khá phổ biến ở các vùng đất ngập mặn trủng nội địa (bị cô lập). Chúng có thể tạo thành các quần thụ thuần chủng rộng lớn như ở LNT Tam Giang I, hoặc mọc ven các kênh rạch tự nhiên xen với các loài cây khác (Ceriops decandra).

 

Bần (Sonneratia): Chi Bần ở Cà Mau có 3 loài. Trong đó Bần đắng (Sonneratia alba) sống chủ yếu ở những vùng đất bãi mới bồi ven biển, ven sông với độ mặn cao. Loài này thường không mọc thành quần thụ thuần chủng mà sống xen với loài Mắm trắng. Ở khu vực bãi bồi cửa sông Ông Trang, chính loài Bần đắng là loài tiên phong mọc trước và phía ngoài loài Mắm trắng nhưng số lượng cá thể rất ít.

 

Dừa nước (Nipa fruticans): Đây là loài khá phổ biến  ở rừng ngập mặn Cà Mau, tổng diện tích lên đến trên dưới 3000 ha. Chúng có phạm vi thích nghi rất rộng, từ những vùng đất có độ mặn cao cho đến những vùng nước lợ hoặc ngọt hoàn toàn; chúng có thể chịu được độ ngập nước sâu, ven sông rạch chúng thường sống ở nơi có mực nước cao nhất, bên ngoài cả loài Mắm trắng.

Ở Cà Mau, có thể gặp loài Dừa nước ở ven hầu khắp các sông rạch.

 

 Diễn thế tự nhiên của các loài cây rừng ngập mặn chính thức

Đối với rừng ngập mặn chúng ta có thể chia làm 2 dạng diễn thế rừng. Thứ nhất, diễn thế theo độ mặn. Thứ hai, diễn thế theo độ thành thục của đất (độ ngập nước).

Sau đây là các kết quả nghiên cứu diễn thế rừng tự nhiên theo độ thành thục của đất ở vùng đất mặn hoàn toàn (Cửa sông Ông Trang). Các dạng rừng được sắp xếp theo diễn thế rừng từ thấp đến cao như sau:

 

Quần thụ Mắm trắng thuần loại (có xen ít Bần đắng)

Đây là mốc đầu tiên trong quá trình diễn thế của rừng ngập mặn Cà Mau. Loài Mắm trắng (Avicenia alba) là loài cây tiên phong lấn biển ở khu vực cửa Sông Ông Trang, sống trên dạng đất bùn lỏng, ngập triều sâu hàng ngày, độ lún của bước chân khi đi trên nền rừng là khoảng 40 cm, tạo thành những quần thụ thuần loại. Trong đó Mắm trắng chiếm đến 95% số lượng cá thể (3800 cây/ha), số còn lại là Bần đắng với số lượng rất ít 5%.

 

Quần thụ Mắm trắng và Đước và hỗn giao

Đây là diễn thế tiếp theo của loài Mắm trắng; đất đai vẫn ở dạng bùn lỏng, tuy nhiên đất đã ổn định và thành thục dần, độ lún của bước chân trên dưới 30cm. Hệ thực vật nơi đây đã phong phú hơn, bên cạnh 2 loài Mắm trắng và Bần đắng đã xuất hiện Đước và Vẹt tách tạo thành một khu rừng hỗn giao. Trong đó chiếm ưu thế là Đước (45%) và Mắm trắng (34%). Một điều hết sức đặc sắc khi quan sát là loài Đước mọc xen và thay thế dần loài Mắm, sau đó loài Vẹt tách mới mọc xen vào quần thụ Đước, tạo thành một diễn thế khá rõ nét Mắm Trắng – Bần Đắng – Đước – Vẹt Tách.

 

Bảng 7: Mật độ các loài trong quần thụ

Số TT

Loài

Số lượng cá thể

Tỷ lệ

1

Bần đắng: Sonneratia alba

2

4%

2

Mắm trắng: Avicenia alba

18

34%

3

Vẹt tách: B. parviflora

9

17%

4

Đước: Rhizophora apiculata

24

45%

 

Cộng

53

 

 

Quần thụ Đước – Mắm trắng – Vẹt tách hỗn giao

Quần thụ này hiện diện trên vùng đất đã khá ổn định, đất đai thuộc dạng bùn chặc, độ lún của bước chân trên nền rừng từ 7-10 cm. Trong quần thụ này Đước là loài chiếm ưu thế tuyệt đối (66%) số lượng cá thể xen với Vẹt tách và Mắm trắng trong đó loài mắm trắng đã dần sụt giảm. Số lượng các loài tăng dần.

 

Bảng 8: Mật độ các loài trong quần thụ Đước, Mắm trắng và Vẹt tách

Số TT

Loài

Số lượng cá thể

Tỷ lệ

1

Bần đắng: Sonneratia alba

1

1%

2

Mắm trắng: Avicenia alba

12

18%

3

Vẹt tách: B. parviflora

9

13%

4

Dà quánh: Ceripos decandra

1

1%

5

Đước: Rhizophora apiculata

45

66%

 

Tổng cộng

68

 

 

Quần thụ Đước – Vẹt tách hỗn giao

Quần thụ này xuất hiện trên khu vực đất đã ổn định, độ lún của bước chân trên nền rừng là từ 1-5cm. Ở đây Mắm trắng và Bần đắng đã hoàn thành chức năng lấn biển và được thay thế bằng các loài cây khác. Trong đó Vẹt tách chiếm tỷ lệ lớn nhất (53%) kế đến là Đước (45%), tạo thành khu rừng hỗn giao Đước – Vẹt tách. Một số loài khác đã xuất hiện như (Excoecaria agallocha), Su mekong (Xylocarpus mekonggensis).

 

Bảng 9: Mật độ các loài trong quần thụ Đước – Vẹt tách hỗn giao

Số TT

Loài

Số lượng cá thể

Tỷ lệ

1

Vẹt tách: B. parviflora

57

53%

2

Giá: Excoecarnia agallocha

1

1%

3

Đước: Rhizophora apiculata

49

45%

4

Su mekong : Xylocarpus mekonggensis

1

1%

 

Tổng cộng

108

 

 

Quần thụ Đước – Dà quánh – Vẹt tách hỗn giao

Dạng rừng này tồn tại trên khu vực đất đã hoàn toàn ổn định, độ lún của bước chân trên nền rừng là không đáng kể. Ngoài loài Đước vẫn còn chiếm tỷ lệ rất cao (48%), đây thật sự là một cánh rừng hỗn giao với 8 loài thân gỗ và 2 loài cây bụi, Dây leo. Loài Vẹt tách đã dần mất ưu thế, thay vào đó là loài Dà quánh (22%), loài Su mekong ít khi sống thành quần thụ cũng đạt tới tỷ lệ 8%, đây là vùng đất thích hợp của Su mekong. Loài Mắm đen cũng đã xuất hiện ở khu vực có đất lở.

 

Bảng 10: Mật độ các loài trong quần thụ Đước – Dà quánh - Vẹt tách hỗn giao

Số TT

Loài

Số lượng cá thể

Tỷ lệ

1

Mắm trắng: Avicenia alba

1

1%

2

Mắm đen: A. officinalis

3

3%

3

Vẹt hôi: Bruguiera cylindrica

2

2%

4

Vẹt tách: B. parviflora

12

13%

5

Dà quánh: Ceripos decandra

21

22%

6

Giá: Excoecarnia agallocha

2

2%

7

Đước: Rhizophora apiculata

46

48%

8

Su mekong: Xylocarpus mekonggensis

8

8%

 

Tổng

95

 

 

Quần thụ Vẹt hôi – Dà quánh hỗn giao

Dạng rừng này hiện diện ở khu vực đất sét cứng, đất hầu như không còn bị lún. Chiếm ưu thế  tuyệt đối là loài Vẹt hôi (Bruguiera cylindrica), với tỷ lệ 58% số lượng cá thể của quần thụ; kế đến là loài Dà quánh (26%); Đước đã bắt đầu kém thích nghi trên dạng đất này, chỉ còn chiếm tỷ lệ 6%; riêng loài Vẹt tách đã không còn tồn tại. Trên dạng đất này xuất hiện 1 số loài cây ngập mặn sống trên vùng đất cao ít ngập triều như Sú (Aegiceras corniculatum), Dà vôi (Ceripos tagal), Vẹt dù (Bruguiera sexangula) kể cả loài Ráng đại (Acrostichum aureum), một loài thích nghi ở vùng nước lợ.

 

Bảng 11: Mật độ các loài trong quần thụ Vẹt hôi – Dà quánh hỗn giao

Số TT

Loài

Số lượng cá thể

Tỷ lệ

1

Sú: Aegiceras corniculatum

2

2%

2

Vẹt trụ: Bruguiera cylindrica

54

58%

3

Mắm trắng: Avicenia alba

4

4%

4

Vẹt dù: B. sexangula

1

1%

5

Dà quánh: Ceripos decandra

24

26%

6

Dà vôi: Ceripos tagal 

1

1%

7

Đước: Rhizophora apiculata

6

6%

8

Su mekong: Xylocarpus mekonggensis

1

1%

 

Tổng

94

 

 

Cây rừng ngập mặn tham gia

 

Tổng số loài cây rừng ngập mặn tham gia tại Cà Mau là 28 loài. Trong đó có 9 loài thân gỗ, còn lại là các loài cây bụi, Dây leo, thân thảo và ký sinh. Những loài này làm đa dạng, phong phú thêm cho hệ thực vật rừng ngập mặn.

 

Một số loài sống và phát triển trên nền rừng cùng với các loài cây rừng ngập mặn chính thức khác như : Ráng đại (Acrostichum aureum), Ráng đại thanh (A. speciosum), Dây mũ (Finlaysonia obovata). Một số loài sống trên các bờ cao ven sông còn ngập triều thường xuyên, tạo nên sự đa dạng phong phú của hệ thực vật ven sông như các loài: Cóc kèn (Derris trifolia), Dây cám (Sarcolobus globosus), Dây mắt trâu (Zygostelrua benthani), Dây chùm gọng (Clerodendron inerme), Mét (Styrax agrestis); các loài ký sinh như Dây chùm gởi (Dendrophtoe pentanda), Dây ghi (Viscum orientale) sống trên các loài Giá (Excoecaria agallocha), Mắm trắng (Avicenia alba)… Một số loài khác sống trên những vùng đất cao hoặc bãi cát ven biển như Múi biển (Suaeda maritima), Rau muống biển (Ipomaea pes – caprae), bìm hoa to (I. Macrantha) và các loài sống ở vùng đất rất cao ít ngập triều: Tra nhớt (Hibiscus tiliacens), Tra bồ đề (Thespesia populue), Quao nước (Dolichandrone spathacea), Dây Mây nước (Flagellaria indica), Mù u (Calophylum inophyllum), Bình bát (Anmona glabra).

 

Các loài chuyển tiếp sinh thái

Các loài chuyển tiếp sinh thái (nhập cư) sống ở rừng ngập mặn Cà Mau, qua điều tra chưa đầy đủ của Trung tâm NC & ƯDKT rừng ngập mặn Minh Hải lên đến 38 loài, trong báo cáo này xin nêu 10 loài phổ biến nhất. Các loài này sống trên các vùng đất rừng ngập mặn đã bị tác động, chủ yếu trên các dạng đất sau đây :

 

Trên các bờ đất, đê bao ao nuôi tôm : Các loài thuộc họ Lúa (Poaceae) và họ Cúc (Asteraceae), trong đó phổ biến nhất là Lức cây (Pluchea indica), Rau mui (Wedelia biflora), Dây choại (Stennocholena pafustri)…. Các loài này biểu hiện độ mặn của đất đã giảm, đất cao, ít bị ngập triều và đang biến dần sang dạng đất cao không ngập triều. Trong một số ao nuôi tôm trong vùng rừng ngập mặn, có thể gặp các loài Cỏ lông tượng (Fimbristylis littoralis) và Cỏ nước mặn (Echinochloa colunum).

 

Số loài cây rừng ngập mặn đặc hữu

Nói chung rừng ngập mặn Cà Mau thật sự không có các loài cây đặc hữu của địa phương hay của vùng. Các loài cây của Cà Mau cũng là các loài rất phổ biến ở rừng ngập mặn Việt Nam nói chung, Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng.

 

Số loài cây rừng ngập mặn nguy cơ hoặc bị đe dọa

Theo 1 số tài liệu trước đây, nhất là Cuốn Sổ Tay Cây Cỏ Rừng ngập mặn Cà Mau, xuất bản năm 1992 (lưu hành nội bộ), đã nêu danh mục 30 loài cây rừng ngập mặn chính thức tại Cà Mau trong đó có 3 loài :

- Cóc đỏ (Lumnitzera litorea )

- Mắm quăn (Avicenia lanata )

- Côi (Scyphiphora hydrophyllaceae )

Tuy nhiên, từ đó đến nay, qua nhiều lần khảo sát trên địa bàn Cà Mau đã không còn phát hiện các loài nêu trên.Một số loài khác cũng đang trong tình trạng nguy cơ, kể cả bị đe dọa.

 

Loài Vẹt dù bông đỏ (Bruguiera gymnorriza) là loài phổ biến ở rừng ngập mặn miền Bắc Việt Nam, nhưng ở miền Nam, đặc biệt ở Cà Mau lại rất hiếm, chúng sống rải rác ở vùng biển phía Tây (Vịnh Thái Lan) và khu vực LNT Tam Giang I (Ngọc Hiển), số lượng cá  thể lớn nhất tìm được trên 1 khu vực nơi đây không quá 20.

 

Trang (Kendelia candel): Trước đây (trước 1990) có thể tìm được loài này khá nhiều tại vùng ven biển và rừng ngập mặn Đầm Dơi, nay rất hiếm, tập trung nhất là tại một khu vực nhỏ của LNT 184 với số cá thể vài trăm cây.

 

Các loài Cui (Heritiera littiralis), Su ổi (Xylocarpus granatum), Lá lụa (Cynometra ramiflora), Sú (Aegiceras corniculatum) cũng hiếm dần.

 

Thực vật phù du (Phytoplanton)

Qua 2 đợt lấy mẫu vào tháng 12/1997 và 3/1998 tại một số thuỷ vực ở Cà Mau, đã thống kê được 119 loài thực vật phù du bao gồm :

- Bacillariophyta :           86 loài

- Cyanophyta                 :           8 loài

- Chlorophyta                 :           5 loài

- Dinophyta                    :           4 loài

- Cuglenophyta  :           15 loài

- Xanthophyta                :           1 loài

Trong đó có 23 loài chiếm ưu thế từ 42.500 (cá thể/m3) – 95.500.000 (cá thể/m3).

 

Động vật phù du (Zooplanton)

Tổng số loài được tìm thấy vào tháng 12/1997 ( thời điểm đầu mùa khô) là 79 loài, 37 loài tìm thấy vào tháng 3/1998 ( thời điểm giữa mùa khô).Thành phần các loài được ghi nhận qua các lần khảo sát thể hiện trong biểu sau:

 

Bảng 12: Các chi động vật phiêu phù du chủ yếu (Zooplanton)

Thời gian khảo sát

12/97

3/98

Rotatoria

14

5

Cladocea

14

6

Copepoda

36

17

Ostracoda

3

 

Mysidacea

1

1

Decapoda

2

1

Chaetognatha

1

1

Tunicata

1

 

Protozoa

 

1

Larva

7

5

TỔNG

79 loài

37 loài

 

Động vật đáy (Zoobenthos)

Tổng số loài được tìm thấy vào  thời điểm đầu mùa khô là 22 loài, số loài được tìm thấy vào thời điểm giữa mùa khô là 26 loài. Như vậy, thành phần các loài thông qua 2 lần khảo sát là không có sự biến động đáng kể và được ghi nhận như sau:

 

Bảng 13: Các chi động vật đáy chủ yếu (Zoobenthos)

Tên chi

12/97

3/98

- Polychaeta

4

6

- Oligochaeta

2

0

- Isopoda

3

3

- Tanaidacea

1

8

- Amphipoda

4

0

- Gastropoda

3

3

- Bivalvia

4

2

- Echinodermata

1

1

- Các dạng khác

0

3

Tổng

22 loài

26 loài

 

Qua các cuộc khảo sát cho thấy số lượng động vật đáy (Zoobenthos) thay đổi theo mùa:

Đầu mùa khô:    10-500 con/m2

Giữa mùa khô:  30-10.000 con/m2

Nguyên nhân do mùa khô giàu chất dinh dưỡng hơn và có độ mặn thích hợp hơn mùa mưa.

 

Các loại cá

Vùng nước lợ của sông Gành Hào, Bồ Đề, Bảy Háp (biển Đông và biển Tây) có 69 loài cá, trong đó có 38 loài có nguồn gốc từ biển, 31 loài cá nước lợ. Trong đó 40 loài cá có giá trị kinh tế cao. Một kết quả khảo sát khác được thực hiện ở phía Tây Ngọc Hiển bước đầu cho thấy có 11 bộ cá các loại với 14 họ và 27 loài cá.

 

Nguồn lợi các loài thuỷ sản khác

Ở vùng biển Cà Mau có khoảng 10 loài mực có giá trị kinh tế cao như : Sepiotenthis lessoniana, Loligo chinensis, L. duvauceli, L. singhalensis, L. edulis, Sepia pharaonis, S. aculeata…. Chúng phân bố rải rác từ vùng nước nông ven bờ đến vùng nước sâu ngoài khơi.

 

Giáp xác, nhuyễn thể  trên nền rừng và bãi bồi

Giáp xác và nhuyển thể trên nền rừng là một nhân tố quan trọng tham gia trong chuỗi thức ăn và chuyển hoá vật chất của rừng ngập mặn; đồng thời cũng là một nguồn lợi đáng kể đối với cư dân địa phương.

Sau đây là kết quả khảo sát tại khu bảo tồn đa dạng sinh học, LNT 184 năm 1999:

Tổng số loài tìm được là                         :           26 l loài

Trong đó :

Nhóm Gastropoda                                  :           15 loài

Nhóm Pelecypoda                                  :           4 loài

Nhóm Decapoda – Brachyura      :           7 loài

Số lượng cá thể  trên 1m2                      :           7,88.

 

Trong các loài nêu trên, các loài có giá trị kinh tế cao, được người dân khai thác vì mục đích kinh tế là :

+ Ốc leng (Cerithidea cingulata): Mật độ 1,1 con/m2. Đây là loài có số lượng cao ở rừng ngập mặn được người dân khai thác với mục đích kinh tế. Những năm gần đây ở một số khu vực rừng ngập mặn người dân đã tiến hành thả lưới đạt kết quả rất khả quan.

+ Vọp (Cyrena sumatrensis) không thấy ở khu vực khảo sát. Đây là loài thuộc nhóm 2 mảnh vỏ, là món ăn ưa thích nên cũng được người dân tích cực khai thác. Những năm gần đây số lượng giảm dần.

 

Các loài 2 mảnh vỏ ở bãi bồi

Bãi bồi ven biển là nơi sinh sống của nhiều loài động vật, đặc biệt có giá trị là các loài nhuyễn thể (2 mảnh vỏ).

 

Sò huyết (Arca granosa): Sống hầu khắp khu vực bãi bồi từ Mũi Cà Mau đến cửa sông Ông Trang. Những năm trước đây đã được người dân tổ chức nuôi trồng ven sông Bảy Háp. Là loài thực phẩm chứa nhiều dinh dưỡng và có gi trị kinh tế cao.

 

Sò lông : Sống chủ yếu ở ven biển huyện Cái Nước.

Nghêu (Merethrix lyrata): Ở vùng bãi cát Khai Long.

 

Thú rừng ngập mặn Cà Mau

Trước năm 1945 khi rừng ngập mặn Cà mau còn là những khu rừng nguyên sinh, tập trung với diện tích lớn, thú rừng rất nhiều và đa dạng, trong đó có nhiều loài quí hiếm. Tuy nhiên, qua nhiều năm bị chiến tranh tàn phá nhất là chất độc hoá học, cũng như sự khai phá của con người, rừng ngày càng giảm sút, và hệ quả là hệ động vật rừng cũng trong tình trạng xuống cấp.

 

Các tài liệu nghiên cứu về hệ động vật Cà Mau từ trước đến nay cũng khá nhiều, nhưng chưa được hệ thống, cập nhật thường xuyên. Trong tài liệu này chúng tôi xin đánh giá sơ bộ làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo.

 

Lớp thú

Số lượng các loài thú ở rừng ngập mặn Cà Mau không nhiều, tổng số thống kê được khoảng 28 loài thuộc 12 họ. Trong đó, 5 loài có trong Sách đỏ Việt Nam, 1 loài có trong Sách đỏ IUCN. Một số loài đáng chú ý như sau:

 

Bộ linh trưởng (Primates)

Hiện nay chỉ có loài Khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis) thuộc họ Cercopithecidae là đã được định danh chính thức. Loài này rất phổ biến ở rừng ngập mặn Cà Mau, sống từng đàn có khi đến 20 – 30 con. Hiện có thể gặp loài này ở những khu rừng với diện tích lớn (trên 10 ha) và tuổi rừng cao hầu khắp các lâm phần ở Cà Mau.

 

Một loài linh trưởng khác, tên địa phương gọi là Lọ nồi, theo một số tài liệu cho rằng đây là loài thuộc chi Hylobates, họ Hylobatidae (Vượn), tuy nhiên đến nay loài này hầu như không còn tìm thấy ở Cà Mau.

 

Loài khỉ có tên địa phương là Cà khu, 1 loài khỉ lớn, có thể nặng lên đến 15 - 20kg, hiện nay vẫn còn tồn tại nhưng chưa xác định được tên khoa học chính thức, có thể là tên gọi khác của loài Khỉ đuôi dài (Macaca fasciculeris).

Bộ móng guốc ngón chẵn (Artiodactyla):

Loài heo rừng (Sus scrofa) hiện nay rất hiếm gặp tại rừng ngập mặn ở Cà Mau, theo thông tin chỉ tìm gặp ít con tại LNT Đầm Dơi, Kiến Vàng …..

 

Bộ ăn thịt (Carnivora)

Các loài Chồn mướp, Chồn cáo Mèo, Cáo cộc... còn khá phổ biến. Hai loài rái cá cũng phát triển mạnh ở các ao nuôi tôm kết hợp với rừng (thịt rái cá không được ưa chuộng).

 

Lớp chim

Chim là lớp có số lượng loài phong phú nhất trong hệ động vật rừng ngập mặn Cà Mau. Bao gồm 2 loại chim di cư và chim định cư.

 

Chim di cư thường tập trung ở vùng ven biển, chủ yếu ở khu vực bãi bồi phía Tây huyện Ngọc Hiển, từ bờ nam sông Bảy Háp đến mũi Cà Mau, số lượng chim di cư về nhiều nhất trong năm là từ tháng 1 đến tháng 4.

 

Chim định cư sống tập trung chủ yếu ở các sân chim và vườn chim. Theo báo cáo kết quả nghiên cứu các vườn chim Cà Mau của Đặng Trung Tấn, 1999, số lượng sân chim và vườn chim tại khu vực rừng ngập mặn Cà Mau là 17, trong đó riêng các vườn chim trong các vườn rừng của dân ở huyện Đầm Dơi là 9, Ngọc Hiển 7, Cái nước 1. Các vườn chim nhỏ trong dân thường không cố dịnh, chúng có thể di chuyển từ hộ này sang hộ khác, tuỳ thuộc điều kiện quản lý của chủ hộ và môi trường bị biến đổi.

 

Số lượng chim ghi nhận được ở các vườn chim là trên 45.000 con. Tổng số loài chim được ghi nhận từng tồn tại ở rừng ngập mặn Cà Mau là 171 loài thuộc 37 họ, trong đó chim di cư 54 loài , thuộc 17 họ; chim định cư 117 loài thuộc 33 họ.

Số loài có ghi trong Sách đỏ Việt Nam : 11

Số loài có ghi trong Sách đỏ IUCN : 07

Số loài có ghi trong phụ lục I Cites : 01

Số loài có ghi trong phụ lục II Cites : 05

 

Chim di cư

Một số loài chim thuộc dạng quí hiếm đã từng tồn tại ở rừng ngập mặn Cà Mau như Bồ nông chân hồng (pelecanus onocrotalus), Cò lạo xám (Ibis leucocephalus), Già đẫy Java (Leptoptilos javanicus)… hiện nay hầu như không còn gặp. Tình trạng 1 số lồi chim khác như sau:

 

Họ Bồ nông (Pelecanidae)

Loài Bồ nông chân xám (Pelacanus philippinensis) là loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ IUCN, hiện nay rất hiếm, trong đợt khảo sát các sân chim tháng 12/1998 tại Cà Mau của Trung Tâm nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật rừng ngập Minh Hải, chỉ phát hiện được 1 con ở vùng cửa sông Ông Trang và 2 con tại bãi bồi Mũi Cà Mau.

 

Họ Hạt (Ciconiidae)

Họ Hạt ở rừng ngập mặn Cà Mau có 4 loài, cả 4 loài đều có tên trong Sách đỏ Việt Nam, trong đó có 2 loài có tên trong Sách đỏ IUCN.

 

Ngoài loài Cò lạo xám và Già đẫy Java hầu như không còn gặp ngoài tự nhiên ở Cà Mau, loài Giang sen (Ibis leucocephalus) có số lượng cá thể khá lớn và có thể gặp nhiều nơi trong tỉnh. Tại vườn chim Cây gừa huyện Đầm Dơi đã phát hiện 1 bầy trên 80 con; tại LNT 184 có khoảng từ 40-50 con; ở các vườn chim Kinh 5 huyện Ngọc Hiển, khu vực mũi Cà Mau… cũng tìm thấy loài này với số lượng ít hơn.

 

Tuy nhiên, hiện nay chưa phát hiện được địa điểm làm tổ và đẻ trứng  của chúng ở rừng ngập mặn. Loài Cò khoang cổ (Ciconnia epriscopus) trước cơn bão số 5 (11/1997) còn tìm thấy ở vườn chim Bến M, LNT Sào Lưới, đến nay chỉ còn tìm gặp ở vườn chim Lâm Viên 19/5 Cà Mau. Loài Cò nhạn (Anastomus oscitans) sống chủ yếu ở khu vực rừng tràm, hiện rất ít gặp ở khu rừng ngập mặn.

 

Họ Quắm (Threskiornithidae)

Cả 2 loài hiện diện ở Cà Mau là Quắm trắng (Threskiornis melanocepphalus) và Quắm đen (plegadis falcinellus) đều còn lại với số lượng rất ít. Loài Quắm đen có thể tìm thấy ở các vườn chim Rạch Thùng, Vàm lựu… thuộc huyện Đầm Dơi. Loài Quắm trắng có tên trong Sách đỏ IUCN, có số lượng cá thể lớn hơn, tại vườn chim Ông Đồi, huyện Ngọc Hiển khoảng 100 con, vườn chim Ông Định 392 con; ở các vườn chim Ba nhất, Bàu Bà, Cái Bẹ, Khúc cạn cũng có nhưng số lượng rất ít.

 

Họ Chĩ (Phalacrocoracidae)

Ở Cà Mau có 4 loài. Trong đó loài Cóc đen (Phalacrocorax niger) là loài chiếm ưu thế trong các vườn chim ở Cà Mau. Riêng loài Bạc má (P. carbo) có tên trong Sách đỏ Việt Nam, số lượng cá thể không nhiều, tập trung chủ yếu ở Đầm Dơi và vùng Gành Hào, Bạc Liêu.

 

Họ Diệc – Cị (Ardedae)

Đây là họ có số lượng loài đông nhất: 18 loài, nói chung là các loài thông thường (riêng loài Cị Trung quốc sẽ đề cập đến trong phần “Chim di cư”).

 

Họ Sả (Alcedinidae)

Họ sả có số loài khá phong phú 9 loài, với số lượng cá thể khá đông, thức ăn chính của chúng là tôm cá nên chúng thường sống ven kênh rạch. Hai loài Sả hung (Halcyon Coromando) và Xẻo cá mỏ đỏ (Pelagop capensis) có ghi trong Sách đỏ Việt Nam.

 

Chim di cư

  Mau có bờ biển dài hơn 100km, bao gồm khu vực biển Đông (biển lở) và khu vực thuộc Vịnh Thái Lan (biển bồi). Chim di cư chủ yếu sống tập trung tại bi bồi và các vùng lân cận (các ao nuôi tôm, các kênh rạch rừng ngập mặn). Việc nghiên cứu chim di cư ở Cà Mau chưa được nhiều và thường xuyên nên kết quả thu được còn ít.

 

Tổng số chim di cư được biết đến nay ở rừng ngập mặn Cà Mau là 54 loài thuộc 17 họ. Trong đó chỉ riêng 2 đợt khảo sát ngắn hạn vào tháng 3/1999 và tháng 3/2000 của Tiến sĩ Nial thuộc tổ chức Birdlife đã phát hiện được thêm 15 loài chưa được mô tả trước đó ở Cà Mau, bao gồm sự hiện diện của họ Mồng bể (Laridae) với 5 loài. Trong các đợt khảo sát này, Nial cũng đã ghi nhận được số lượng khá lớn loài Cò Trung quốc (Egretta eulophotes). Riêng đợt tháng 3/2000 đếm được 83 con. Đây là loài được ghi trong Sách đỏ IUCN ở mức EN.

 

Phần nhiều các loài chim di cư thuộc các họ Rẽ (20 loài), họ Choi choi (6 loài).

Một số loài chim di cư quí hiếm như: Choắt chân màng lớn (Limnodronus semipalmatus), Rẽ mỏ cong hông nâu (Numenias madagascariensis) và loài Cị Trung quốc có ghi trong Sách đỏ IUCN, Nhàn mào (Tena bergii) có ghi trong Sách đỏ Việt Nam…

 

Số loài chim quí hiếm cần được bảo vệ

Tổng số loài chim quí hiếm cần được bảo vệ là 19 loài. Đây là các loài có ghi trong Sách đỏ IUCN, Sách đỏ Việt Nam, phụ lục I và phụ lục II Cites và những loài được ghi trong Nghị định 18 HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng.

 

Lưỡng cư

Tổng số loài lưỡng cư ở rừng ngập mặn Cà Mau là 6 loài, thuộc 4 họ. Số lượng loài ít, số lượng cá thể không nhiều, ít có giá trị về mặt kinh tế và về mặt khoa học (không có loài nào quí hiếm được xếp trong Sách đỏ Việt Nam và IUCN).

 

Bò sát

Bò sát rất phong phú ở khu vực rừng ngập mặn, cả về số lượng loài và cá thể.

Tổng số có 34 loài thuộc 14 họ.

Trong đó :          - 9 loài có ghi trong Sách đỏ Việt Nam

- 2 loài có ghi trong Sách đỏ IUCN

- 1 loài có ghi trong phụ lục I Cites

- 5 loài có ghi trong Nghị định 18 của HĐBT.

 

Trong đó có số lượng loài nhiều nhất là họ Rắn nước, 11 loài. Tuy nhiên họ Rắn hổ (Elapidae), chỉ có 4 loài, nhưng 3 loài có ghi trong Sách đỏ Việt Nam, bao gồm Rắn hổ mang (Naja naja), Rắn mái gầm (Bumgarus fasciatus), Rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hamuah). Loài Hổ mang chúa là loài rất phổ biến ở rừng ngập mặn và bị săn lùng nhiều nhất do giá trị kinh tế rất cao. Các loài thuộc họ Trăn (Boidae) và Kỳ đà (Varamidae) cũng là các loài quí hiếm, hiện đang bị đe doạ do sự săn bắt của con người.

 

Rừng ngập mặn chủ phân bố tập trung chủ yếu ở huyện Ngọc Hiển với diện tích 50.354 ha chiếm tới 77,91% diện tích, huyện Đầm Dơi 12,32%, huyện Cái Nước 6,1%, phần còn lại là các huyện Trần Văn Thời và U Minh 3,67%. Tổng diện tích rừng 64.632 ha đạt độ che phủ 47,05% diện tich lâm phần. Chủ yếu là rừng trồng với diện tích 56.226 ha chiếm tới 87% diện tich rừng, rừng tự nhiên giảm sút nhanh chóng chỉ còn 6.406 ha chiếm 13 %. Tổng trữ lượng toàn bộ lâm phần rừng ngập mặn Cà Mau 770.004 m3­  cho thấy đây chủ yếu là rừng non và rừng nghèo. Diện tích đất không có rừng qui hoạch cho phát triển Lâm nghiệp là 72.738 ha, do đó công tác phục hồi rừng trong những năm trước mắt là hết sức quan trọng đế nâng cao độ che phủ của rừng lên khoảng 60- 70% vào năm 2005.

 

Tổng diện tích rừng ngập mặn hiện có là 64.632 ha, Trong đó, diện tích rừng trồng là 56.226 ha. Độ che phủ của rừng là 47,05% diện tích lâm phân và 12,44% diện tích toàn tỉnh . Diện tích có khả Năng trồng rừng ngập mặn 17.772 ha chủ yếu là bãi bồi phía tây huyện Ngọc Hiển và Lâm ngư trường Sào Lưới- huyện Cái Nước

 

Số loài cây rừng ngập mặn: Tổng số loài cây rừng ngập mặn hiện có tại Cà Mau là 66 loài. Trong đó chia ra :

-          Cây rừng ngập mặn chính thức 27/32 loài hiện có ở Việt Nam.

-          Cây tham gia rừng ngập mặn : 28 loài.

-          Các loài chuyển tiếp sinh thái (nhập cư) : 38 loài, trong đó có 10 loài chính yếu (được nêu trong danh lục đính kèm).

 

Đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn, số loài cây rừng ngập mặn chính thức nói lên mức độ đa dạng sinh học của khu vực rừng ngập mặn được khảo sát và thông qua sự xuất hiện của chúng có thể xác định được vùng sinh trưởng của chúng. Với 28 loài cây rừng ngập mặn chính thức, Cà Mau là nơi có sự đa dạng sinh học khá cao so với cả nước.

 

4.3. “Liệu khu dữ trữ sinh quyển đó có thể thực hiện phát triển theo hướng biền vững tại khu vực đó không?”

(Mô tả bằng những thuật ngữ tổng quát tiềm Năng của khu vực có thể sử dụng để khuyến khích thúc đẩy việc phát triển bền vững tại khu vực hoặc “sinh thái địa phương”).

 

Phát triển bền vững của đại phương được thể hiện thông qua tiềm Năng của khu vực có thể sử dụng và khuyến khích thông qua các hoạt động phát triển kinh tế gắn với mục đích bảo tồn. Các hoạt động chính bao gồm:

 

Nuôi cá trong ao, hồ và đầm

Trong vài năm trở lại đây, mô hình nuôi cá nước ngọt ao, hầm, mương, vườn phổ biến trong đất thổ cư của dân trong mùa mưa, chủ yếu nuôi cá đen địa phương (riêng một số khu vực huyện Thới Bình và huyện U Minh và Đầm Dơi nuôi được quanh năm).

 

Đặc biệt 2 năm trở lại đây có một số dân nuôi cá Rô phi đơn tính được thí nghiệm và phát triển ở một số nơi trong tỉnh Cà Mau, nhất là ở huyện Thới Bình và thị xã Cà Mau (cá Rô phi đơn tính và các Rô phi thường nuôi phát triển tốt ở cả nước ngọt, nước lợ nên có thể nuôi cả năm, nhưng nuôi nước lợ thì cá phát triển nhanh hơn). Trước đây, nhân dân tỉnh Cà Mau không có tập quán nuôi cá mà chỉ dùng ao, hầm, mương, vườn… sẵn có để thu hoạch cá thiên nhiên. Diện tích nuôi thường từ 50 m2 đến 1 ha tuỳ địa hình, diện tích và nước nơi đó.

 

Phương thức nuôi, ương giống cá đen 20-30 gam/ con, mua giống nhân tạo cá trắng cỡ 11 gam/con thả nuôi. Người dân thường nuôi cá đồng hay còn gọi là cá đen địa phương (Lóc, Trê, Rô, Sặc rằn, Sặc điện, Sặc bướn), cá trắng (cá Mè hoa, Mè trắng, Mè vinh, Mùi, Trắm, chép, Trôi, Giồ, Rô phi thường và Rô phi đơn tính). Thả cá nuôi thường trong vòng 6 tháng thu hoạch, nhưng có có nơi nuôi 8 tháng đến 1 năm mới thu hoạch đối với cá Rô phi đơn tính và cá Rô phi thường, năng suất từ 2,5 đến 5 tấn /ha/vụ và 5 – 10 tấn/ha/vụ tuỳ theo mật độ thả.

 

Nuôi cá xen canh lúa (mùa mưa)

Mô hình nuôi cá xen canh lúa ruộng tương đối phổ biến trong tỉnh, những nơi có điều kiện thích nghi nuôi. Nếu xây dựng ruộng nuôi xen canh đúng kỹ thuật và nuôi cá đúng quy trình với điều kiện tỉnh Cà Mau thì năng suất đạt 0,3 - 0,4 tấn/ha/năm đối với nuôi QCCT bậc thấp và 0,5 - 0,6 tấn/ha/năm đối với nuôi cá QCCT xen canh lúa, đối tượng nuôi kết hợp là cá trắng (cá Mè hoa, Mè trắng, Mè vinh, Mùi, Trắm, Chép, Trôi, Giồ, Rô phi thường và Rô phi đơn tính), giống thả nuôi cỡ 9-11 g/ con và cá đen, Trê, Rô, Sặc rằn, Sặc điện, Sặc bướn…), giống thả nuôi cỡ 20-30g/con. Thời gian nuôi từ 6 tháng đến 1 năm.

 

Nuôi cá trong rừng tràm

Mô hình nuôi cá trong rừng tràm tương đối phổ biến từ năm 1980 đến nay. Nếu xây dựng mương nuôi trong rừng đúng kỹ thuật và nuôi cá đúng quy trình với điều kiện rừng tràm tỉnh Cà Mau thì năng suất đạt 0,2 - 0,3 tấn/ha/năm đối với nuôi các QCCT bậc thấp. Đối tượng nuôi kết hợp là cá đen địa phương, giống thả nuôi cỡ 20-30 g/con. Thời gian nuôi từ tháng 6 đến tháng 4 năm sau.

 

Nuôi tôm càng xanh xen canh lúa (mùa mưa)

Mô hình mới nuôi thí điểm của dân, diện tích nuôi còn ít. Năng suất 0,2 - 0,25 tấn/ha/vụ (giống thả nuôi là P70 thì tốt nhất). Thời gian nuôi từ tháng 7 đến tháng 12. Mô hình nuôi này có điều kiện phát triển về diện tích nuôi, nhưng phải chú ý đặc biệt về dịch vụ giống Tôm càng xanh thì mới đủ giống nuôi và kịp thời vụ nuôi.

 

Nuôi cua biển cao nước lợ

Mô hình nuôi QCCT cua biển mới phát triển ở huyện Đầm Dơi, Ngọc Hiển và Cái Nước (nuôi ao chuyên cua còn dạng thử, nhưng nuôi kết hợp với nuôi tôm biển thì tương đối phổ biến) trong vài năm gần đây. Thực tế nuôi cua năm 1996 năng suất bình quân nuôi ao chuyên là 5 tấn/ ha/ năm và nuôi kết hợp nuôi tôm thì tuỳ nơi có cua giống thả nhiều hay ít mà có sản lượng khác nhau, trung bình những ao nuôi tôm kết hợp với cua năng suất từ 10 tấn/ha/năm. Mật độ thả giống nuôi chuyên ao là 2 con/m2 với trọng lượng 45 g/con, giống thiên nhiên trong tỉnh, chủ yếu mua cua giống ở các miệng đáy. Nuôi cua được quanh năm ở vùng ven biển. Mô hình này phát triển có mức độ ở tỉnh Cà Mau vì nuôi nhiều không có đủ giống và giá giống cao không có hiệu quả kinh tế cho người nuôi.

 

Nuôi tôm biển nước lợ mặn quảng canh

Mô hình nuôi tôm quảng canh theo kiểu đắp đập để thu tôm tự nhiên đã có từ lâu ở tỉnh Cà Mau, trong thời gian chiến tranh thì có giảm đáng kể, đến năm 1978 được phục hồi, năm 1983 hình thức nuôi tôm quảng canh tăng mạnh. Diện tích bao đầm, đập từ vài chục ha tăng lên đến hàng trăm ha đầm. Trong đầm có mương nội đầm, mương bao, cống lấy giống bằng gỗ. Cứ 15 - 30 ngày thì thu hoạch một lần (theo con nước). Năng suất lúc ban đầu là 0,15 - 0,25 tấn/ha/năm (có một số khu vực ở huyện Ngọc Hiển năng suất 400-500g/ha/năm), nhưng năng suất trung bình còn 0,071 - 0,082 tấn/ha/năm, đặc biệt có nơi chỉ còn 0,042 tấn/ha/năm. Mô hình này hiện nay đại đa số dân không nuôi vì con giống tự nhiên giảm nên năng suất quá thấp và bán tôm giá rất thấp vì tôm thu hoạch cỡ nhỏ (trừ một số nơi quá đặc biệt còn nuôi).

 

4.4. “Khu dự trữ sinh quyển đó có diện tích thích hợp để đáp ứng được 3 chức năng của khu dữ trữ sinh quyển không?”

(Khu vực bề mặt này có diện tích đủ lớn đế đáp ứng được những mục tiêu bảo tồn lâu dài của khu vực lõi, khu vực vùng đệm và khu vực đó có sẵn khu để có thể thể nghiên cứu việc sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên tự nhiên cùng với cộng đồng địa phương.)

 

Khu dự trữ sinh quyển có diện tích thích hợp đế đáp ứng được 3 chức năng của khu dữ trữ sinh quyển: Vùng lõi, Vùng đệm, Vùng chuyển tiếp.

 

Mục tiêu bảo tồn lâu dài và sự tham gia của cộng đồng được thiết lập theo quy định của Nhà nước về rừng và các khu bảo tồn thiên nhiên theo quyết định số 142/2003/QD-TTg, ngày 14/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ đối với Cà Mau; quyết định số 112/QD-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/1/2006 đối với U Minh hạ và quyết định số 08/201/QD-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 11/1/2001 đối với rừng phòng hộ ven biển.

 

4.5. Liệu khu vực đó có đủ những vùng thích hợp không?

“(a)một cùng lõi được thiết lập hợp pháp hay các vùng có tích cực tham gia bảo vệ trong thời gian dài, theo các hạng mục bảo tồn của khu DTSQ và đáp ứng đủ diện tích cho các hạng mục này không?”

 

Vùng lõi: Vùng lõi được thiết lập hợp pháp hoặc một khu vực được bảo vệ lâu dài theo các mục tiêu bảo tồn của khu dữ trữ sinh quyển và vùng lõi đó có diện tích phù hợp với các mục tiêu khu DTSQ. Mục tiêu quản lý vùng lõi là bảo tồn đa dạng sinh học, hạn chế các hoạt động của con người. Một số vùng lõi bảo tồn các loài động vật di cư hoặc kiếm ăn trong phạm vi rộng lớn (chim di cư, bò biển, rùa biển ...) thì việc bảo tồn không chỉ thực hiện ở vùng lõi mà cần phối hợp chặt chẽ với vùng đệm và chuyển tiếp. Các hoạt động nghiên cứu khoa học, quản lý hệ sinh thái có thể tiến hành ở múc độ nhất định.

 

Vùng đệm: Vùng đệm được xác định rõ ràng và là vùng phụ cận bao quanh hoặc kề sát với vùng lõi nơi mà chỉ các hoạt động không đối lập với các mục tiêu bảo tồn. Tạo nên một hành lang an toàn cho bảo tồn vùng lõi, khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế xã hội không làm ảnh hưởng mà trợ giúp cho hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học vùng lõi. Các hoạt động phát triển nông nghiệp, thuỷ sản, nghiên cứu, giáo dục, đào tạo, tuyên truyền, du lịch và giải trí phát triển dựa trên cơ sở sinh thái học trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên.

 

Vùng chuyển tiếp: vùng chuyển tiếp là vùng mà các nguồn tài nguyên được quản lý khuyến khích phát triển. Vùng chuyển tiếp còn được gọi là vùng phát triển bền vững, nơi cộng tác của các nhà khoa học, nhà quản lý và người dân địa phương. Tạo điều kiện thuận lợi và đẩy mạnh các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch, dịch vụ đi đôi với tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng.

 

4.6. “Có sự sắp sếp theo cấp độ của những thành phần liên quan, những người tham dự, những đối tượng quan tâm tại những khu vực phù hợp để cùng thực hiện những chức Năng của khu dữ trữ sinh quyển”. (Có sự sự sắp xếp tại từng địa điển, từng giai đoạn dự kiến không).

 

Sự sắp xếp được thể hiện thông qua cách tiếp cận liên nghành, đa lĩnh vực trong công tác quản lý. Tất cả các hoạt động khu vực tư nhân và sử dụng đất (mục tiêu mỗi cái cuối cùng đều PTBV) không làm tổn hại đến vùng lõi và vùng đệm: nông lâm thủy sản, săn bắn, du lịch, khu dân cư, phát triển các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo. Trong kế hoạch quản lý, các hoạt động tập trung triển khai giáo dục môi trường, nghiên cứu cơ bản và ứng dụng (thí nghiệm và thực nghiệm), giám sát và hợp tác đa mục đích giữa các bên tham gia và các nhóm lợi ích (chủ đất, cộng đồng địa phương, các cơ quan quản lý, các nhà khoa học, các tổ chức xã hội) để thực hiện chức năng.

 

Đặc biệt, chính quyền địa phương tập trung thúc đẩy các quá trình tư vấn thông qua các thỏa thuận hợp tác đóng góp vào mục tiêu chung PTBV, các công cụ khác nhau như trợ giúp xây dựng ácc chương trình, các qui định sử dụng nước, qui chế, lệ làng phép nước, cô ta săn bắn, câu cá, hỗ trợ tài chính cho công nghiệp và dịch vụ “xanh”. Đồng thời khuyến khích kế hoạch hợp tác cho toàn bộ khu DTSQ (kể cả 3 vùng) và nâng cao ý thức công dân sinh thái cho cộng đồng địa phương.

 

4.7. Cơ chế thực hiện

(điểm này đề cập tới cơ chế hành chính, thường đã được xác định rõ trước tại cấp địa phương (quốc gia)

“(a) Khu DTSQ đề cử có cơ chế quản lý các hoạt động và việc sử dụng của con người chưa?”

 

Cơ chế thực hiện được tiến hành ở cả 3 vùng. Đối với vùng lõi, tập trung công tác giám sát, nghiên cứu không phá hủy, sử dụng tác động thấp như giáo dục, thu hái có lựa chọn bởi cộng đồng địa phương như nấm, cỏ... phù hợp với mục đích bảo tồn của khu vực, du lịch sinh thái phải phù hợp với mục tiêu bảo tồn. Đây là mức độ bảo tồn cao nhất theo luật định (vùng lõi khu bảo tồn, bảo tồn nghiêm ngặt), kích thước đủ lớn như đề cập trong kế hoạch quản lý cụ thể kể cả nghiên cứu, giám sát trong việc hợp tác với các chủ đất, các bên tham gia.

 

Đối với vùng đệm, các hoạt động tập trung vào việc nâng cao hiệu quả hợp tác với khu vực tư nhân, phù hợp với mục tiêu bảo tồn thiên nhiên như sử dụng đồng cỏ hợp lý, hạn chế loài nhập nội, duy trì đa dạng loài và chức năng hệ sinh thái; quản lý đất có định hướng bảo tồn trong việc hợp tác với các chủ đất, thu hoạch sản phẩm phi gỗ, nông lâm ngư kết hợp... Quản lý bền vững thông qua thu hái sản phẩm phi gỗ, cung cấp cơ sở hạ tầng cho nghiên cứu, giáo dục môi trường, giải trí, du lịch sinh thái... Đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện cho việc triển khai các nghiên cứu cơ bản và ứng dụng (có thể tăng hơn so với vùng lõi) và giám sát.

 

Đối với vùng đệm thì các chức năng được thực hiện thông qua luật lệ qui định (nhẹ hơn so với vùng lõi) hoặc trên các hợp đồng thông qua hỗ trợ tài chính/kế hoạch quản lý trợ giúp cho các chủ đất, thông qua các kế hoạch quản lý cụ thể/hợp tác kể cả nghiên cứu và giám sát với tất cả các lĩnh vực đặc biệt với vùng lõi trong việc hợp tác với công dân, đồng quản lý...

 

Hiệu quả của các hoạt động của khu DTSQ kể cả xây dựng và điều hành kế hoạch quản lý phụ thuộc phần lớn vào bộ máy quản lý. Thông thường mỗi khu DTSQ đều có một Ban quản lý và một Hội đồng tư vấn cả về nghiên cứu bảo tồn thiên nhiên, phát triển kinh tế và các vấn đề văn hoá, xã hội, giáo dục... Thành phần và cách thực hiện khác nhau tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của địa phương.

 

-          Ban quản lý: Mặc dù tên gọi là ban quản lý nhưng thực chất là trợ giúp cho công tác quản lý. Các thành viên thường là lãnh đạo vườn quốc gia, khu bảo tồn, các đại diện lãnh đạo địa phương, hiệp hội quần chúng và các nhà khoa học. Ban quản lý sẽ họp bàn ra quyết định những vấn đề chủ yếu trong công tác quản lý trước mắt cũng như lâu dài. Khi một trong những thành viên có những ý tưởng mới, vấn đề mới đặt ra có thể đề nghị triệu tập thảo luận tuỳ thuộc thời gian và địa điểm thích hợp.

 

-          Hội đồng tư vấn: Một trong những kế hoạch quản lý chính của khu DTSQ là làm sao động viên được cộng đồng các nhà khoa học, các chuyên gia triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản, quản lý nguồn lợi, phát triển bền vững, các dự án nghiên cứu liên ngành, dài hạn đáp ứng mục tiêu bảo tồn và những đề tài đáp ứng nhu cầu quản lý. Những kết quả nghiên được áp dụng ngay tại khu DTSQ sẽ chứng minh cho tính hiệu quả của công tác quản lý. Khu DTSQ có thể tài trợ tài chính cho các hoạt động nghiên cứu theo đơn đặt hàng của mình.

“(b)Khu DTSQ đề cử có kế hoạch và chính sách quản lý khu vực như một khu DTSQ chưa?” (Mô tả một cách đáng tin cậy)

 

Xây dựng sự hiểu biết cộng đồng: Tất cả mọi người dân, mọi tầng lớp lứa tuổi cần được thông tin về khu DTSQ. Hoạt động quan trọng nhất là giáo dục môi trường cho thế hệ trẻ, mọi người dân được hiểu biết về môi trường sống của mình, bảo tồn thiên nhiên, nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, du lịch bền vững... Đa dạng các hình thức tuyên truyền giáo dục thông qua các ấn phẩm đễ đọc, dễ hiểu, dễ thực hiện, các hoạt động tổ chức như các cuộc thi tìm hiểu, ứng xử.. thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và các hình thức không chính qui sẽ đóng góp rất lớn vào hiệu quả quản lý.

 

“(c) Một cá nhân hay cơ cấu tổ chức được chỉ định để thi hành chính sách hay kế hoạch này” (Mô tả)

Xem hình 1

            x                            

                       không     đã lập kế hoạch

(d) Các chương trình nghiên cứu, quản lý, giáo dục và đào tạo?

Nội dung tuyên truyền và hình thức tuyên truyền

-          Sự hiểu biết chung về khu vực, di sản thiên nhiên và di sản văn hoá được tuyên truyền và giáo dục dưới mọi hình thức khác nhau.

-          Cảnh báo về điều kiện môi trường, ô nhiễm, chất thải, chất lượng không khí, đất, nước...

-          Xây dựng các mô hình quản lý sử dụng nguồn lợi hợp lý, nghiên cứu và ứng dụng nguồn năng lượng mới, quản lý và truyền tải thông tin tới vùng sâu vùng xa.

-          Sử dụng phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền về khái niệm, cấu trúc và chức năng khu DTSQ. Các thông tin này không chỉ được truyền đạt trong các trường phổ thông, viện nghiên cứu, các trường đại học mà cả các tổ chức nghề nghiệp, đoàn thể xã hội, đặc biệt là khách du lịch trong vùng.

-          Cần thiết kế và áp dụng các môđun giáo dục môi trường trong đào tạo giáo viên, trao đổi thông tin giữa các trường phổ thông, đại học thông qua mạng internet, hội nghị, hội thảo.

-          Xây dựng danh mục các đối tác cho tất cả các loại hoạt động nêu trên theo từng chủ đề mà họ quan tâm nhất như: thế nào là kinh tế bền vững, xác định những hoạt động cho phát triển bền vững ở địa phương, thực hành nghề nghiệp liên quan đến phát triển bền vững ở các mức độ khác nhau.

 


Bảng 14: Phân vùng chức năng, diện tích và chế tài quản lý

Phân vùng

Hệ sinh thái

VQG Mũi Cà Mau

(Vùng lõi 1)

VQG U Minh Hạ

(Vùng lõi 2)

Rừng phòng hộ Biển Tây

(Vùng lõi 3)

Tổng số

Quản lý

Vùng lõi (ha)

 

Nội địa

12.203

2.570

0

14.773

Các văn bản luật pháp về rừng dặc dụng, theo quyết định số 142/2003/QD-TTg, ngày 14/7/2003; Quyết đinh số 112/QD-TTg của Thủ tướng CP ngày 20/01/2006 và Quyết định 08/201/QD-TTg of ngày /01/2001 về bảo vệ rừng ngập mặn Cà Mau.

Biển

0

0

2.556

2.556

Vùng đệm (ha)

 

Nội địa

3.059

5.716

0

8.775

Các văn bản pháp qui của UBND Tỉnh Cà Mau và sự tham gia của cộng đồng

Biển

26.600

0

7.934

34.534

Vùng chuyển tiếp (ha)

 

Nội địa

12.133

82.555

0

94.688

Các văn bản pháp qui của UBND Tỉnh Cà Mau và sự tham gia của cộng đồng

Biển

87.027

0

129.153

216.180

Tổng số (ha)

 

141.022

90,841

137.812

371.506

Các văn bản pháp qui của UBND Tỉnh Cà Mau và sự tham gia của cộng đồng

Dân số (Người)

 

10.331

159.990

0

170.321

UBND Tỉnh Cà Mau


 

PHẦN II: MÔ TẢ

 

6. VĨ ĐỘ VÀ KINH ĐỘ CỦA KHU VỰC (TOẠ ĐỘ)

[Đưa ra số liệu về độ, phút, giây. Đưa ra toạ độ của trung tâm khu dự trữ sinh quyển và nếu có thể đưa ra cả giới hạn toạ độ vòng ngoài của vùng đệm]

Kinh độ: 104032’18.7” – 105005’09.5”

Vĩ độ: 08025’45.3” – 09026’01.7”

 

7. DIỆN TÍCH (XEM BẢN ĐỒ)

Tổng diện tích: 371,506 (ha)

7.1. Diện tích mặt đất vùng lõi: 17.329 ha

Nếu có mặt nước, diện tích mặt nước tại vùng lõi: 2.556 ha

 

7.2. Diện tích mặt đất vùng đệm: 43.309 ha

Nếu có mặt nước, diện tích mặt nước tại vùng đệm: 34.534 ha

 

7.3. Ước chừng khoảng diện tích mặt đất vùng chuyển tiếp: 310.868 ha

Nếu có mặt nước, áng khoảng diện tích mặt nước tại vùng chuyển tiếp: 216.180 ha.

 

Bảng 15: Phân vùng và dân số của khu DTSQ Mũi Cà Mau

Phân vùng

Hệ sinh thái

VQG Mũi Cà Mau

(Vùng lõi 1)

VQG U Minh Hạ

(Vùng lõi 2)

Rừng phòng hộ Biển Tây

(Vùng lõi 3)

Tổng số

Vùng lõi (ha)

 

Nội địa

12.203

2.570

0

14.773

Biển

0

0

2.556

2.556

Tổng

12.203

2.570

2.556

17.329

Vùng đệm (ha)

 

Nội địa

3.059

5.716

0

8.775

Biển

26.600

0

7,934

34.534

Tổng

29,659

5,716

7,934

43,309

Vùng chuyển tiếp (ha)

 

Nội địa

12.133

82.555

0

94.688

Biển

87.027

0

129.153

216.180

Tổng

99.160

82.555

129.153

310.868

Tổng số (ha)

 

141.022

90.841

130.643

371.506

 

7.4. Mô tả ngắn gọn nhân tố cơ bản của các vùng (về vai trò khác nhau giữa các vùng trong một khu dự trữ sinh quyển) như đã có trong bản đồ vùng.

Khu DTSQ này được thiết kế rất rõ ràng trên cơ sở phân vùng của 3 vùng đáp ứng tiêu chí của UNESCO (xem bản đồ). Ba chức năng bảo tồn, phát triển và trợ giúp các hoạt động sẽ được thực hiện dựa trên các văn bản pháp qui hiện hành với sự tham gia của cộng đồng.

 

8. KHU VỰC ĐỊA LÝ SINH VẬT (BIOGEOGRAPHICAL REGION)

[Đưa ra tên đã được chấp thuận của khu vực địa lý sinh vật tại khu vực được đề cử làm khu dự trữ sinh quyển. Bạn có thể lấy tên từ bản đồ Mạng lưới khu dự trữ sinh quyển của thế giới, bản đồ này đưa ra 12 loại hình hệ sinh thái chủ yếu.]

Rừng mưa nhiệt đới và đất ngập nước

9. LỊCH SỬ SỬ DỤNG ĐẤT:

[Nếu đã biết, đưa ra những tóm tắt ngắn gọn về những phần đất chính được sử dụng trước đây tại khu vực khu dữ trữ sinh quyển được đề cử.]

Ở Cà Mau đất mặn ít là loại đất phù hợp hơn cả cho phát triển trồng trọt. Nó được phân bố ở huyện Cái Nước (12.699 ha), Thới Bình (11.608 ha), U Minh (11.773 ha), thành phố Cà Mau (11.608 ha), Trần Văn Thời (9.131 ha) và Đầm Dơi (1.093 ha). Riêng huyện Ngọc Hiển không có loại đất này. Hầu hết vùng phân bố đất mặn ít đều ngập nước vào mùa mưa, độ ngập sâu từ 30 đến 60cm, thời gian ngập từ 6 tới 10 tháng. Đất mặn ít được sử dụng trồng lúa hai vụ hoặc ba vụ và nuôi cá nước ngọt. Canh tác lúa ở đây chủ yếu dựa vào nước mưa. Hiện nay, vùng phân bố đất mặn ít là địa bàn trọng điểm lương thực của tỉnh. Tuy nhiên, quá trình tranh chấp giữa mặn và ngọt, một số diện tích đất mặn ít có vị trí gần vùng ngập mặn có thể chuyển qua nuôi trồng thủy sản mặn.

 

Đất phèn tiềm tàng có diện tích 247.039 ha, chiếm 47,4% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, được phân bố ở nhiều địa phương trong tỉnh, song tập trung nhiều hơn ở Ngọc Hiển (107.295 ha), Đầm Dơi (38.263 ha), Cái Nước (33.441 ha) và U Minh (28.306 ha). Nhóm đất phèn tiềm tàng có 8 dơn vị đất, nhiều nhất thuộc đất phèn tiềm tàng nông dưới rừng ngập mặn.

 

Đất phèn hoạt động có diện tích 87.886 ha, được phân bố ở nhiều địa phương trong tỉnh. Song tập trung nhiều hơn ở Thới Bình (37.968 ha) và U Minh (26.948 ha). Riêng Ngọc Hiển không có loại đất này. Nhóm phèn hoạt động có 8 đơn vị đất, trong đó đất phèn hoạt động nông trên phèn tiềm tàng, mặn ít, chiếm diện tích lớn nhất (44.050 ha).

 

Hiện nay loại đất than bùn phèn đã được khai thác trồng lúa, trồng cây công nghiệp và rau màu. Một diện tích đáng kể vẫn đang được phủ rừng tràm. Đất than bùn phân bố tập trung chủ yếu ở huyện U Minh với diện tích gần 6.600 ha, Trần Văn Thời (3.251 ha) và Ngọc Hiển (728 ha). Nhóm đất này có 3 đơn vị đất, nhiều nhất thuộc về đất than bùn dày (25 – 50cm) trên nền phèn tiềm tàng.

 

Đất bãi bồi là nhóm đất mới được hình thành dọc theo bờ biển, với diện tích là 9.057 ha, chiếm 1,82% diện tích toàn tỉnh. Đây là môi trường rất thuận lợi cho việc sinh sản và cư trú của các loài thủy sản nước mặn, đặc biệt là tôm. Đất bãi bồi tập trung chủ yếu ở huyện Ngọc Hiển (7.632 ha), Phú Tân (1.875 ha). Diện tích đất bãi bồi ngày càng được mở rộng.

 

 

Bảng 16: Các loại đất của tỉnh Cà Mau (diện tích và % so với diện tích tự nhiên)

STT

Loại đất

Diện tích (ha)

% So với tổng diện tích

1

Đất mặn

Đất mặn nhiều

3.295

0,63

Đất mặn trung bình

82.351

15,8

Đất mặn ít

57.987

11,13

2

 

Đất phèn

 

Đất phèn tiềm tàng

247.039

47,4

Đất phèn hoạt động

87.886

16,86

3

Đất than bùn

10.564

2,03

4

Đất bãi bồi

9.507

1,82

 

10. DÂN SỐ TẠI KHU VỰC ĐỀ CỬ KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN

[Đưa ra con số xấp xỉ (khoảng chừng) số người đang sống trong khu vực khu dữ trữ sinh quyển được đề cử]

Sống cố định           /      theo mùa

10.1.     Vùng lõi: .......................0......../.......0...

10.2.     Vùng đệm: .. ...............70.101/.........0.........

10.3.     Vùng chuyển tiếp: ......100.220../......0...........

10.4. Mô tả ngắn gọn các cộng đồng địa phương sống trong hoặc gần khu dự trữ sinh quyển được đề cử: [Chỉ ra dân tộc bản địa, thành phần dân tộc, dân tộc thiểu số v.v. và các hoạt động kinh tế chính của họ (vd: nông thôn), nơi và khu vực họ sống tập chung - trình bày trên bản đồ nếu cần thiết.]

Dân cư, dân tộc và lao động:

Dân số tính đến cuối năm 2003 của tỉnh Cà Mau là 1.218.650 người, bằng 7% dân số vùng đồng bằng sông Cửu Long và bằng 1,47% dân số cả nước. Trên địa bàn tỉnh Cà Mau có khoảng 20 dân tộc anh em cùng chung sống. Trong đó nhiều nhất là dân tộc Kinh (chiếm 97,16%), tiếp đến là dân tộc Khơ me (1,86%) và người Hoa (0,95%)… Tỷ lệ dân số là nữ giới chiếm 50,59% tổng dân số và chiếm 94,81% lao động trong độ tuổi. Số người trong độ tuổi lao động chiếm 53,23% tổng dân số. Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh vào khoảng 234 người /km2.

Đến cuối năm 2000, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của tỉnh Cà Mau có trình độ từ cao đẳng trở lên khoảng 4.150 người trong đó có trình độ sau đại học là 62 người. So với các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long và so với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra của tỉnh thì nguồn nhân lực qua đào tạo của Cà Mau chưa đáp ứng được. Tuy nhiên, trong tổng số hơn 600 ngàn người thì đa số là lực lượng trẻ, khoẻ, cần cù và sáng tạo, có thể đáp ứng phần lớn nhu cầu lao động trước mắt của tỉnh.

Là vùng đất trẻ, lưu dân người Việt đầu tiên khai phá vùng đất này vào cuối thể kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII. Họ là những người nghèo thiếu đất, là người bị các thế lực phong kiến đế quốc chèn ép hoặc có thái độ bất hợp tác với chế độ cai trị hà khắc mà tìm đến vùng đất này khai hoang mở ấp. Vì vậy, người dân Cà Mau có tinh thần dũng khí, nghĩa hiệp. Quá trình khai hoang mở đất đê hình thành vùng đất Cà Mau như hiện nay gắn liền với quá trình cộng cư của 3 dân tộc anh em Việt – Hoa – Khmer, những người dân này đã đoàn kết gắn bó với nhau, vừa bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống vố có vừa giao thoa cộng cảm để hình thành nên tính cách bản lĩnh của con người Cà Mau hiện nay: phóng khoáng, chân thật và quả cảm.

Di tích lịch sử - văn hoá:

Tính đến năm 2002, tỉnh Cà Mau có 40 di tích lịch sử văn hoá. Trong đó, có 5 di tích được xếp hạng cấp quốc gia. Có ý nghĩa đối với hoạt động du lịch phải kể đến các di tích lịch sử Chùa Quan Âm Cổ Tự, chùa Hưng Quảng, Đình Tân Hưng và Hông Anh.

Thư Quán: Quan Âm Cổ Tự toạ lạc ở số 84/4 đường Rạch Chùa, phường 4 thành phố Cà Mau . Chùa do Hoà thượng Tô Quang Xuân dựng vào khoảng giữa thế kỷ XIV. Lúc bấy giờ chùa chỉ là một am nhỏ để Ngài tu hành và chữa bệnh cho dân. Về sau ngài về tu tại chùa Kim Chương (Gia Định) và lấy pháp hiệu là Trí Tâm. Năm 1842 vua Thiệu Trị sắc phong Hoà thượng cho ngài và sắc tứ cho chùa Quan Âm.

Kiến trúc ngày nay của chùa là do Hoà thượng Thiện Tường và Thiện Đức xây vào năm 1936. Trong chùa có bia dựng “Sắc tứ Quan Âm cổ tự” và tháp Hoà thượng Trí Tâm. Trong chùa còn một số hiện vật như tượng Phật, tượng Bồ Tát, tượng La Hán, các bức hoành phi, câu đối và nhiều đồ thờ phụng khác như những di vật Phật giáo của thời kỳ khẩn hoang. Mặc dù không phải là một công trình kiến trúc đồ sộ nhưng đây là nơi gắn liền với đời sống tâm linh của người dân Cà Mau . Đặc biệt, trong thời kỳ chiến tranh, đây là nơi nuôi giấu các chiến sỹ cách mạng và không ít các nhà sư của Quan Âm Cổ Tự đã trở thành liệt sỹ.

Chùa Hưng Quảng toạ lạc ở số 26 đường Phan Ngọc Hiển, thành phố Cà Mau . Chùa được xây dựng từ những năm 1950 thuộc Tịnh Đô Cư Sĩ Phật hội Việt Nam và được trùng tu năm 1963. Trong chùa có lập phòng thuốc nam Phước Thiện từ năm 1954 và đã hoạt động cho đến ngày nay.

Chùa Bà Mã Châu nằm trên phố Lê Lợi thành phố Cà Mau . Chùa được xây dựng từ năm 1882 và là biểu tượng cho nét văn hoá tâm linh của người Hoa ở đây. Chùa thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, người quê Phù Điều, Phúc Kiến Trung Quốc. Tương truyền Bà sinh sống vào khoảng cuối thế kỷ thứ X. Cả cuộc đời Bà dành để cứu giúp ngư dân nghèo và sau khi qua đời. Bà vẫn tiếp tục độ cho ngư dân vượt qua bão táp, hoạn nạn tới chốn bình yên. Nhờ tài năng, đức độ Bà được nhân dân tôn thờ là “Thần biển” và đến cuối đời vua Càn Long nhà Thanh đã phong cho Bà là Thiên Hậu Thánh Mẫu. Hằng năm nhân dân trong vùng đến chùa Bà tham quan, chiếm bái, tạ ơn, cầu an rất đông, đặc biệt vào ngày vía Bà 23/3 âm lịch (tương truyền là ngày sinh của Bà).

Đình Tân Hưng cách thành phố Cà Mau 4 km về phía Nam, trên tuyến kênh rạch Rập, đường đi huyện Cái Nước, thuộc địa phận xã Lý Văn Lam, thành phố Cà Mau . Đình được xây dựng năm 1907, trải qua chiến tranh đã bị hư hỏng toàn bộ. Trên nền đó, người dân địa phương cho dựng một ngôi đình khác nhỏ hơn, nền xây bằng đá hộc, mái lợp ngói máng. Mặt trước đình là hàng bốn cột xi măng, dưới chân các cột được kê bằng đá tảng. Cấu trúc mái hình bánh ít và trên nóc đúc hai rồng chầu.

Đình Tân Hưng là nơi treo cờ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên của Cà Mau năm 1930. Đây là nơi đóng quân của Bộ chỉ huy mặt trận Tân Hưng - mặt trận chống Pháp tại Cà Mau . Đình được Bộ Văn hoá – Thông tin công nhận là di tích từ năm 1992.

Hồng Anh Thư Quán thuộc căn số 2 nhà số 41 đường Phạm Văn Ký, phường 2, thành phố Cà Mau. Đây là cơ sở chi hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội tại Cà Mau làm nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin trong mọi tầng lớp nhân dân và tạo điều kiện ra đời của các cơ sở Đảng Cộng sản tại Cà Mau sau này. Hồng Anh Thư Quán đã từng là hiệu sách báo tiến bộ của chi hội tại tầng 1 của ngôi nhà trên. HIệu sách phục vụ các loại sách báo tiến bộ xuất bản ở Sài Gòn trong đó có “Tư bản luận” của Mác và Ănghen. Hồng Anh Thư Quán trở thành di tích lịch sử cách mạng được nhà nước công nhận vào năm 1992.

Khu chứng tích tội ác chiến tranh Hải Yến – Bình Hưng: Biệt khu Hải Yến – Bình Hưng được xây dựng trên một diện tích khoảng 30 ha bên bờ sông Cái Đôi Giữa - ấp Thanh Đạm, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau . Biệt khu này được thành lập từ cuối năm 1959 đầu năm 1960. Đây là một biệt khu kiên cố do tên Nguyễn Lạc Hoá (người gốc Trung quốc) cầm đầu với sự đỡ đầu và chi viện của chính quyền Diệm và đế quốc Mỹ. Bọn tay sai đã biến nơi đây thành nơi giam giữ, tra tấn và hành quyết các chiến sỹ cách mạng và thảm sát cả những người dân nghèo vô tội với câu khẩu hiệu “thà chết lầm chứ không thả lầm”. Nơi đây hiện còn lưu giữ được một số chứng tích bao gồm cây Cầu Vĩnh biệt (nơi các tù nhân được dẫn qua từ nhà giam đến hố chôn người), các hố chôn người tập thể…

Làng Rừng - một hiện tượng xã hội độc đáo đã đi vào lịch sử giữ nước của nhân dân ta. Trong những năm 60 của thế kỷ 20, không chịu nổi sự đàn áp dã man của đế quốc Mỹ và tay sai, người dân Cà Mau đã đi sâu vào trong rừng được lập làng nổi để sống với Cách mạng. Mỗi làng rừng như một xã hội thu hẹp với sự phân công lao động rõ ràng, công bằng và hợp lý. Làng Rừng được coi là tiền đề đồng khởi do có tác dụng bảo toàn thực lực cách mạng ở Cà Mau .

Điểm cuối của đường Hồ Chí Minh trên biển, chính là cửa Vàm Lũng thuộc ấp Dinh Hạng, xã Tân Ân huyện Ngọc Hiển. Đây là nơi tiếp nhận hơn 3.000 tấn vũ khí từ 77 chuyến tàu cập bến thành công chi viện cho chiến trường miền Nam từ năm 1962 đến năm 1972. Chuyến tàu đầu tiên cập bến Vàm Lũng an toàn có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thông đường Hồ Chí Minh trên biển, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước.

Lễ hội

Cà Mau là vùng đất trẻ mới được khai phá vào cuối thế kỷ XVII với dân số hình thành nhờ nguồn di dân tự do từ khắp các miền đất nước. Chính vì vậy, trên địa bàn Cà Mau hiện nay bên cạnh dân tộc Kinh còn có một số lượng khá lớn người Khơ Me, người Hoa, người Chăm và nhiều dân tộc khác cùng chung sống. Chính nhờ vậy các truyền thống văn hoá, lễ hội nơi đây có sự hài hoà giữa văn hoá các dân tộc. Ở Cà Mau , ngoài một số lễ hội chung của cả nước như Tết nguyên đán cổ truyền của người Việt, Hội Phật đản… còn có một số lễ hội mang tính chất vùng như lễ Cầu An (trước tết Châll Thmei), lễ hội vào năm mới (tết Châll Chơnan Thmei), lễ cúng trăng (lễ đút cốm dẹp) của người Khơ Me Nam Bộ, lễ hội Nghinh Ông. Lễ hội Vía Bà Thiên Hậu là một trong những lễ hội quan trọng của người Hoa nơi đây.

Có thể nói, lễ hội là dịp và là nơi phản ánh trung thực nhất đời sống tâm linh của con người nói chung và người Việt Nam nói riêng,  du khách sẽ có cơ hội hiểu rõ hơn về cuộc sống và con người nơi đây.

Các tài nguyên văn hoá khác

Các câu chuyện kể của Bác Ba Phi: Bác Ba Phi (1884-1964) là một tá điền nghèo nhưng tính tình vui vẻ, bộc trực, khảng khái và có tài kể chuyện. Các câu chuyện của ông luôn mang lại cho người nghe tiếng cười sảng khoái, trào lộng và đằng sau là những ý nghĩa sâu sắc về thiên nhiên, con người, cuộc sống… Nhà Bác Ba Phi tại ấp Đường Ranh, xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời, là điểm dừng chân được ưa chuộng cũng như những câu chuyện của Bác Ba Phi mà người dân nơi đây vẫn còn lưu truyền.

Chợ nổi Cà Mau hình thành giữa lòng thành phố Cà Mau, trên sông Gành Hào với hàng trăm chiếc ghe to nhỏ, đầy hàng hoá tấp nập bán mua. Chợ hình thành từ bao giờ không biết nữa nhưng mang đậm đặc trưng của vùng sông nước. Cùng với chợ nổi Cà Mau là biểu hiện của một nét văn hoá, một kiểu quần cư, một phong cách sống đặc sắc có một không hai trên thế giới của người Việt nơi đây. Trước kia chợ nổi nơi đây cũng như bao chợ nổi khác trong vùng, buôn bán đủ các loại mặt hàng thực phẩm, nhu yếu phẩm… Nhưng nay chợ nổi Cà Mau chỉ tập trung bán sỉ hàng hoá nông sản tươi, những rai trái miệt vườn. Cái vẻ đẹp lạ lùng, đặc trưng miền sông nước luôn hấp dẫn du khách từ mọi miền đất nước và cả các du khách quốc tế đến từ những vùng xa xôi trên Trái Đất.

10.5. Tên thị trấn chính gần nhất: U Minh, Ông Đốc, Năm Căn

10.6. Ý nghĩa văn hoá [Mô tả ngắn gọn tầm quan trọng giá trị văn hoá của khu dự trữ sinh quyển được đề cử (tín ngưỡng, lịch sử, chính trị, xã hội, dân tộc học)]

Cà Mau là một trong hai biểu tượng của sự thống nhất hoàn chỉnh Tổ quốc Việt Nam yêu quí của chúng ta: từ Lạng Sơn đến Cà Mau. Trong mỗi tấm lòng người Việt Nam từ Bắc chí Nam, không ai không nghĩ tới một ngày nào đó sẽ đến thăm mảnh đất liền ở cực Nam của Tổ quốc ta: Cà Mau – mũi Cà Mau. Là dải đất tột cùng của nước ta về phía Nam, tỉnh Cà Mau hiện ra rực rỡ trong mênh mông trời biển, buổi sáng trông thấy mặt trời mọc từ biển, buổi chiều trông thấy mặt trời lặn chìm xuống biển, sau lưng… ngày qua cũng là biển.

Cà Mau có đồng bằng phù sa phì nhiêu, có sông ngòi, kênh rạch dày đặc, có biển kề bao quanh ba phía. Thiên nhiên ở đây có một sức sống thật mãnh liệt, một vóc dáng cường tráng, hào phóng…“Rừng vàng biển bạc”. Cà Mau bao gồm cả hai thứ đó. Nhưng thiên nhiên ở Cà Mau còn đặt cho chúng ta rất nhiều câu hỏi cần phải giải đáp.

Thật là thú vị, nơi mảnh đất xinh đẹp này, từng ngày, từng giờ thiên nhiên không ngừng bồi đắp cho da thịt Tổ quốc thêm rộng ra, dài ra như sức vươn lên mãnh liệt của dân tộc này.

Theo truyền thuyết, người ta gọi khu rừng ngập mặn ở chót Mũi Cà Mau là “khu rừng biết đi”. Các cụ già kể lại rằng:

“Hồi xửa hồi xưa, vùng này là nơi Long Vương Thủy Tề thường cưỡi trên những lượn sóng thần làm ngựa đi dạo chơi; mũi Cà Mau thuở ấy còn ở xa mãi trên kia. Trên ấy là rừng tràm, bây giờ hãy còn đó, ta gọi là rừng U Minh. Thuở ấy, rừng U Minh còn đầy hổ, báo và ác thứ thú khác. Tất cả đểu kinh sợ một con hổi già và tôn nó là chúa rừng, vị con hổ này “tu” đã lâu năm và biết các phép biến hóa.

Một hôm, hổ chúa đi dạo bãi, tình cờ bắt gặp công chúa Thủy Tề, tức con gái vua biển, lên nằm tắm nắng trên bãi. Hổ chúa cảm sắc đẹp của nàng công chúa biển, sau đó đã cho cá sấu mang lễ vật xuống Long cung cầu hôn với Thủy Tề. Vua biển cả cười, trả lễ vật và nói rằng: “Công chúa là rồng, mà rồng vốn đứng đầu tứ linh, không thể gả cho cọp được”.

Chúa rừng tức giận vị câu trả lời trịch thượng, quyết tâm tìm cách trả thù. Vì không thể mang binh rừng đi đánh dưới nước được, hổ chúa cho lấp biển để bắt sống Long Vương. Dã tràng ngày đêm hì hục tha đất ra biển, nhưng năm này qua tháng nọ, công ấy chỉ là “công dã tràng”. Chúa rừng sốt ruột, sai chim đi lấy đá tận dãy Tà Lơn mang thả xuống giữa biển. Đến nay đàn nhạn biển vẫn kiên nhẫn rộng cánh đưa thoi trên đầu các ngọn sóng mà cũng chỉ nhú lên được có mấy hòn đảo con là Hòn Nhạn, Hòn Tre, Hòn Chuối, Hòn Đá Bạc, Hòn Khoai… Chúa rừng bèn làm phép cho rừng tiến ra biển.

Rừng tràm tiến cũng khá mạnh, nhưng để đối phó lại, Long Vương nổi lên một trận bão, thổi giạt qua rừng. Bao nhiêu tràm to đều đổ gục - Ngày nay, dưới nền rừng U Minh hãy còn những xác cây gần như nguyên vẹn nằm chồng chất ngổn ngang mà người địa phương gọi là thàm lụt - Hổ chúa quyết định dùng đến biện pháp cuối cùng. Nhờ có phép nhìn xa, từ lâu hổ chúa đã nhìn thấy tận những quần đảo xa mà ở hướng nam có một loại cây biết đi, và có sức chống trả lại với sóng gió, dông bão. Lấy nó để đánh nhau với vua biển thì có khả năng giành phần thắng. Song không thể nuốt trôi cái hận sỉ nhục, chúa rừng bèn cho đàn cá sấu khai một đường nước bọc quanh rừng, tách bãi biển ra khỏi đất liền, rồi huy động tất cả chim chác bay đi lấy quả của loại cây ấy về thả dài theo bãi. Đường nước ấy ngày nay đã trở thành dòng sông Ông Đốc rộng bao la bao bọc cả một phía rừng U Minh.

Quả lạ kia nảy mầm lên cây, cây lớn nhanh như thổi và bắt đầu tiến ra biển, vừa tiến vừa thả quả xuống cho mọc lên cây mới làm cho hàng ngũ ngày càng thêm dày đặc. Cây tiến tới đâu, dã tràng xe đất theo đến đó, bồi cho vững gốc và đẩy bãi tới trước. Biển không ngăn được phải lùi dần, lùi dần. Hàng năm, lợi dụng mùa mưa to, Thủy Tề đưa nước biển lên, toan đánh bạt cây trở lại. Nhưng loại cây này quả là lợi hại. Nước biển tràn lên chỉ lùa qua lớp rễ bắc cầu vồng trên không, bỏ ngỏ bên dưới, rồi lại rút về không mệt mỏi. Nhân cơ hội đó, cây này quả là lợi hại.

Nước biển tràn lên chỉ lùa qua lớp rễ bắc cầu vồng trên không, bỏ ngỏ bên dưới, rồi lại rút về không mệt mỏi. Nhân cơ hội đó, cây hút lấy chất phù sa tự bồi vào gốc, và còn buông những quả già rơi xuống theo nước mà đuổi ra tận biển. Khi nước rút, quả ấy ghim đầu ở lại trên bãi, nẩy mầm phóng lên một loạt cây trẻ. Lớp quả sau lại tiến xa hơn và cứ thế mà hình thành một khu rừng mới ấy đã tiến xa xuống hướng nam, bỏ cửa sông Ông Đốc lại phía sau vài chục cây số và đang vòng về phía tây như cố vít kín biển lại trong một vòng vây.

Cái mũi đất đó là mũi Cà Mau. Còn cái giống cây lạ ấy chính là cây Đước.”

(Sách: Đất nước ngàn năm, tập I, Nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội, 1974).

Lật bản đồ 10 năm trước kia ra, ta thấy mũi Cà Mau khác đã đành, mà hình chụp mũi Cà Mau từ máy bay xuống, năm năm về trước không giống với hình chụp mũi Cà Mau ngày hôm nay. Mỗi năm, trong chi tiết, ta có một mũi mới… Những bản đồ Việt Nam cũ đều vẽ mũi Cà Mau như cái móc. Hiện nay cái móc ấy gần như đã đầy đặn. Nghĩa là thêm đất, thêm rừng, thêm nguồn lợi thiên nhiên. Đất ở đây mọc ra không ngừng, như chồi măng của một gốc tre mạnh mẽ. Quả thật, mũi Cà Mau còn rất nhiều sinh lực, cứ tăng trưởng, không chịu định hình.

Đây là mảnh đất khó quên của khách du lịch, nơi mà họ có thể sáng tắm biển đông, chiều tắm Biển Tây. Không phải ngẫu nhiên đất nước ta lại có một cái mũi đất di động như vậy. Chính đặc điểm này làm cho các nhà địa chất rất thích thú.

Đối với đồng bào cả nước, đặc biệt đối với miền Bắc, Cà Mau – Cà Mau là biểu tượng của miền Nam xa xôi mà gần gũi, giàu có và anh hùng. Cà Mau là bước chân cuối cùng của ông cha ta đi chinh phục vùng đất hoang vu, mở mang bờ cõi. Những năm kháng chiến chống Mỹ, nhà văn Nguyễn Tuân viết: “Ở cái chốn cuối trời cuối đất Cà Mau, ở cái chỗ ngón chân cái Tổ quốc chưa khô bùn vạn dặm… Chỗ này đúng là cái quê hương bất diệt của những con người nếu chưa dũng sĩ diệt Mỹ thì chí ít cũng là hảo hớn từ bao năm…”. Nhà thơ Xuân Diệu thì coi đó là mũi thuyền của Tổ quốc.

“Tổ quốc tôi như một con tàu

Mũi thuyền ta đó – mũi Cà Mau”.

Đầu năm 1978, nhà văn, nhà báo Ba Lan, chị Monica Vacsnenxca, sau một lần đi thăm đầy xúc động vùng Đất Mũi, U Minh, chị nói: “Tôi rất sung sướng được đến thăm Đất Mũi, rừng U Minh để có được những hiểu biết mới, những ấn tượng mới trên tấm bản đồ Việt Nam… Bây giờ tôi đã biết rõ quang cảnh thiên nhiên ở vùng cực nam Tổ quốc thứ hai của tôi và đã hình dung được con người ở đó mạnh hơn kẻ địch thế nào, hiểu rằng thiên nhiên đã hợp lực với con người trong cuộc chiến đấu chống quân thù như thế nào và hiểu được sự nỗ lực của những con người ở đây đang khôi phục và làm cho thiên nhiên xanh tươi, giàu có hơn xưa…”

Trong suốt những năm dài kháng chiến, đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước, Cà Mau là dải đất thiêng liêng, là đihcs cuối cùng để giải phóng.

Ở đây, trái Đước già rụng xuống, nước cuốn đến đâu, mầm xanh mọc đến đó. Đước mọc thành từng khóm, từng vạc, rồi thành rừng. Và dẫu có dông bão thế nào, rừng Đước vẫn không lay chuyển. Cũng như thiên nhiên, con người ở đây gan góc lạ lùng, thông minh và hồn nhiên, thuần phác… Họ đã và đang dồi dào thêm sức sống truyền tiếp những lớp người khai mở đất Bạc Liêu, Cà Mau trước đây mà xây dựng cuộc sống mới Cà Mau hôm nay và mai sau.

Chúng ta đã từng biết lời Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên Nguyễn Hoàng khi ông này cho người về Hải Dương hỏi ý kiến: “Hoành sơn nhất đới, van đại dung thân”. Chuyến đi đầu tiên về hướng nam qua Hoành Sơn dưới sự thống lĩnh của Đoan quận công diễn ra từ năm Mậu Ngọ (1558). Cà Mau là bước chân cuối cùng của dân tộc ta đi chinh phục hoang vu, mở mang bờ  cõi.

Những người tiên phong khai hoang, mở đất thuở đó là ai vậy? Trước hết, đó là những con người khao khát sống tự do, không khuất phục cương quyền bạo lực, là những nạn nhân của cuộc tranh chấp đẫm máu kéo dài liên miên giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn, muốn tìm một đất sống yên thân; là những chiêu mộ của các nhà giàu có đưa vào khai hoang lập ấp, là những binh lính, tội đồ… tất cả những con người bỏ xứ rời quê từ thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi bất chấp cả thời tiết, gió mưa, băng ngàn vượt núi tiến vào Nam tìm nơi sinh cơ lập nghiệp, gọi chung là dân lưu tán.

Trong cuốn “Phủ biên tạp lục”, khi nói về gạo thơm, cơm dẻo của đất Gia Định, cụ Lê Quý Đôn còn cho biết: “Phủ Gia Định, đất Đồng Nai từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu, toàn là rừng rậm, hàng mấy ngàn dặm”. (Lê Quý Đôn toàn tập, tập I: Phủ biên tạp lục, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 1977, trang 345).

Về sau, khi ông cha ta đến làm ăn tận vùng ven biển Thái Lan, khi đó Nam Kỳ đã là đất Việt Nam, và thực dân Pháp đã đặt thêm nhiều tỉnh mới rồi mà vùng này vẫn còn khá hoang vu như được mô tả trong ca dao:

“U Minh, Rạch Giá, thị quá sơn trường

Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”.

Hoặc:

“Cà Mau khỉ khọt trên cây

Dưới sông sấu lội, trong rừng cọp đua”.

Cái cảnh khai hoang khổ cực như vậy mà vẫn có người đi thì chắc hẳn nơi chôn rau cắt rốn đã quá tồi tệ đến nỗi ngời dân không thể sống được nữa. Các chúa Nguyễn, trong cuộc nội chiến tương tàn với họ Trịnh Đàng Ngoài, đã thẳng tay vơ vét xứ Đàng Trong. Đó là thời kỳ ruỗng nát cùng cực của chế độ phong kiến Việt Nam, ở Đàng Ngoài cũng như ở Đàng Trong.

Việc biến những khu rừng bạt ngàn âm u, những cánh đồng hoang cò bay thẳng cánh, đầy thú dữ, ngập phèn và nhiễm mặn… thành những đồng lúa phì nhiêu, thành vùng xuất cảng gạo nổi tiếng ở nước ta vào những chục năm đầu của thế kỷ 20 chính là công sức của nhiều thế hệ người Cà Mau. Nghĩa là ngay từ buổi đầu, người Cà Mau đã can đảm vật lộn với thiên nhiên để tạo thành và duy trì một nơi sinh sống khá lý tưởng như ngày nay. Đó là tính cần cù, dũng cảm mà ca dao, tục ngữ luôn ca tụng:

“Buông dầm cầm chèo,

Chịu khó mới có ăn.

Mặt trời sắp hé rạng đông,

Anh ơi thức dậy ra đồng kẻo trưa…”

Rõ ràng những người Việt đầu tiên đến đất Cà Mau là người gan dạ, mạo hiểm, “cứng đầu”, “cứng cổ”. Sách “Đại Nam nhất thống chí” đã ghi lại được những nét cụ thể, tuy có nhiều cái chưa phải thuộc về bản chất: “Thói thường chuộng khí tiết, trọng nghĩa, khinh tài. Kẻ sĩ đọc sách, thường lấy việc minh lý làm đầu, nhưng vụng về lời văn. Dân cày chăm lo công việc đầu mùa và cấy mạ, sau đó không còn săn sóc gì nữa, mùa được hay mất thì đều tùy ở trời; bá công kỹ nghệ còn thô sơ, đồ dùng thì mộc mạc mà bền. Khách buôn bán lớn đều từ xa đến, người địa hương chỉ buôn bán nhỏ, chuyển từ chỗ nhiều đến chỗ ít, giúp vào cuộc sống hàng ngày mà thôi. Đất nhiều sông rạch, ai cũng biết bơi lội. Người đủ bốn phương. Mỗi nhà có tập tục riêng…”

Ruộng đất là tư liệu sản xuất chính trong nông nghiệp. Người nông dân Cà Mau có đầy đủ những điều kiện để sống một cuộc đời no đủ, hạnh phúc, tất nhiên không ỷ nại vào thiên nhiên mà phải làm cật lực, phải luôn sáng tạo, tìm cái mới, theo quan niệm hôm nay. Đất đai nhiều và màu mỡ, ánh sáng chan hòa, mưa thuận gió hòa, sông nước giàu tôm cá, trên rừng nhiều gỗ củi, chim muông và thú quý… Thế nhưng trước đây, nhất là trước năm 1945, người nông dân Bạc Liêu – Cà Mau sống hết sức cơ cực.

Những năm 1938 -1939, nạn đói đe dọa nhiều gia đình, trong khi các lẫm lúa của bọn địa chủ đầy ắp lúa. Rất dễ hiểu, tới mùa, lúa nộp hết cho địa chủ, cho chủ nợ, người nông dân đành phải đi nơi khác sinh sống bằng nghề làm ruộng dạo (một hình thức du canh), làm mướn bằng những nghề phụ khác hoặc là tiếp tục nài nỉ chủ ruộng lãnh canh thêm một ít công ruộng nữa cho mùa tới. Thật là trớ trêu, ở một nơi ruộng thì nhiều mà không có đất dung thân, thiếu chén cơm đầy. Miếng cơm, manh áo còn chưa đủ no, đủ ấm thì còn nói gì đến nhà cửa, nói gì đến học hành. Họ sống bằng những căn nhà xiêu vẹo, không cửa, gọi là “nhà đã, nhà đạp” nghĩa là dựng lên đó, ở lại đó, nhưng nếu không chịu nổi áp bức, không chịu nổi bóc lột thì họ đá đi, đạp đi, đến nơi khác mà ở, tìm cuộc sống tự do. Trong nhà là bộ vạc tràm con, Đước con, hoặc sậy bện bằng dây choại, trải chiếu, trải đệm, chiếc mùng bằng bố tời, hoặc bằng thứ chỉ thô mà nhiều khi không được lành. Đàn bà, con gái thiếu cả quần áo, không ít người chỉ có một chiếc quần cụt… Trong nhà chỉ một hai cái lu bể chứa nước ngọt để dùng. Đó là chưa kể ốm đau, trẻ em thất học. Cho nên chúng ta không lạ gì, sau ngày giải phóng, Cà Mau phải phát động một thời gian khá dài thanh toán nạn mù chữ cho người lớn tuổi và mở nhiều trường trại cho thanh thiếu niên.

Dù có được thiên nhiên đặc biệt ưu đãi - nhưng thật ra, vùng lúa và cây trái Cà Mau hình thành được như ngày hôm nay là trải qua biết bao nhiêu nước mắt, mồ hôi và cả máu nữa của nhiều thế hệ người – và khả năng lao động cần cù, nhưng chưa có một chế độ tốt đẹp thì người nông dân đói khổ vẫn hoàn đói khổ. Muốn hiểu con người Cà Mau thì phải xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế và xã hội của họ.

Con người Cà Mau đã làm việc và làm “chết bỏ”, làm xong là nghỉ chứ không lề mề. Đồng tiền làm ra tương đối dễ cho nên trong việc ăn tiêu ít đắn đo, tính toán.

Con người Nam Bộ, con người Cà Mau thật thà, thẳng thắn, hào hiệp phóng khoáng, giàu ước mơ, sáng tạo, thủy chung, trái tim để trên lòng bàn tay. Họ không rào đón, không màu mè trong câu văn, trong lời nói và cả trong nếp suy nghĩ. Thường nóng nảy nhưng lại rất biết phục thiện. Họ rất mực thương người với đặc trưng là hào hiệp, không bị ràng buộc tập tục phong kiến. Họ rất quý trọng tình bạn và chơi với bạn “hết mình”, không hề vụ lợi. Họ ghét sự phụ bạc, sự phản bội trong quan hệ đối với đất nước, nhân dân, cũng như trong quan hệ gia đình, bạn bè. Đây là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, nên trước đây, họ quan niệm rằng “làm lai rai cũng đủ ăn, đi tới đâu cũng không chết đói, hễ ăn ở có “điệu nghệ” (tinh thần mã thượng) thì không cô độc và luôn luôn gặp bạn tri âm (tứ hải giai huynh đệ); chuyện gì nhỏ nhặt thì bỏ qua, chuyện nào bất bình thì giải quyết gấp…”

Có thể nói người Cà Mau ít sách vở, ít chịu câu thuc bởi những tín điều, những quy luật trái với tự nhiên. Họ yêu đời, thiết tha với cuộc sống, lạc quan ngay trong thiếu thốn, khó khăn, họ thất cần và có thể tìm những lời giải đáp cho cuộc sống trong chính ngay trong cuộc sống…

Chúng ta dễ dàng gặp những người bạn nhà chỉ còn con gà mái ấp, anh chẳng ngại làm thịt để đãi người bạn tri âm buổi trưa gè băng đồng đến thăm anh. Nhà không có gà vịt, anh xoay sang mượn đỡ hàng xóm. Củi lỡ thiếu anh dỡ vách nhà chum cho nồi cháo mau chín, cũng là để mau có than nướng miếng thịt nhậu cho ngon miệng…

Sách Gia “Định thành thông chí” viết: “Có người khách đến nhà, đầu tiên gia chủ dâng trầu cau, sau dâng tiếp cơm, bánh, tiếp đãi trọng hậu, không kể người thân sơ, quen lạ, tông tích ở đâu ắt đều thâu nạp khoản đãi, cho nên người đi chơi không nên đem theo tiền gạo; mà lại có nhiều người trốn xâu, lậu thuế đi đến chỗ này ẩn nấp có chỗ để dung dưỡng thân vậy…” (Quyển 4, trang 12).

Nhưng cái làm cho người ta cảm phục nhất là lòng yêu nước nồng nàn, phẩm chất anh dũng tuyệt vời, dám xả thân bảo vệ Tổ quốc, quê hương, bảo vệ lý tưởng cao đẹp của mình. Đây là điểm cơ bản sâu sắc, phổ biến đến những kẻ thù chuyên xuyên tạc, vu cáo cũng không thể phủ nhận. Lòng yêu nước hầu như là bản tính của mọi lớp người, mọi lứa tuổi. Khi một bà má Năm Căn vuốt mắt con trai vừa ngã xuống, và an ủi: “Con ơi, con đã làm tròn nghĩa vụ với nước, hãy yên lòng mà nghỉ nghe con”, rồi cho đứa con khác vào bộ đội, khi một bà má Vĩnh Châu dặn hai cháu nội đến giao cho đơn vị để chúng nó được đi đánh bọn bành trướng Trung Quốc (Báo Nhân Dân, số ra ngày 09 - 04- 1979. Trích lại cuốn Đồng bằng sông Cửu Long của Phan Quang).

Thật là những con người biểu hiệ sáng tỏ đạo đức cao nhất của người Việt Nam – con người không bao giờ lùi bước trước trở ngại thiên nhên cũng như chẳng luồn cúi, khuất phục trước sức mạnh phi nghĩa:

 

“Trời xanh, cây cứng lá dai,

Gió lay mặc gió, chìu ai ta chẳng chìu”

Sự kiện Đồng Ngọc Nạn là cái mốc, cái nét đậm đánh dấu cuộc đấu tranh của nông dân chống lại bọn thực dân, địa chủ cướp đoạt ruộng đất. Đó là cuộc đấu tranh giữa một bên gậy gộc, giáo mác với một bên là súng đạn và luật lệ bất công được thực dân Pháp bảo vệ. Cuộc đấu tranh tuy đổ máu, nhưng thắng lợi thuộc về những người nông dân can đảm, không chịu sống quỳ. Nói tới mảnh đất Cà Mau là nói tới biết bao tên người anh hùng quyện với tên đất để đi vào lịch sử qua bao thế hệ nối tiếp.

Những câu chuyện của Bác Ba Phi:

Chiếc tàu rùa: “Mùa khô năm đó, túng tiền xài, tui mới nghĩ ra một cách bát rùa để chở ra chợ Sông Đốc bán. Tà nhà dương Tư nó, tui mượn một chiếc ghe cà đom chở những năm trăm giạ lúa, chống vô Lung Tràm, đậu cặp mé phía dưới gió, cặm sào 2 đầu cho thật chắc. Tui còn kéo tấm đòn dày bắc thẳng lên bờ. Làm xong, tui đi còn phía trên gió nổi lửa đốt một hàng dài. Mùa khô ở đây, cỏ ngập tới lưng quần, dễ làm mồi cho lửa lắm. Lửa bắt đầu bốc ngọn, tui lội trở về chỗ đậu ghe, ngồi chờ. Độ chừng hút tàn điếu thuốc, tui thấy rùa đã bắt đầu bò xuống lai rai. Lửa phái trên gió bắt vào sậy, cháy nổ lốp bốp.

Rùa bò xuống mỗi lúc một nhiều. Tốp chạy trước chác còn hơi hưỡn nên chúng sắp thành hàng một, nối đuôi nhau bò tới. Con nào cũng cố lên cao, lửa cháy nà nà xuống, tốp sau hoảng hồn kéo chạy dồn đống, không còn trật tự gì nữa, rùa vàng, rùa nắp, rùa quạ, rùa hôi, rùa dém… dồn tới từng bầy, cứ theo cây đòn dày, ùa đại xuống ghe. Giống rùa là chúa sợ khói lửa. Chúng chạy bằng ba chân, còn một chân trước đưa lên che mặt. Con nào cũng nước mắt nước mũi choàm ngoàm.

Thấy chừng tràn xuống quá xá, tui ngồi gần cây đòn dài, coi con nào lớn thì cho đi, con nào nhỏ cứ bạt tay một cái là lọt xuống sông. Một hồi rùa xuống đầy ghe, tui nhổ sào banh, rút đòn tay, chống luông ra chợ. Nhưng khổ nỗi, số rùa nhỏ bị rớt xuống nước cứ bấu theo hông ghe kết thành bè. Một tay chúng bấu vào ghe, còn ba chân thì đạp nước, theo trớn ghe đi tới, Chiếc ghe bị rùa đẩy chạy tới ào ào. Tui thấy vậy cười khà, ngồi phía sau kềm lái, mở gói thuốc ra hút phì phèo.

Ra tới gần chợ sông Đốc, tui bỗng  nghe mấy người đàn bà bên kia sông la chói lói:

“Xuồng chở lúa khẳm lắm. Tàu làm ơn tốp máy lại chút nghen!”

Thật hết phương, chỉ còn ngồi lắc đầu chịu chết. Tui khoát tay: “Mấy bà con cảm phiền ép xuồng sát bờ giùm chút đi! Tui tốp máy hổng được. Chiếc tàu rùa!”

Cọp xay lúa: “Xứ rừng này hồi mới khai mở, đêm nào cọp cũng vô xóm rình mồi, nó kêu “à uôm” nghe như tiếng con ễnh ương gặp mưa vậy. Có bà Tám ở xóm trên, đêm ngủ ngoài bụi ráng vì buổi chiều đó bà uống rượi ở đám giỗ xóm dưới, say quá không về tới nhà. Sáng ra, bà bị liếm cái đầu trọc lóc như trái bưởi. Hai đứa con thằng Tư Mít, cha mẹ đi làm, bỏ chúng trên sàn gác, gặp cọp vô nhà chơi hoài. Chúng nó vắt cơm cháy, thảy xuống cho cọp ăn. Ăn quen, lần đó thằng Tư Mít núp trên sàn gác, đốt đỏ cái ống ngoáy trầu của bà rồi nhảy xuống. Cọp hả họng ra hứng liền. Lần ấy con cọp bị phỏng miệng, nó chạy la vang rừng suốt mấy bữa.

Có một đêm, tui cũng đang ngủ trên sàn gác, khoảng gà gáy hiệp ba, bỗng nghe con heo khoảng một tạ ngoài chuồng kêu ét ét. Biết là “ông ba mươi” đến viếng rồi. Tui liền xách cây mác thong phóng xuống, đuổi theo. Rượt đến sáng mới giựt lại được xác con heo, tui vác về. Để con heo đó lum khum nhóm lửa nấu cơm, tui bỗng nghe tiếng động rẹt trong lùm ráng, Liếc mắt nhìn qua, tui thấy rõ ràng là “anh ta”. Vì hụt mất miếng mồi ngon nên con cọp ức, trở lại rình mò. Đó là một con cọp cái bụng đang có chửa. Tui thấy nó ngồi nhìn xác con heo mà thèm đến nhễu nước miếng.

Không ăn được thịt heo, con cọp đâm ra thù tui.

Trưa bữa sau, hai vợ chồng tui khiêng cối ra xay lúa. Cái giằng xay, tui làm bằng cây trâm suồi, thịt gỗ thật dẻo. Đang xay lúa ồ ồ, tui lại cũng nghe sau bụi ráng có tiếng rột rẹt. “Giống cái con cọp này thù vặt lâu quá!” - Tui nói trong bụng: “Bữa nay bắt mày xay lúa một trận cho biết tay!”. Tui kêu vợ tui xúc sẵn hai chục giạ lúa để gần bên cối xay đó. Vừa xay, tôi vừa liếc chừng vô bụi ráng, giả bộ như không hay biết gì. Chờ lúc cọp nhảy ra phủ đầu, tui hụp xuống, trịch ngang. Hai bàn tay cọp bấu tám móng cứng ngắc vào cán giằng  xay. Sẵn trớn cá cối đang quay, con cọp kéo lui hết vòng thì bị cái cối theo quán tính quay tới, mà hễ cái cối quay tới hết vòng thì bị con cọp ghị lui. Cứ như vậy mà con cọp theo đà cối quay đẩy tới kéo lui hoài… Tui đứng một bên, cứ xúc lúa châm vô cối liên tục.

Đến lúc con cọp xay hết hai chục giạ lúa, tui kêu vợ tui vô bồ xúc thêm lúa nữa. Thấy con cọp có chửa nên động lòng thương, vợ tui biểu thôi tha cho nó. Tui nắm tay cối xay ghìm mạnh lại cho dừng trớn quay. Con cọp bị hụt đà, vuột tám móng ra khỏi cán giằng xay, chúi đầu về phía trước. Nó lồm cồm ngồi dậy, mệt thở hết muốn ra hơi, bỏ đi vào rừng. Không tin thì hỏi bả thử coi!”

11. ĐẶC ĐIỂM TỰ  NHIÊN

11.1. Đặc trưng về vị trí và địa lý của khu vực:

[Mô tả ngắn gọn những địa hình đặc trưng (như đầm lầy, khu vực núi, cồn cát, đụn cát v.v) loại hình nào mang tính chất điển hình cao nhất cho phong cảnh khu vực đó.]

11.2. Địa hình

11.2.1. Nơi cao nhất so với mặt nước biển: ___13___m

11.2.2. Nơi thấp nhất so với mặt nước biển: ___0___m

11.2.3. Đối với khu vực bờ biển/ hoặc vùng biển, độ sâu sâu nhất đo được tại lúc mực nước biển trung bình: ___6,5___m

11.3. Khí hậu:

[Mô tả ngắn gọn khí hậu của khu vực và sử dụng thống nhất hệ thống phân loại khí hậu.]

11.3.1. Nhiệt độ trung bình của tháng nóng nhất: 39,5 oC

11.3.2. Nhiệt độ trung bình của tháng lạnh nhất: 23,3 oC

11.3.3. Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.787 mm, thu được tại độ cao 12 m.

11.3.4. Nếu một trạm khí tượng tại hoặc gần khu dự trữ sinh quyển được đề cử, chỉ ra số liệu khi hậu ghi đưa ra được thu thập và ghi lại từ năm nào:

a) được điều khiển bằng tay: .... ................

b) được điều khiển tự động: .......x..............

c) Tên và vị trí của trạm khí tượng: ...Cà Mau.................

11.3. Địa chất, địa mạo, đất:

[Mô tả ngắn gọn những sự hình thành quan trọng và các điều kiện bao gồm nền tảng địa chất, khoáng sản trầm tích và các loại đất quan trọng.

I. ĐỊA TẦNG

GIỚI MESOZOI –TRIAS

Hệ tầng Hòn Ngang (T hng )

Các đá phun trào felsic xen các lớp mỏng sét - silic phân bố trên đảo Hòn Buông và Hòn Chuối trước kia được các nhà địa chất Pháp xếp vào Đevon - Cacbon hạ. Trên Bản đồ địa chất Việt Nam 1:500.000 chúng được xếp vào hệ tầng Đaklin (C3-P1 dl). Năm 1990 các tác giả Bản đồ địa chất 1:200.000 loạt tờ Sài Gòn xếp vào hệ tầng Hòn Ngang dựa theo tên do H. Fontaine đưa ra năm 1969.

Thành phần các đá của hệ tầng Hòn Ngang vùng Cà Mau gồm ryolit porphyrit, đá silic, sét, đôi chỗ có chứa vôi, cát sạn kết tụ. Đá phun trào ryolit có kiến trúc porphyrit với nền vi felsit, cấu tạo khối tới phân dải yếu. Các ban tinh 8 - 10% là thạch anh; 3 - 5% là felspat kali, 2 - 3% là plagioclas một ít horblend. Nền chủ yếu là felspat, thạch anh, một ít vẩy biotit.

Tại Hòn Buông quan sát thấy trong đá phiến silic-sét chứa vôi có phát triển một đới (bề ngang vài mét) skarn pyroxen chứa scapolit là sản phẩm của quá trình biến chất trao đổi giữa xâm nhập granit kiểu Hòn Khoai và đá sét chứa vôi.

Về thạch hóa một mẫu silicat cho thấy các đá phun trào ở đây rất giàu silic (SiO2 = 74,88%), nghèo kiềm (Na2O + K2O = 4,78%), natri trội hơn kali và tương đối giàu vôi. Trước đây Trần Huỳnh Anh (1969) có phân tích một mẫu tro núi lửa ở Hòn Buông có thành phần SiO2 = 68,4% ứng với ryođacit. So với các đá phun trào ở quần đảo Bà Lụa chúng có những đặc điểm tương đồng nên được xếp vào hệ tầng Hòn Ngang tuổi Trias giả thiết. Bề dày thấy được khoảng 50 m.

GIỚI KAINOZOI –NEOGEN-Pliocen hạ

Hệ tầng cần Thơ ( N21ct )

Hệ tầng được xác lập trên cơ sở nghiên cứu địa tầng lỗ khoan 8 tại khu vực gần sân bay Cần Thơ. Trên phạm vi tờ Cà Mau các thành tạo được xếp vào hệ tầng Cần Thơ chỉ gặp trong các lỗ khoan ở độ sâu 200 m trở xuống. Đoạn mặt cắt phân bố ở độ sâu 243,5 – 325 m trong lỗ khoan 215A tại thị xã Cà Mau cho thấy  như sau:

-       Tập 1 (325 - 280,8 m): Sét bột màu trắng loang lổ đỏ nâu, đỏ tím cấu tạo khối, kết cấu rắn chắc. Trong thành phần khoáng vật sét ngoài kaolinit chiếm chủ yếu còn có ilit. Trong tập này ở độ sâu 280 – 298 m tìm thấy tập hợp tảo nước mặn, nước lợ, nước ngọt. Bào tử phấn hoa tập trung ở độ sâu 290 – 300 m với các dạng Rhizophora sp, Betula sp, Fagus sp chiếm ưu thế. Độ dày 44,2 m.

-       Tập 2 (280,8 - 258,0 m): Cát lẫn ít sạn sỏi và không nhiều bột (5 - 10% ), màu xám trắng, xám vàng loang lổ đỏ nâu. Thành phần khoáng vật tạo đá: thạch anh chiếm đa số, một ít mảnh đá, một ít felspat. Khoáng vật phụ: biotit ; khoáng vật nặng chủ yếu là ilmenit, ít tuamalin và leucoxen, không nhiều laterit, phần còn lại là granat, rutil, epiđot với hàm lượng không đáng kể. Dày 22,8 m.

-       Tập 3 (258-243,5 m): Sét pha bột màu xám trắng loang lổ đỏ, nâu vàng, vàng rơm, cấu tạo khối, kết cấu rắn chắc. Về thành phần khoáng vật sét, kết quả xác định rơnghen và nhiệt DTA cho thấy kaolinit chiếm ưu thế, ilit không nhiều. Dày 14,5 m. Trong tập này hoá thạch rất nghèo, chỉ phát hiện bào tử phấn hoa ở độ sâu 245 m với các đại diện: Pinus, Podocarpus. Tậ

-       p trầm tích này hình thành trong môi trường sông hồ và có thể xếp vào thời kỳ Pliocen sớm. Tập này bị hệ tầng Năm Căn ( N22 nc) phủ không chỉnh hợp lên. Bề dày chung của mặt cắt là 81,5 m.

PLIOCEN THƯỢNG

Hệ tầng Năm Căn (N22 nc)

Hệ tầng được xác lập trên cơ sở nghiên cứu mặt cắt lỗ khoan 216 tại thị trấn Năm Căn thuộc huyện Ngọc Hiển tỉnh Minh Hải.

Mặt cắt (255 – 165 m) được chia làm 4 tập:

-       Tập 1: (255 - 243,5 m): Cát (70 - 80%), sạn sỏi (5% - 7%), bột (5 - 10%), sét (4-5%), ít mảnh vỏ sinh vật biển. Trầm tích có màu xám, xám vàng, dạng gần bở rời không phân lớp. Thành phần khoáng vật tạo đá gồm: Thạch anh 60 - 70%, mảnh sét 10 - 15%. Khoáng vật nặng chủ yếu là ilmenit (80 - 90%) . Độ chọn lọc khá tốt (S0 = 1-2), phân tuyến tốt (Sk = 1 ), đường kính trung bình Md = 0,1-0,3 mm, mật độ khe nứt tại điểm đo, độ mài mòn tốt (Q gần bằng 2,5), độ cầu (P) tốt. Bề dày 11,5m.

-       Tập 2 (243,5 - 232,5 m): Sét (70-80%), bột (20 - 30%), cát không nhiều. Trầm tích có màu xám phớt vàng, cấu tạo khối rắn chắc, chứa tảo nước mặn. Dày 11 m.

-       Tập 3 ( 232,5 – 190 m ): Cát hạt mịn màu xám tro phớt vàng, xen ít lớp bột màu xám nau phớt hồng.  Phần dưới cử tập chứa nhiều vụn thực vật thân cỏ hóa than, ít mảnh vỏ sinh vật biển bị vôi hóa. Khoáng vật thạch anh chiếm đa phần (70 - 80%), các mảnh sét (10-20%),  ít felspat tập trung ở phần trên. Khoáng vật nặng có ilmenit (80%), chuyển lên trên có tuamalin và các mảnh laterit. Bề dày 42,5m.

-       tập 4 (190 – 165 m): Chủ yếu hạt mịn gồm: sét (50-60%), bột (10 - 20%), cát (5-10%). Trầm tích có màu xám phớt xanh, phân lớp mỏng (1-2mm), trong mặt lớp tập trung nhiều cát hạt mịn. Bề dày 25 m. Bề dày chung của mặt cắt là 90 m.

-       Hoá thạch gặp phổ biến bao gồm:

-       Foraminifera có mặt rải rác trong suốt mặt cắt với số lượng tương đối nhiều, nhưng không xác định được giống loài chỉ đạo.

-       Tảo Diatomeae gặp tập trung ở phần trên của mặt cắt (đoạn 165 -190 m). Trong tập hợp tảo có nhóm Chrysophyta chiếm số lượng lớn với sự phong phú và đa dạng về giống loài. Trong số này đáng chú ‎ý là các loài thuộc đới Discoaster brouweri. Theo Đặng Đức Nga đới này phát triển cực thịnh (đới cực thịnh) vào giai đoạn cuối của Pliocen muộn và nhanh chóng bị tuyệt chủng.

Căn cứ vào các đặc điểm trầm tích và cổ sinh, hệ tầng Năm Căn có thể xếp vào nguồn gốc biển nông ven bờ với tuổi Pliocen muộn.

ĐỆ TỨ

Phần trên Pleistocen hạ

Hệ tầng Cà Mau, trầm tích biển (mQ13 cm)

Trên cơ sở nghiên cứu đoạn mặt cắt từ độ sâu 96,7 - 171,4 m trong lỗ khoan 215A tại thị xã Cà Mau.

-       Trên vùng đo vẽ hệ tầng Cà Mau chỉ gặp trong các lỗ khoan từ độ sâu 90 m trở xuống. Thành phần trầm tích chủ yếu là hạt mịn gồm sét bột, cát mịn xen nhau, phần đáy có ít cuội sạn, phân lớp mỏng đến vừa, màu xám tro xám xi măng trong đó có chứa nhiều tàn tích thực vật hóa than bùn và các mảnh vỏ sò điệp. Trong mặt cắt phân bố khá đều và tập trung một phức hệ Foraminifera phong phú và đa dạng (trên 50 giống, loài). Đáng kể hơn cả có: Globoqua dutextrei, Eponides sp, E. ambonatus, Elphydium sp, Ammonia sp, A. beccarii,    A. japonica, Bolivina sp, B. subtreticulata, B. robusta… Ngoài ra còn phát hiện được các tập hợp bào tử phấn hoa khá phong phú với sự có mặt đông đảo của Rhizophora sp, Euphorbiaceae gen. sp, ít hơn có Sonneratia sp... Trong phần cao của mặt cắt có các tập hợp Tảo nước ngọt và nước mặn xen kẽ nhau.

-   Các đặc điểm thạch học và cổ sinh cho thấy trầm tích được thành tạo trong môi trường biển nông ven bờ tới vũng vịnh, nơi thường xuyên  chịu ảnh hưởng của sự thay đổi chế độ dòng chảy.

-   Bề dày trầm tích trong lỗ khoan 215A Cà Mau đạt 74,7 m. Hệ tầng phủ bất chỉnh hợp lên bề mặt bào mòn của hệ tầng Năm Căn (N22 nc), về phía trên chuyển tiếp lên hệ tầng Long Toàn.

Pleistocen trung - thượng

Hệ tầng Long Toàn, trầm tích biển (mQII-III lt )

Các trầm tích được xếp vào hệ tầng Long Toàn trên phạm vi vùng đo vẽ gặp phổ biến trong các lỗ khoan ở độ sâu 50 m trở xuống. Việc nghiên cứu các mặt cắt địa chất trong lỗ khoan 215A Cà Mau (57,5 - 96,7 m) và lỗ khoan 216 Năm Căn (61,2 – 118 m) cho thấy thành phần trầm tích của hệ tầng chủ yếu là sét, bột, một ít cát hạt mịn, ít sạn sỏi ở phần đáy. Trầm tích phân lớp mỏng, vừa có sự xen kẽ thay đổi giữa bột, sét, cát, màu xám đen, xám sẫm và phần gần trên cùng màu loang lổ nâu đỏ (do bị phong hóa laterit). Rải rác trong mặt cắt gặp nhiều mảnh thân cây hóa than bùn và nhiều vỏ sò ốc bảo tồn tốt. Các hoá thạch Foraminifera, bào tử phấn hoa gặp thường xuyên với số lượng lớn và phong phú về giống loài. Trong lỗ khoan 215A Cà Mau những dạng Foraminifera nhiều hơn cả là: Ammonia annectens, ít hơn có Asterorotalia pulchella, A. subtrispinosa, Elphidium sp.

Bào tử phấn hoa hết sức phong phú và đa dạng, đặc biệt là các đại biểu rừng ngập mặn chiếm ưu thế như: Rhizophora sp., Sonneratia sp., Euphobiaceae gen. sp..

Bề dày trầm tích thay đổi từ 40 – 70 m với xu thế tăng dần về phía đông nam. Hệ tầng có quan hệ dưới có nơi là chuyển tiếp, có nơi lại nằm trên bề mặt xâm thực của hệ tầng Cà Mau (mQI3  cm), phía trên bị các trầm tích hệ tầng Long Mỹ (mQIII3 lm) phủ không chỉnh hợp lên.

Pleistocen thượng

Hệ tầng Long Mỹ, trầm tích biển (mQIII3 lm)

Hệ tầng Long Mỹ chỉ thấy trong lỗ khoan từ độ sâu 20 m trở xuống. Thành phần trầm tích qua mặt cắt cụ thể trong lỗ khoan 211 (23,0- 52,0m) từ dưới lên như sau:

-       Tập 1 (52,0 - 43,0 m): Sét bột pha ít cát màu xám trắng vàng loang lổ đỏ (các ổ , vệt oxyt sắt ). Dày 9 m.

-       Tập 2 (43,0 - 41,0 m): Sét bột cát màu xám trắng, nhiều vệt vàng nâu. Dày 2 m.

-       Kết quả phân tích độ hạt cho thấy: sét 53%, bột 23%, Cát 24%. Khoáng vật tạo đá: thạch anh 16%, mảnh vụn đá 3%, felspat 1%, siderit 4%. Khoáng vật nặng: ilmenit 43,6%, tuâmlin 41,86%, ziacon 6,1%, leucoxen 7%, rutil 1,5%.

-       Tập 3 (41,0 - 28,5 m): Sét, bột, cát màu tím, vàng nhạt, loang lổ , phân lớp xiên. Dày 12,5 m. Tỷ lệ thành phần: Sét 49%, bột 35%, cát 16%.

-       Tập 4 (28,5 - 23,0 m): Sét, bột, cát màu vàng nhạt, loang lổ xám trắng, phân lớp xiên, mặt lớp tập trung nhiều cát hạt mịn, trên mặt có nhiều kết vón laterit rắn chắc dạng méo mó. Dày 5,5 m.

Bề dày chung của mặt cắt là 29,0 m.

Ở độ sâu 31 m (tập 3) có di tích Tảo nước mặn Centrophyceae. Foraminifera gặp khá phổ biến ở phần cao của mặt cắt với các dạng: Ammonia sp, Cornuspiroides oinomicadri, Amphistegina lessonii, Rotalia niponica, Robulus magi, Eponides orientalis, Pseudorotalia schroeteriana. Các đặc điểm trầm tích và cổ sinh cho thấy môi trường thành tạo thuộc vùng biển nông ven bờ. Hệ tầng Long Mỹ nằm không chỉnh hợp lên bề mặt bào mòn của hệ tầng Long Toàn (mQII-III3 lm), về phía trên bị các trầm tích Holocen phủ không chỉnh hợp.

Holocen trung

Hệ tầng Hậu Giang, trầm tích biển (mQIV2 hg)

Trên vùng Cà Mau chỉ gặp trong các lỗ khoan ở độ sâu 4 – 5 m trở xuống. Thành phần trầm tích chủ yếu là cát, bột sét với hàm lượng thay đổi tuỳ theo điều kiẹn môi trường cổ. Từ  mũi Cà Mau tới U Minh hạ chủ yếu là sét, bột. trầm tích có màu xám sẫm, xám tro, đôi chỗ phân lớp mỏng.

Trong hầu hết các lỗ khoan nông ở Cái Nước đều phát hiện được các tập hợp Foraminifera hết sức phong phú. Ngoài ra Tảo nước mặn và các phức hệ Bào tử phấn hoa rừng ngập mặn (Rhizophora, Sonneratia…) cũng gặp rất phổ biến.

Vùng nghiên cứu vào thời kỳ Holocen trung thuộc diện biển nông ven bờ. Bề dày trầm tích thay đổi từ 15 – 30 m, với xu thế tăng dần về phía nam tây nam. Hệ tầng Long Toàn phủ bất chỉnh hợp  lên bề mặt bào mòn của hệ tầng Long Mỹ (QIII3 lm). Về phía trên chuyển lên các trầm tích trẻ hơn.

Holocen trung- thượng, phần trên

Trầm tích sông- biển (amQIV2-32)

Lộ trên mặt và trong các lỗ khoan gặp phổ biến ở độ sâu 1 – 2 m trở xuống. Hệ tầng bao gồm: Sét, bột màu xám, xám phớt nâu chứa ít tàn tích thực vật và các mảnh vỏ sò ốc. Trong mặt cắt gặp phong phú Foraminifera: Ammonia sp, A. annectens, Asterorotalia pulchelia, A. multispinosa. Các bào tử phấn hoa gồm: Rhizophora sp., Sonneratia sp., Cystopteris sp., Lygodiaceae, Polypodiaceae, Palmae. Bề dày trầm tích thay đổi 10-15 m.

Holocen thượng, phần dưới

Vùng Cà Mau tồn tại  trầm tích sông - biển. Chúng phân bố suốt từ Bạc Liêu qua Gia Rai tới Cà Mau, Cái Nước ở dạng đồng bằng bằng phẳng bị chia cắt bởi mạng lưới kênh rạch chằng chịt.

Thành phần trầm tích chủ yếu gồm sét, bột màu xám phớt vàng, sét cát màu xám tro bị nhiễm phèn, mặn, chứa di tích Foraminifera . Bề dày trầm tích thay đổi 2 – 4 m, có xu hướng tăng dần về phía nam tây nam.

Holocen thượng, phần trên

Được chia thành 4 kiểu nguồn gốc (biển, biển - đầm lầy, đầm lầy, sông - đầm lầy) với quan hệ chuyển hướng.

-      Trầm tích biển (mQIV32) phổ biến dưới dạng các bãi triều dọc theo bờ biển hiện tại. Chúng phát triển mạnh ở đoạn từ cửa Bồ Đề tới Vĩnh Châu, không nhiều ở mũi Cà Mau và không đáng kể dọc bở biển phía tây từ Đá Bạc tới mũi Ông Trang.

-      Thành phần trầm tích chủ yếu là cát, bột, sét màu xám sẫm lẫn nhiều xác sinh vật biển và di tích Foraminifera . Trong thành phần cát thạch anh chiếm đa số, ít khoáng vật nặng ilmenit. Bề dày trầm tích thay đổi 2 3 m.

-      Trầm tích biển - đầm lầy (mbQIV32) phân bố rộng rãi ở phần mũi Cà Mau, dọc theo bờ biển phương đông bắc tới Bạc Liêu, theo phương bắc tới Hòn Đá Bạc, diện phân bố giảm dần theo cả hai phương. trên thực tế đây là vùng rừng ngập mặn ven biển.

-      Thành phần trầm tích chủ yếu là sét bột màu xám, nâu gụ chứa nhiều thân cây phân hủy kém và di tích Foraminifera . Bề dày trầm tích thay đổi 1 - 3 m.

-      Trầm tích đầm lầy (bQIV32) phân bố ở trũng đầm lầy U Minh Hạ. Có diện rộng vài trăm km2, nằm ở góc tây bắc của tờ. Thành phần trầm tích chủ yếu là than bùn màu nâu gụ chứa mùn thực vật, thân cây phân hủy kém… Tại đây có một giá trị tuổi tuyệt đối C14 lấy từ thân cây ở độ sâu 2,0m cho 902 ± 64 năm. Bề dày trầm tích 2-4 m.

-      Trầm tích sông - đầm lầy (abQIV32 ) phân bố rải rác thành các đám, vệt với hình thù không đều đặn nằm giữa Cà Mau và Bạc Liêu.

Thành phần trầm tích chủ yếu là sét bột lẫn nhiều mùn thực vật màu xám sẫm có độ phèn cao. Những vùng này thường bị ngập úng về mùa mưa, không thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp. bề dày trầm tích thay đổi từ 1 – 2 m, cá biệt một số nơi đạt tới 3 m.

II. CÁC THÀNH TẠO XÂM NHẬP

Phức hệ Hòn Khoai (γδ-γT3 hk)

Trong phạm vi vùng Cà Mau  thành tạo xâm nhập Hòn Khoai chỉ lộ ra ở quần đảo Hòn Khoai, Hòn Đá Bạc và ở độ sâu từ 404m trở xuống trong lỗ khoan 216 Năm Căn. Các đá của phức hệ được chia ra 2 pha là pha xâm nhập và pha đá mạch.

-      Pha 1 (γδ-γT3 hk1 ): gồm granodiorit biotit horblend, granodiorit biotit hạt nhỏ và vừa. Chúng chiếm phần lớn diện tích các đảo Hòn Khoai và Hòn Đá Bạc. Thành phần khoáng vật: plagioclas (30 - 40%), fenspat kali (7 - 28%), thạch anh (20 - 28%), biotit (5 - 10%), horblend (0-6%). Trong thành phần khoáng vật phụ có apatit, hiếm hơn có zircon. Trong các mẫu giã đãi còn có magnetit, ilmenit, ít hơn có rutil, anatas, zirtholit.

-      Pha 2 (γδ-γT3 hk2 ) phân bố với diện lộ hẹp ở đảo Hòn Sao và ở mỏm bắc đảo Hòn Khoai. Thành phần thạch học: granit biotit có chứa horblend hạt nhỏ. Thành phần khoáng vật: plagioclas (27 - 30%), fenspat kali (38 - 40%), thạch anh (29 - 30%), biotit (5 -7%), horblend (1%). Trong thành phần khoáng vật phụ có apatit, zircon.

Về thạch hóa, các kết quả phân tích hóa silicat cho thấy các đá của phức hệ thuộc loại kiềm vôi, dãy thạch hóa bình thường tới thừa nhôm (a = 11-15), ứng với phụ dãy sialit vôi - kiềm, tương đối cao calci, natri trội hơn kali: K/Na = 0,6 - 0,8. Đối với nguyên tố vi lượng có Cu thấy ở tất cả các mẫu với giá trị 2 - 4 Clarke, Be, Y, Yb, Zn, Sr, V có hàm lượng đều nhỏ hơn giá trị Clarke.

Các đá granođiorit của phức hệ gây biến chất trao đổi tiếp xúc với các trầm tích phun trào hệ tầng Hòn Ngang (T hng) quan sát thấy ở Hòn Buông tạo skarn pyroxen và bị xuyên cắt bởi các mạnh andesit - dacit (thuộc hệ tầng Đèo Bảo lộc) quan sát thấy ở Hòn Đồi Mồi, mỏm đông Hòn Sao và ở giữa bờ nam Hòn Khoai.

Tuổi xâm nhập của phức hệ được xác định là Trias muộn dựa trên cơ sở 3 giá trị tuyệt đối: 208, 201±8 và 183±2 triệu năm lấy trong granit tại Hòn Khoai và Hòn Đá Bạc.

Phức hệ Cù Mông (vπ cm )

Các đai mạch của phức hệ lộ ra ở bờ phía đông đảo  Hòn Chuối. Chúng xuyên cắt qua các đá silic set, ryolit porphyr hệ tầng Hòn Ngang (T hng). Các mạch dựng đứng, dày 30-50 cm, kéo dài theo phương đông tây, vuông góc với phương các lớp đá silic. Thành phần thạch  học: gabrodiabas, diabas thạch anh màu xám đen, hạt mịn tới nhỏ. Cấu tạo khối, kiến trúc diabas. Thành phần khoáng vật: plagioclas (60 - 70%), clinopyroxen cùng các sản phẩm biến đổi từ nó: clorit, carbonat…(20 - 30%), thạch anh (nhỏ hơn 5%), felspat kali (1%).

-      Plagioclas có dạng hình que dài kích thước nhỏ hơn 1 mm, có thành phần là anđesin-labrador, đôi khi có cấu tạo dạng đới, ở phần nhân bị biến đổi mạnh: epiđot và carbonat hoá.

-      Pyroxen xiên đơn thường lấp vào khoảng trống giữa các que plagioclas và bị biến đổi carbonat hoá, clorit hoá mạnh.

-      Tuổi của phức hệ được giả định là Paleogen bởi xâm nhập này xuyên cắt hầu hết các thành tạo địa chất trước Kainozoi thấy được ở nhiều nơi.

III. KIẾN TẠO

Vị trí kiến tạo: Vùng Cà Mau thuộc phần rìa tây nam bồn trũng Kainozoi Cửu Long, phát sinh và phát triển trên miền vỏ lục dại hình thành vào Paleozoi muộn - Mesozoi sớm Mường Tè - tây Campuchia và lớp phủ trầm tích - phun trào rìa lục địa tích cực Mesozoi sớm.

Kiến trúc sâu

Theo tài liệu trọng lực, trong phạm vi vùng Cà Mau có độ sâu bề mặt Moho đạt tới 30 – 32 km với chiều sâu dần từ đông sang tây. Bề mặt Conrad sâu hơn 14 km và sâu dần từ đông sang tây. Trong lúc đó bề mặt móng kết tinh nông hơn 4 km với phương sâu dần từ tây sang đông.

     Các bối cảnh kiến tạo

-       Móng trước Kainozoi cấu tạo bởi trầm tích silic và dá phun trào felsic của hệ tầng Hòn Ngang, tuổi Trias, hình thành trong bối cảnh cung đảo và lộ ra ở Hòn Chuối, Hòn Buông, cũng như có thể gặp trong đáy các lỗ khoan sâu ở khu vực Cà Mau - Bạc Liêu. Chúng bị uốn nếp mạnh theo phương gần kinh tuyến và bị các thành tạo xâm nhập granitoiđ phức hệ Hòn Khoai tuổi Trias muộn xuyên qua.

-       Pliocen - Đệ tứ gồm có các trầm tích lục nguyên, bề dày thay đổi 320 – 360 m theo phương tăng dần từ tây sang đông. Cấu tạo mặt cắt Pliocen - Đệ tứ là sự xen kẽ các tương biể, biển - sông và sông. Chúng được hình thành trong bồn tách giãn giữa các vòm nâng tân kiến tạo.

-       Cũng cần lưu ý rằng Oligocen - Pliocen trong phạm vi vùng Cà Mau - Bạc Liêu chưa gặp, song theo bình đồ cấu trúc vùng theo phương kéo dài đông bắc - tây nam của địa hào Sóc Trăng thì chúng có thể gặp ở khu vực Bạc Liêu, đông Cà Mau với bề dày 100 – 200 m.

     Các khối địa chất và các đứt gãy chính

-       Dựa vào bề dày trầm tích Pliocen - Đệ tứ, vùng Cà Mau được chia làm 2 khối địa chất chính: khối Hòn Khoai - Hòn Chuối và khối Cà Mau.

-       Khối Hòn Khoai- Hòn Chuối chủ yếu nâng lên trong suốt Kainozoi để lộ ra các đá của vỏ lục địa hình thành vào Paleozoi muộn - Mesozoi sớm.

-       Khối Cà Mau bị sụt võng vào Pliocen - Đệ tứ và là phần rìa tây của trũng Kainozoi Cửu Long.

-       Ranh giới giữa hai khối là đứt gãy Hòn Khoai - Hòn Tre với phương kéo dài kinh tuyến, thể hiện rõ trên ảnh và trường địa vật lý. Đứt gãy Cà Mau - Bảo Lộc trong phạm vi tờ Cà Mau - Bạc Liêu hoạt động yếu kém với sự sụt võng yếu của cánh đông nam vào Miocen.

Lịch sử phát triển kiến tạo

Lịch sự phát triển kiến tạo của vùng Cà Mau đã trải qua hai vĩ kỳ: Vĩ kỳ tạo móng kết tinh Tiền Cambri và vĩ kỳ kiến huỷ vỏ lục địa cổ, tạo biển Paleotethys và khép kín vào Paleozoi muộn - Mesozoi sớm, tạo lên lớp phủ Kainozoi. Vĩ kỳ sau được chia làm 3 giai đoạn chính:

-       Giai đoạn địa máng PZ-MZ1 (Gatinski, 1981). Vào giai đoạn này vùng Nam Du, Hòn Chuối, Cà Mau là một đoạn phía nam của miền tạo vỏ lục địa mới vào Paleozoi muộn - Mesozoi sớm Mường Tè - Tây Campuchia.

-       Giai đoạn tách giãn lục địa Oligocen - Miocen: Vùng Cà Mau cũng bị ảnh hưởng ít nhiều sự tách giãn theo phương tây bắc- đông nam và là phần kéo dài của địa hào Sóc Trăng. Có khả năng trầm tích Oligocen - Đệ tứ ở đây dày một vài trăm mét.

-       Giai doạn Pliocen - Đệ tứ: Bắt đầu từ Pliocen tiếp tục cho tới ngày nay với sự dao động mực nước biển và sự sụt lún chung tạo nên các tướng trầm tích biển, biển - sông, và sông với tổng bề dày 320-360m theo phương tăng dần từ tây bắc xuống đông nam. Trong thời kỳ Holocen muộn và hiện nay vùng đang bị sụt lún, chôn vùi các thềm biển cổ.

 

12. CÁC ĐẶC TRƯNG SINH HỌC

[Liệt kê các môi trường sống chính (vd: rừng nhiệt đới xanh quanh năm, thảo nguyên/savan, núi cao/lãnh nguyên, dải san hô ngầm, tảo v.v) và các loại hình đất bao phủ (vd: khu vực dân cư trú, khu vực đất canh tác, khu vực chăn nuôi gia súc v.v). Đối với mỗi loại, đánh dấu phạm vi VÙNG nếu môi trường sống hoặc loại hình thảm thực vật được phân bố rộng trong phạm vi địa lý sinh vật thuộc phạm vi khu dữ trữ sinh quyển. Việc phân loại này là cần thiết để có thể đánh giá được môi trường sống cũng như loại hình thảm thực vật hiện hữu tại đó. Đánh dấu phạm vi ĐỊA PHƯƠNG nếu môi trường sống được phân bố có giới hạn trong phạm vi khu vực khu dự trữ sinh quyển được đề cử, để đánh giá được môi trường sống cũng như loại hình thảm thực vật đặc trưng tại đó. Đối với mỗi loại môi trường sống hoặc loại đất bao phủ, liệt kê những đặc tính của các loài và mô tả mức độ quan trọng trong tiến trình phát triển của tự nhiên (vd: thuỷ triều, trầm tích, tan băng, cháy tự nhiên) hoặc các tác động của con người (vd: chăn nuôi gia súc, khai thác có chọn lựa, canh tác) ảnh hưởng có hệ thống. Nếu có thể, cung cấp bản đồ đề cập tới thực vật hoặc thảm thực vật như tài liệu hỗ trợ.

Khu vực U Minh Hạ

PHÂN BỐ

12.1. Loại hình môi trường sống/đất thứ nhất: ________Vùng/Địa phương.

Rừng tràm (Melaleuca cajuputi), rừng tràm hỗn giao trên đất than bùn.

12.1.1. Loài đặc trưng

Cấu trúc rừng có 3 tầng tán với các loài ưu thế: Bùi (Ilex cymosa), Mốp (Alstonia spathulata), Tràm (Melaleuca cajuputi); trong đó cây Tràm là chủ yếu, rải rác có Dầu dầu 3 lá (Euodia lepta), Trâm (Syzygium cinereum). Nơi đây thường là nơi phân bố của các loài chim lớn, các loài thú như Dơi (Cynopterus brachyotis), Heo rừng (Sus scrofa), Khỉ (Macaca fascicularis), Già đẫy Java (Leptoptilos javanicus), Giang Sen (Mycteria leucocephala).

12.1.2. Những quá trình tự nhiên quan trọng

Rừng tràm già và rừng hỗn giao nằm ở khu vực trung tâm, có nhiều cây cao to, nền than bùn dày 1,5 - 2 m và địa hình cao từ 1,7 m đến trên 2 m. Nó đang ở giai đoạn diễn thế tiến tới cực đỉnh nguyên sinh trong hệ sinh thái úng phèn như nhận xét của GS.TS. Phùng Trung Ngân. Đây là khu rừng Tràm nguyên sinh trên đất than bùn còn sót lại duy nhất ở Đồng bằng Sông Cửu Long và ở Việt Nam với diện tích gần 4000 ha.

12.1.3. Những tác động chính của con người

Khu vực này được quản lý bảo vệ khá nghiêm ngặt, hầu như không có tác động của con người.

12.1.4. Hoạt động quản lý liên quan

Kiểu rừng này nằm ở khu vực trung tâm VQG U Minh Hạ, tập trung chủ yếu ở các tiểu khu: 48, 49, 50, 58, 60; chịu sự quản lý và bảo vệ trực tiếp của bộ phận Kiểm lâm, Ban quản lý VQG U Minh Hạ và Uỷ ban nhân dân xã, huyện có rừng. Vùng lõi đã được xác định rõ về địa giới hành chính, cũng như là chức năng của nó. Cần có một chính sách thích hợp để cải thiện điều kiện sống cũng như nâng cao nhận thức của người dân về hệ sinh thái bởi vì hoạt động xây dựng và phá huỷ mô hình cũ sẽ làm phát sinh những khoản chi phí mới.

 

PHÂN BỐ

12.2. Loại hình môi trường sống/đất thứ hai: _______________Vùng/Địa phương

Rừng Tràm trên đất phèn 

12.2.1. Loài đặc trưng:

Ưu thế là cây Tràm với nhiều cấp tuổi khác nhau, tầng dưới là Sậy với mật độ khá dày nhưng rất dễ bị đào thải theo quá trình sinh trưởng và phát triển cây Tràm. Nơi đây thích hợp cho một số loài Cò, Còng cọc và các loại chim nhỏ.

12.2.2. Những quá trình tự nhiên quan trọng 

Đây là ưu hợp thực vật thứ sinh phục hồi thông qua việc trồng rừng trong chương trình phục hồi sinh thái, trồng rừng theo chương trình 327 trong thời gian từ năm 1993 đến nay.

12.2.3. Những tác động chính của con người

Rừng ở khu vực này được trồng theo chương trình phục hồi sinh thái, và theo chương trình 327, vì vậy, tác động của con người chủ yếu là trồng và bảo vệ rừng.

12.2.4. Hoạt động quản lý liên quan

Loại rừng này phân bố ở khu vực phía Bắc, phía Tây và một phần phía Nam của khu vực U Minh Hạ, trong các tiểu khu. Diện tích trên 3000 ha; chịu sự quản lý và bảo vệ trực tiếp của bộ phận Kiểm lâm, Ban quản lý VQG U Minh Hạ  và Uỷ ban nhân dân xã, huyện có rừng.

PHÂN BỐ

12.3. Loại hình môi trường sống/đất thứ ba:_____ ___Vùng/Địa phương

Đất trảng Sậy (Phragmites vallatoria), trảng Năng (Eleocharis dulcis)

12.3.1. Loài đặc trưng

Đất trảng Sậy, trảng Năng là ưu hợp thứ sinh, thích hợp cho các loài chim nước, Diệc, Trích.

12.3.2. Những quá trình tự nhiên quan trọng 

Trảng Sậy, trảng Năng là ưu hợp thứ sinh phần lớn được hình thành nên từ các rừng tràm bị khai thác gỗ trở thành hoang hóa. Từ năm 1993 đến nay, trảng Sậy, trảng Năng chỉ còn diện tích nhỏ nằm rải rác trong các khu rừng trồng.

12.3.3. Những tác động chính của con người

Tác động của con người trong khu vực này không rõ rệt.

12.3.4. Hoạt động quản lý liên quan

Vùng này chịu sự quản lý và bảo vệ trực tiếp của bộ phận Kiểm lâm, Ban quản lý VQG U Minh Hạ và Uỷ ban nhân dân xã, huyện có rừng.

 

PHÂN BỐ

12.4. Loại hình môi trường sống/đất thứ tư:________________Vùng/Địa phương

Sinh cảnh các đầm lầy

12.4.1. Loài đặc trưng

Loài đặc trưng là Súng ma (Nymphaea nouchali), Bèo cái (Pistia stratiotes), Bồn bồn (Typha domingensis): Phân bố ở các đầm lầy rải rác trong rừng, địa hình sâu trũng có nước quanh năm. Thành phần thực vật chủ yếu gồm các loài thuỷ sinh vật có lá mọc nổi trên mặt nước, có cuống lá, cuống hoa rất dài tuỳ theo mực nước lên. Đây là nơi kiếm ăn của các loài chim nước.

12.4.2. Những quá trình tự nhiên quan trọng

Đây là vùng sâu trũng, ngập nước quanh năm.

12.4.3. Những tác động chính của con người

Tác động của con người không rõ rệt.

12.4.4. Hoạt động quản lý liên quan

Vùng này nằm rải rác trong rừng nên chịu sự quản lý của bộ phận Kiểm lâm, Ban quản lý VQG U Minh Hạ và xã, huyện có rừng.

 

PHÂN BỐ

12. 5. Loại hình Môi trường sống/đất thứ năm 

Đất canh tác nông nghiệp

12.5.1. Loài đặc trưng 

Loài đặc trưng là cây hoa màu, cây ăn quả trên các đê: chủ yếu gồm các loài thực vật do con người trồng trên các kênh đê, líp đất đã được nâng cao, không ngập nước, đất phần nhiều đã được rửa phèn. Các cây trồng chủ yếu là cây rau màu, cây ăn quả, và một số loài cây lấy gỗ. Trên hệ thống gò cao, kênh đê, các loài động vật đặc trưng là Rái cá lông mũi (Lutra sumatrana), Chồn (Mustelidae), Mèo cá (Prionailurus viverrinus)… Đặc biệt là Chuột (Muridae).

12.5.2. Những quá trình tự nhiên quan trọng

Đất canh tác nông nghiệp ở các kênh đê tạo không gian thoáng mở, liên kết giữa khu vực rừng của khu bảo tồn với những đám rừng trồng trên đất giao khoán hộ gia đình, khu vực này đóng góp đáng kể các loại thức ăn cho các loài động vật.

12.5.3. Những tác động chính của con người

Được con người trồng lại bằng các cây hoa màu, cây lương thực, cây ăn quả;  nuôi trồng thuỷ sản như tôm, cá...

12.5.4. Hoạt động quản lý liên quan

Thực hiện giao khoán đất cho các hộ gia đình, kết hợp với sự quản lý, hỗ trợ về kỹ thuật nuôi, trồng và chăm sóc của các cán bộ xã, huyện.

PHÂN BỐ

12.6. Loại hình môi trường sống/đất thứ sáu

Rừng ngập mặn: phân bố thành rừng và các dải dài ven các cửa sông, rạch...

12.6.1. Loài đặc trưng 

Thành phần chủ yếu chỉ có Đước đôi (Rhizophora apiculata), Vẹt (Bruguiera gymnorhiza), Bần (Sonneratia alba), Cóc (Lumnitzera racemosa), Giá (Excoecaria agallocha); đặc biệt, so với các sinh cảnh rừng ngập mặn khác trong khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, chỉ nơi đây mới xuất hiện loài Cóc đỏ (Lumnitzera rosea).

12.6.2. Những quá trình tự nhiên quan trọng

Rừng ngập mặn chỉ phân bố thành các vệt ở các cửa rạch, suối tập trung ở khu rạch Tràm, chịu sự tác động của chế độ thuỷ triều, sự tích tụ và bồi lắng vùng ven biển. Rừng ngập mặn phân bố tự nhiên ở nền đất cát pha mùn có thể thấy từ các làng. Đước và mắm tái sinh bằng cây mầm cũng như được trồng cách đây vài năm. Dải rừng này rất quan trọng trong việc bảo vệ, giữ đất và bùn dọc theo bờ biển. Mặt khác, các ngôi làng đã xây dựng rải rác có ý nghĩa cho du lịch dọc theo bờ biển ở vùng này.

12.6.3. Những tác động chính của con người

Rừng ngập mặn nằm ở khu vực vùng đệm VQG Mũi Cà Mau nên vẫn chịu nhiều tác động của con người. Ngoài hoạt động trồng rừng, nhân dân trong vùng vẫn có những hoạt động khai thác ở nhiều hình thức khác nhau.

Bảng 17: Biến động rừng ngập mặn Cà Mau

Năm

Diện tích rừng

Đất có rừng (ha)

Đất không có rừng (ha)

1995

137.370

51.492

85.878

1997

130.676

53.605

77.071

1998

130.676

55.694

74.982

1999

137.370

64.572

72.798

2000

137.370

64.632

72.738

 

Nguồn: Chương trình phát triển rừng Cà Mau

Qua đây có thể thấy rừng ngập mặn Cà Mau diện tích rừng trước đây tăng lên là do việc trồng rừng hàng năm. Thành tựu này sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển vững chắc rừng trong các năm tới. Trong 5 năm (1995-2000) số loài được duy trì, không bị xuống cấp.

 

Dự kiến tài nguyên rừng ngập mặn giai đoạn 2001 – 2005: Theo đề án này diện tích rừng ngập mặn trong tỉnh sẽ ổn định ở mức 81.444 ha vào năm 2005. Tuy nhiên, diện tích quy hoạch lâm phần rừng ngập mặn trong 5 năm tới giảm từ 137.370 ha xuống còn 114.507 ha. Các mối đe doạ đối với rừng ngập mặn bao gồm:

-          Việc gia tăng dân số và áp lực của chúng lên tài nguyên rừng. Trong đó giá trị xuất khẩu cao của các loại thuỷ hải sản là nguyên nhân người dân phá rừng để nuôi tôm nếu không có các biện pháp ngăn chặn và quản lý hữu hiệu.

-          Việc xây dựng khu du lịch từ  Mũi Cà Mau đến Bảy Khai Long ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến môi trường rừng.

-          Việc khai thác dầu khí ở vùng Biển Tây - Nam cũng là mối đe doạ tiềm tàng đối với rừng ngập mặn Cà Mau.

Bảng18: Dự kiến trồng rừng ở Cà Mau

Năm

Tổng diện tích lâm phần (ha)

DIỆN TÍCH RNM DỰ KIẾN (ha)

Trồng mới

Tái sinh

Rừng hiện có

Tổng

2000

 

1700

950

64.135

66.785

2001

114.507

2.600

1000

66.785

70.385

2002

114.507

2.600

1000

70.385

73.985

2003

114.507

2.600

1000

73.985

77.585

2004

114.507

2.600

1000

77.585

81.185

2005

114.507

143

116

81.185

81.444

Tổng

 

12.243

5.066

 

 

Nguồn: Đề án tổng quan phát triển lâm nghiệp Cà Mau giai đoạn 2000-2005.

12.6.4. Hoạt động quản lý liên quan

Vùng này chịu sự quản lý và bảo vệ trực tiếp của bộ phận Kiểm lâm, Ban quản lý VQG Mũi Cà Mau và Uỷ ban nhân dân xã, huyện có rừng. Cần có một chính sách thích hợp để cải thiện điều kiện sống cũng như nâng cao nhận thức của người dân về hệ sinh thái bởi vì hoạt động của người dân dù vô tình hay hữu ý rất có ảnh hưởng đến hệ sinh thái này. Quần xã mắm trên các bãi bồi: mắm mọc tự nhiên trên đất bùn cát mà được mở rộng bởi quá trình lắng đọng trầm tích. Đầm lầy ven biển thường có đước và mắm phân bố. Đước và mắm mọc bằng cây mầm và được trồng bằng loại cây 1-4 tuổi từ vài năm trước.

PHÂN BỐ

12.7. Loại hình môi trường sống/đất thứ bảy

Vùng rừng trên đất cát ven biển

12.7.1. Loài đặc trưng 

Ở sinh cảnh rừng khô hạn (cây bụi), thành phần chủ yếu là Găng (Randia tomentosa), Hồng Sim (Rhodomyrtus tomentosa)...

12.7.2. Những quá trình tự nhiên quan trọng 

Thường phân bố trên những giồng cát cố định ven bờ biển. Cây ở đây có tốc độ sinh trưởng, phát triển kém, phẩm chất xấu, kích thước nhỏ, thường ra hoa kết quả sớm. Sinh cảnh rừng khô hạn (cây bụi) phân bố trên bãi cát dọc theo bờ biển và đê.

12.7.3. Những tác động chính của con người

Hiện nay, khu vực này nằm trong vùng đệm, chịu sự tác động của con người nhưng do thành phần thực vật không phong phú, nhất là chất lượng kém, ngoài ra còn có sự bảo vệ của Ban quản lý VQG và các đơn vị Kiểm lâm nên ít bị khai thác.

12.7.4. Hoạt động quản lý liên quan

Vùng này chịu sự quản lý và bảo vệ của bộ phận Kiểm lâm, Ban quản lý VQG Mũi Cà Mau.

Rừng Mắm (Avicennia) bãi triều: có nguồn gốc mọc tự nhiên trên mùn cát và trên bãi bùn. Bãi triều bùn cát và bùn là một trong những diện tích mở mang đất liền ra biển, bãi triều bùn cát là sản phẩm bồi tích của biển, bãi tắm cho du khách.

Bãi lầy mặn Đước (Rhizophora apiculata), Mắm (Avicennia) phục hồi: là bãi lầy mặn, nước thuỷ triều vào ra thường xuyên có nguồn gốc phù sa mới. Đước, Mắm mới phục hồi vài năm nay từ chồi gốc, đồng thời trồng lại rừng Đước với nhiều loại tuổi khác nhau từ 1 - 4 tuổi.

PHÂN BỐ

12.8. Loại hình môi trường sống/đất thứ tám 

Trảng cây bụi

12.8.1. Loài đặc trưng

Kiểu hệ sinh thái này bao gồm ưu hợp các loài cây bụi, tầng ưu thế là các loài cỏ Tranh (Imperata cylindrica), Lau (Phragmites communis), Sậy (Phragmites vallatoria), Năng (Eleocharis dulcis).

12.8.2. Những quá trình tự nhiên quan trọng 

Đây là ưu hợp quần thảo khá ổn định và phát triển nhanh. Ở các vùng đồng bằng, nơi mất rừng, đất chuyển hóa phèn mạnh sẽ tạo nên loại hình đất như vậy.

12.8.3. Những tác động chính của con người

Hiện nay, khu vực này nằm trong vùng đệm, vẫn chịu ảnh hưởng các hoạt động của con người nhưng không rõ rệt.

12.8.4. Hoạt động quản lý liên quan

Vùng này chịu sự quản lý và bảo vệ của bộ phận Kiểm lâm, Ban quản lý Rừng đặc dụng và Rừng phòng hộ ven Biển Tây Cà Mau và Uỷ ban nhân dân xã, huyện quản lý khu vực này.

 

13. CHỨC NĂNG BẢO TỒN

13.1. Đóng góp bảo tồn cảnh quan và hệ sinh thái đa dạng sinh học

[Mô tả và đưa ra vị trí cảnh quan, các hệ sinh thái, các loại hình môi trường sống/hoặc thảm thực vật có những ý nghĩa quan trọng cho việc bảo tồn đa dạng sinh học.]

Các loài chuyển tiếp sinh thái (nhập cư) sống ở rừng ngập mặn Cà Mau, qua điều tra chưa đầy đủ của Trung tâm NC&ƯDKT rừng ngập Minh Hải lên đến 38 loài, trong báo cáo này xin nêu 10 loài phổ biến nhất.

Các loài này sống trên các vùng đất rừng ngập mặn đã bị tác động, chủ yếu trên các dạng đất sau đây:

Trên các bờ đất, đê bao ao nuôi tôm: Các loài thuộc họ Cỏ (Poaceae) và họ Cúc (Asteraceae), trong đó phổ biến nhất là Lức cây (Pluchea indica), rau Mui (Wedelia biflora), Dây choại (Stennocholena pafustri)…. Các loài này biểu hiện độ mặn của đất đã giảm, đất cao, ít bị ngập triều và đang biến dần sang dạng đất cao không ngập triều. Trong một số ao nuôi tôm trong vùng rừng ngập mặn, có thể gặp các loài cỏ Lông Tượng (Fimbristylis littoralis) và cỏ Nước mặn (Echinochloa colunum).

13.2. Bảo tồn đa dạng sinh học của các loài

[Đưa ra các loài chính (gồm cả tên khoa học) hoặc nhóm các loài đặc trưng cho bảo tồn đa dạng sinh học đặc biệt nếu các loài đó rất hiếm hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng; có thể sử dụng các bảng biểu đính kèm nếu cần thiết.]

Số loài cây rừng ngập mặn đặc hữu

Nói chung rừng ngập mặn Cà Mau thật sự không có các loài cây đặc hữu của địa phương hay của vùng: Các loài cây của Cà Mau cũng là các loài rất phổ biến ở rừng ngập mặn Việt Nam nói chung, Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng.

Số loài cây rừng ngập mặn nguy cơ hoặc bị đe dọa

Theo 1 số tài liệu trước đây, nhất là Cuốn Sổ Tay Cây Cỏ Rừng ngập Cà Mau, xuất bản năm 1992 (lưu hành nội bộ), dã có nêu danh mục 30 loài cây rừng ngập mặn chính thức tại Cà Mau trong đó có 3 loài:

- Có đỏ :           Lumnitzera litorea

- Mấm quăn       :           Avicenia lanata

- Côi                 :           Scyphiphora hydrophyllaceae

Tuy nhiên, từ đó đến nay, qua nhiều lần khảo sát trên địa bàn Cà Mau đã không còn phát hiện các loài nêu trên. Một số loài khác cũng đang trong tình trạng nguy cơ, kể cả bị đe dọa.

Loài Vẹt bù bông đỏ (Bruguiera gymnorriza) - một loài phổ biến ở rừng ngập mặn miền Bắc Việt Nam, nhưng ở miền Nam, đặc biệt ở Cà Mau lại rất hiếm, chúng sống rải rác ở vùng biển phía Tây (Vịnh Thái Lan) và khu vực LNT Tam Giang I (Ngọc Hiển), số lượng cá  thể lớn nhất tìm được trên 1 khu vực nơi đây không quá 20.

Trang (Kendelia candel): Trước 1990 có thể tìm được loài này khá nhiều tại vùng ven biển và rừng ngập mặn Đầm Dơi, nay rất hiếm, tập trung nhất là tại một khu vực nhỏ của LNT 184 với số cá thể vài trăm cây.

Các loài Cui (Heritiera littiralis), Su ổi (Xylocarpus granatum), Lá lụa (Cynometra ramiflora), Sú (Aegiceras corniculatum) cũng hiếm dần.

Đước (Rhizophora apiculata)

Đước là loài cây thân gỗ cao từ 30 – 35 m, đường kính thân (D1,3) có thể đạt 30 – 45 cm, có khi đến 70 cm (Hồng, 1997). Ở một số vùng đất cao, nghèo dinh dưỡng, chúng thường có kích thước nhỏ và tăng trưởng chậm.

Rừng Đước (Rhizophora apiculata) chiếm diện tích chủ yếu  trên địa bàn rừng ngập mặn Cà Mau, phân bố tập trung ở huyện Ngọc Hiển và là loài cây chủ lực trong sản xuất lâm nghiệp. Cung cấp lâm sản phục vụ xây dựng, làm nhà cửa, ván sàn, đồ dùng trong gia đình, than củi phục vụ cho sinh hoạt, tanin phục vụ cho công nghệ thuộc da và nhuộm… Đước là loài cây dễ trồng, tốc độ tăng trưởng nhanh, khả năng thích ứng rộng trên các dạng lập địa.

Rễ có đặc trưng điển hình cho thực vật sống trong vùng có thuỷ triều lên xuống, thường xuyên bị tác động bởi sóng biển, kết cấu của đất chưa ổn định. Rễ cọc ít phát triển, chủ yếu là hệ thống rễ chống (Rễ chân nôm) gồm từ 8 – 12 rễ. Là cây có đặc tính phân cành cao và có tán lá hình dù lúc nhỏ (1 –5 tuổi), biến đổi thành hình trụ lúc cây từ 6 tuổi trở đi, cành thường nhỏ và có khả năng tỉa cành tự nhiên tốt.

Độ mặn của nước, đất thích hợp nhất vào khoảng 25 – 30‰

Ảnh hưởng của địa hình:  Độ ngập  triều trung bình từ 100 – 300 ngày/năm thích hợp cho sự sinh trưởng của Đước. Độ ngập triều thấp như: Bãi bồi ven biển, vùng trũng nội địa… (thời gian ngập trên 300 ngày/năm) và độ ngập triều thấp (dưới 100 ngày/năm) không thích hợp cho sự sinh trưởng của Đước.

Đước có thể phân bố thành các quần thụ tập trung có diện tích rộng lớn, tạo ra kiểu rừng thuần loài, chủ yếu gặp ở Ngọc Hiển, cũng có thể kết hợp với một số loài cây rừng ngập mặn khác, tạo ra các quần xã thực vật rất phong phú như quần xã hỗn giao Đước – Mắm trắng, quần xã Đước – Vẹt tách, quần xã Đước - Dừa nước, quần xã hỗn giao giá – Đước…

Về tăng trưởng:

Tăng trưởng đường kính 0,75 cm/ năm, tăng trưởng chiều cao 0,85 m/năm ở Ngọc Hiển, Cà Mau (Hồng &Trí,1983), 0,43 – 0,78 cm/năm về đường kính ở Cà Mau (Tấn, 2000).

Đối với rừng Đước thuần loài từ 1 - 5 năm là giai đoạn phát triển mạnh của tán, cây có nhiều cành nhánh, lá phát triển rất mạnh để đón ánh nắng mặt trời và tạo ra sinh khối lớn cho cây. Giai đoạn này cây có hiện tượng tạo ra các thân phụ, hiện tượng cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng gần như không xảy ra. Giai đoạn 6 - 12 tuổi cây rừng phát triển mạnh về đường kính và chiều cao, nên xảy ra hiện tượng cạnh tranh về dinh dưỡng và ánh sáng rất mãnh liệt. Giai đoạn này cây rừng tỉa thưa tự nhiên rất mạnh, số cây chết đếm được khoảng 30% ở tuổi 7 - 8 và khoảng 20 - 25% ở tuổi 10 - 11.

Giai đoạn 13 - 20 tuổi cây rừng phát triển mạnh về đường kính, cạnh tranh về dinh dưỡng xảy ra chủ yếu. Giai đoạn này cây rừng tỉa thưa tự nhiên ít hơn, số cây chết khoảng 10 - 15% ở tuổi 15 và khoảng 5% ở tuổi 17 - 18.

Về sinh khối:

Theo Nguyễn Hoàng Trí (1986) nghiên cứu tổng sinh khối trên 3 loại rừng:

- Rừng Đước trưởng thành:             276.829 kg/ha

- Rừng tái sinh tự nhiên 7 - 8 tuổi:      14.004 kg/ha

- Rừng trồng 6 - 8 tuổi:                                  33.846 kg/ha

b/ Rừng Vẹt tách (Bruguiera parviflora)

Loài Vẹt tách phân bố với số lượng nhiều và mọc thành quần thụ thường gặp ở Lâm ngư trường Tam Giang I, Kiến vàng, huyện Ngọc Hiển .

Bảng 19: Tăng trưởng của Vẹt tách có thể tham khảo theo số liệu ở bảng sau:

Tuổi

Mật độ (c/ha)

D1.3

 (cm)

Hvn

(m)

Trữ lượng (m3/ha)

Zd (cm/năm)

Zh (m/năm)

Zm (m3/năm

6

12.900

4,08

8,0

68,6

0,68

1,3

11,4

10

7.300

6,14

10,2

105,5

0,55

0,93

10,5

14

2900

9,48

12,0

118,0

0,67

0,85

8,4

B/quân

 

 

 

 

0,63

1,02

10,1

Nguồn: Theo số liệu điều tra trữ lượng rừng tháng 11/2001(Thơi &NNK.

Vẹt tách là loài cây thân gỗ cao từ 15 – 25 m, đường kính thân cây (D1,3) 30 - 45 cm. Rễ có đặc trưng cho thực vật sống trong vùng có thuỷ triều lên xuống, nhưng ít bị tác động bởi sóng biển, kết cấu của đất tương đối ổn định, hệ thống rễ đầu gối, nhô lên khỏi mặt đất 2 – 5 cm. Độ mặn của nước, đất biến động từ 5 - 40‰, nhưng thích hợp nhất vào khoảng 2 –30‰.  Ảnh hưởng của địa hình: Độ ngập  triều trung bình từ 100 – 300 ngày/ năm thích hợp cho sự sinh trưởng của Vẹt tách.

Về tăng trưởng:

Tăng trưởng đường kính 0,63 cm/năm, tăng trưởng chiều cao 1,02 m/năm và lượng tăng trưởng bình quân 10.1 m3/ha/năm ở Tam giang, Ngọc Hiển, Cà Mau .

Đối với rừng Vẹt tách thuần loại từ 1 - 4 năm là giai đoạn phát triển mạnh về chiều cao. Giai đoạn 5 - 10 tuổi cây rừng phát triển mạnh về đường kính và chiều cao, nên cây rừng tỉa cành và tỉa thưa tự nhiên rất mạnh, số cây chết đếm được khoảng 40% ở tuổi 6 - 7 và khoảng 30 - 35% ở tuổi 10.

Giai đoạn 11 - 20 tuổi cây rừng phát triển mạnh về đường kính,tỉa thưa tự nhiên ít , số cây chết khoảng 10 - 15% ở tuổi 13 và khoảng 5 % ở tuổi 17.

c/ Rừng Dà vôi (Ceriops tagal)

Dà vôi (C.tagal) phân bố ở các vùng rừng ngập mặn thuộc huyện Đầm dơi và Ngọc Hiển. Nhưng loài Dà vôi hiện nay còn thấy  phân bố với số lượng lớn và  mọc thành quần thụ tập trung cao như ở Lâm ngư trường Tam Giang I, huyện Ngọc Hiển và Lâm ngư trường Đầm Dơi.

            Bảng 20: Một số đặc điểm lâm học của loài Dà vôi (Ceriops tagal) được ghi nhận như sau:

Tuổi

Mật độ

(c/ha)

D1.3

(cm)

Hvn

(m)

Diện tích tán (m2/cây)

Trữ lượng (m3/ha)

Cấp tuổi I

67.600

1,0

2,1

-

5,6

Cấp tuổi II

9.600

4,1

5,0

1,6

31,7

Cấp tuổi III

4.800

7,1

7,4

2,6

76,2

Nguồn: Số liệu điều tra tháng 11/2001,tại LNT Tam Giang1(Thơi &NNK)

Rừng Dà chủ yếu là rừng không đồng tuổi, bị tác động nhiều bởi con người.

Tầng tán phân chia thành nhiều tầng, thông thường gồm 3 tầng chính: (i) - tầng trên là cây có đường kính lớn (cây lớn tuổi) chiếm khoảng 30%, (ii) - tầng giữa là tầng ưu thế chiếm khoảng 50% là những cây có đường kính bình quân, (iii) - tầng dưới là cây tái sinh cao từ 0.5 –1.5 m, với mật độ 10.000 cây/ha.

Đối với rừng Dà đồng tuổi thì ít có sự biến động về chiều cao và đường kính. Do vậy, tầng tán của rừng thường chỉ có 1 tầng chính chiếm khoảng 60 - 70%, các tầng vượt tán và tầng cây bị chèn ép khoảng 30%.

13.3. Bảo tồn đa dạng di truyền

[Đưa ra các loài, tính chất truyền thống hoặc ý nghĩa kinh tế quan trọng và việc sử dụng chúng, vd sử dụng làm thuốc, các loại thực phẩm v.v

Tổng số loài cây rừng ngập mặn tham gia tại Cà Mau là 28 loài. Trong đó có 9 loài thân gỗ, còn lại là các loài cây bụi, dây leo, thân thảo và ký sinh. Những loài này làm đa dạng, phong phú thêm cho hệ thực vật rừng ngập mặn. Một số loài sống và phát triển trên nền rừng cùng với các loài cây rừng ngập mặn chính thức khác như: Ráng đại (Acrostichum aureum), Ráng đại thanh (A. speciosum), Dây mũ (Finlaysonia obovata), một số loài sống trên các bờ cao ven sông còn ngập triều thường xuyên, tạo nên sự đa dạng phong phú của hệ thực vật ven sông như các loài: Cóc kèn (Derris trifolia), Dây cám (Sarcolobus globosus), Dây mắt trâu (Zygostelrua benthani), Dây chùm gọng (Clerodendron inerme), Mét (Styrax agrestis); các loài ký sinh như Dây chùm gởi (Dendrophtoe pentanda), Dây ghi (Viscum orientale) sống trên các loài Giá (Excoecaria agallocha), Mắm trắng (Avicenia alba).

 

Một số loài khác sống trên những vùng đất cao hoặc bãi cát ven biển, Múi biển (Suaeda maritima), rau Muống biển (Ipomaea pes – caprae), Bìm hoa to (I. Macrantha) và các loài sống ở vùng đất rất cao ít ngập triều: Tra nhớt (Hibiscus tiliacens), Tra bồ đề (Thespesia populue), Quao nước (Dolichandrone spathacea), Dây mây nước (Flagellaria indica), Mù u (Calophylum inophyllum), Bình bát (Anmona glabra).

14. CHỨC NĂNG PHÁT TRIỂN

14.1. Tiềm năng hỗ trợ, khuyến khích phát triển kinh tế và phát triển nhân lực theo cấp độ  ổn định văn hoá - xã hội và sinh thái:

[Mô tả làm sao khu vực có tiềm năng để có thể sử dụng như một khu vực để thúc đẩy phát triển bền vững tại tại khu vực đó hoặc“sinh thái khu vực“.]

Đánh giá về kinh tế của rừng ngập mặn

Giá trị sử dụng trực tiếp

Hàng năm trung bình có khoảng 2.170 ha rừng ngập mặn được khai thác, cải tạo, tỉa thưa. Các sản phẩm chủ yếu của RNM là  gỗ xây dựng, củi, than, tanin... Tuy nhiên, giá trị đem lại từ lâm sản thật sự không cao so với các giá trị gián tiếp mà chúng mang lại.

Gía trị gián tiếp

RNM có 1 tiềm tàng rất lớn về các giá trị gián tiếp, theo White và Crusz – Trinidat (1988) hàng năm 1 ha RNM có thể thu được: 9.828 US$

Nuôi dưỡng các loài tôm cá tự nhiên trị giá khoảng 466 US$.

- Hạn chế  thiên tai                          :           1.839 US$

- Xử lý ô nhiễm                                           :           6.696 US$

- Nơi sinh sống của động vật hoang dã         :           169 US$

- Du lịch, giải trí                                          :           658 US$

Tuy nhiên các giá trị gián tiếp này chưa được tính toán một cách cụ thể tại Cà Mau. Sau đây là 1 số số liệu tham khảo:

Về nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản:

Bảng 21: Quan hệ giữa diện tích rừng ngập mặn và sản lượng đánh bắt hải sản và nuôi trồng thuỷ sản

Năm

Diện tích RNM (ha)

Sản lượng đánh bắt TS (tấn)

Sản lượng nuôi trồng TS (tấn)

Giá trị đánh bắt nuôi trồng TS (1.000.000đ)

1995

51.492

71.638

46.762

 

1996

51.492

80.655

43.272

2.742.180

1997

53.694

85.121

45.995

3.127.412

1998

55.694

90.155

42.362

3.428.422

1999

61.890

24.687

46.718

3.676.550

2000

64.572

141.000

64.000

4.011.116

Chính rừng ngập mặn là nơi trú ngụ đồng thời cũng là nơi cung cấp các chất dinh dưỡng cho cuộc sống của các loài thuỷ sản. Mỗi năm, 1 ha rừng Đước có thể cung cấp cho thuỷ vực một lượng vật rụng lên đến 13,5 tấn khô/ha (Đặng Trung Tấn,1999), với diện tích trên 60.000 ha, rừng ngập mặn Cà Mau hàng năm tạo ra được trên 780.000 tấn chất khô, đây là mắc xích đầu tiên của chuỗi thức ăn phong phú ở rừng ngập mặn và vùng biển lân cận; giúp cho sự phát triển của việc nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản ở Cà Mau.

Trong các năm từ 1995 – 2000 diện tích rừng được phục hồi năm sau tăng hơn năm trước từ 51.492 ha vào năm 1995 tăng lên 64.572 ha năm 2000. Sản lượng đánh bắt hải sản và sản lượng tôm nuôi trồng cũng tăng theo. Với diện tích rừng ngập mặn 64.572 ha (năm 2000) đã đem lại cho ngành thuỷ sản 205.000 tấn tôm cá (nuôi trồng và đánh bắt) với giá trị 4.011 tỷ đồng, tương đương 265 triệu USD. Có nghĩa là 1 ha rừng ngập mặn tạo ra 1 giá trị về thuỷ sản là 4000 USD. Riêng giá trị khai thác, đánh bắt chiếm tỷ lệ 55%. (Chưa tách ra số liệu thuỷ sản nước ngọt, nhưng loại này chiếm tỷ lệ rất ít)

Sản lượng nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản tăng liên tục trong vòng các năm qua, 1 phần nhờ vào kinh nghiệm của người dân được tích lũy, các tiến bộ kỹ thuật được triển khai  và các trang thiết bị, tàu thuyền được tăng cường… Nhưng cũng phải thừa nhận rằng diện tích rừng ngập mặn tăng, môi trường được cải thiện, dinh dưỡng thuỷ vực tăng theo, nên đã tạo điều kiện cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài thủy sản trong RNM và vùng ven biển.

RNM còn là nơi cư trú cho nhiều loài động vật trên cạn, trong đó bao gồm các loài thú, lưỡng cư , chim, bò sát, , nhất là chim, tạo nên 1 sinh cảnh hấp dẫn cho du lịch. Hiện nay tỉnh đang có chương trình du lịch sinh thái rừng ngập mặn, trong đó đang xây dựng khu du lịch từ Mũi Cà Mau đến Bãi Khia Long để khai thác nguồn lợi này.

Rừng ngập mặn còn là 1 vườn ươm cho các loài thuỷ sản theo Bộ thuỷ sản 1990, riêng vùng mũi Cà Mau đã tạo ra được 8 tỷ con tôm giống tự nhiên hàng năm.

Các giá trị về phục vụ môi trường:

Các giá trị của rừng ngập mặn về việc giảm năng lượng sóng, làm giảm nhiễm nguồn nước, không khí và môi trường đất, cũng như cải thiện chất lượng nước chưa được tính toán 1 cách cụ thể tại Cà Mau.

Bảng 22: Quá trình mở rộng diện tích bãi bồi ở Cà Mau

Vùng

Diện tích tăng trong các giai đoạn (ha)

Tốc độ lấn biển qua các giai đoạn (m)

 

1930-1965

1965-1985

1985-1991

1930-1991

1930-1695

1965-1985

1985-1991

1930-1991

Đất Mũi – Cửa lớn

1.528

2.158

617

4.303

18,2

44,95

42,84

29,4

Cửa lớn Bảy Háp

1.576

954

694

3.554

21,4

22,75

55,08

25,16

Bảy Háp – Gò Công

317

260

112

689

744

6,84

9,82

5,93

Nguồn: Một số dẫn liệu về diện tích bãi bồi Tây Ngọc Hiển (Sở KHCN & MT Cà Mau).

Về việc ổn định trầm tích, cố định bãi bồi. Riêng tại vùng Biển Tây (khu vực Vịnh Thái Lan) từ mũi Cà Mau đến bờ Nam sông Bảy Háp có tốc độ bồi tụ cao nhất. (Theo Nguyễn Bội Quỳnh, Hiện trạng và những biến đổi chủ yếu trong vùng rừng ngập mặn và rừng tràm ĐBSCL) tổng diện tích bồi tụ từ năm 1930 - 1991 là 8318 ha, trong đó có 6852 ha thành rừng đưa vào qui hoạch lâm phần, 1.466 ha đang được cây Mắm (Avicennia alba) thực hiện việc cố định đất lấn biển. Theo đó tốc độ lấn biển đạt 32,2 m/năm.

Ngược lại với bờ biển phía Tây, ven biển Đông của tỉnh Cà Mau lại là vùng biển lở do tác động của dòng hải lưu từ Thái Bình Dương chảy vào biển Đông. Trong đó vùng bờ biển bị xói lở mạnh nhất là từ Hố Gùi – Bồ Đề – Hốc Năng thuộc 2 LNT Tam Giang I và Ngọc Hiển. Từ năm 1968 đến 1996 (28 năm) trên đoạn bờ biển dài 22 km này diện tích bị xói lở lên đến 2.841,95 ha, bình quân mất 101,50 ha/năm và chiều dày bờ biển bị xói lở bình quân 46 m/năm. Nói chung tốc độ xói lở bờ biển có lẽ sẽ tăng nhanh hơn nếu vùng này không được bao bọc bởi rừng ngập mặn.

Tổng giá trị kinh tế qui ra tiền năm 2000

Giá trị kinh tế do rừng ngập mặn Cà Mau đem lại là rất lớn nhưng chưa thể tính toán một cách cụ thể, nhất là các giá trị về môi trường. Sau đây là 1 số số liệu đã được thống kê. Gía trị khai thác lâm sản: 5,3 tỷ. Giá trị gián tiếp từ nuôi trồng, khai thác và đánh bắt thuỷ sản: 4.011,1 tỷ (chưa tách ra được phần thuỷ sản nước ngọt).

Đánh giá về tiềm năng sử dụng bền vững rừng ngập mặn và hiệu quả kinh tế

Với việc phân chia rõ ràng 3 loại rừng: Phòng hộ, đặc dụng, sản xuất. Trong đó, nếu rừng đặc dụng và phòng hộ được tổ chức, quản lý tốt theo qui chế mà Bộ đã ban hành; rừng sản xuất được giành một tỷ lệ kinh doanh rừng hợp lý 60 - 70% và có các biện pháp kiên quyết để giữ được mức cân đối đó, chắc chắn tài nguyên rừng ngập mặn Cà Mau sẽ được gìn giữ và sử dụng bền vững.

Việc sản xuất và kinh doanh rừng tuy hiệu quả kinh tế trực tiếp không cao nhưng là yếu tố để duy trì và phát triển đối với nghề nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản. Cho nên, tỷ lệ sử dụng từ 30 - 40% cho nuôi trồng thuỷ sản ở khu vực rừng sản xuất không phải là ít. Nếu sử dụng có hiệu quản diện tích này sẽ tạo thu nhập ổn định nâng cao đời sống người dân vùng rừng và góp phần vào việc phát triển kinh tế của địa phương

14.2. Nếu du lịch là một hoạt động chính

có bao nhiêu du khách tới thăm khu dự chữ sinh quyển được đề cử mỗi năm?có hướng nào để có thể giúp tăng số lượng du khách? (đưa ra một số ví dụ minh hoạ nếu có thể)

Tháng 12-2006, có khoảng 32.176 lượt khách, so với tháng trước tăng 1,71%, so với cùng kỳ năm trước tăng 47,25%; ngày khách lưu trú ước đạt 40.149%. Ước tính lượt khách lưu trú năm 2006 đạt 362.161 lượt khách, bằng 80,24% so với cùng kỳ, ngày khách lưu trú 437,701 ngày khách, bằng 96,76% so với cùng k ỳ.

Doanh thu hoạt động khách sạn tháng 12-2006 ước đạt 3.188,95 triệu đồng so với tháng trước tăng 2,26%, so với cùng kỳ năm trước 71,84%. Ước tính năm 2006 đạt 32.513 triệu đồng, bằng 84,07% so với cùng kỳ. Hoạt động lữ hành ước đạt 3.000 lượt khách, so với tháng trước tăng 0,67% so với cùng kỳ năm trước giảm 46,22%. Ngày khách lữ hành ước đạt 54.000 ngày khách, so với tháng trước tăng 0,67% so với cùng kỳ năm trước giảm 10,3%. Ước tính năm 2006 đạt 16.531 lượt khách, không tính các đoàn khách trong tỉnh tự tổ chức tham quan, du lịch.

Nguyên nhân do tình hình dịch cúm gia cầm còn diễn biến phức tạp ở cuối năm trước, nhiều khu vui chơi giải trí, sân chim, vườn chim, lâm viên… phải đóng cửa, làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động du lịch.

Các điều kiện tự nhiên ở đây kết hợp với nhau tạo cho Cà Mau nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú và hấp dẫn. Trong đó, có giá trị nhất đối với du lịch ở đây là tài nguyên rừng, tài nguyên sông nước và biển đảo.

Tài nguyên du lịch ở VGQ và khu bảo tồn thiên nhiên

Tỉnh Cà Mau có diện tích rừng tự nhiên khá lớn với tính đa dạng sinh học và đa dạng sinh thái cao. Song, có giá trị nhất đối với hoạt động du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái là các hệ sinh thái đất ngập nước và các sân chim ở đây.  Các hệ sinh thái đất ngập nước đáng kể nhất tập trung trong VGQ Đất Mũi, rừng tràm U Minh. Các sân chim nổi tiếng ở Cà Mau có thể kể đến bao gồm sân chim công viên văn hoá Cà Mau, sân chim Tư Na – Năm Căn…

VGQ Đất Mũi nằm trong toạ độ địa lý từ 8o34’ đến 8o41’ vĩ độ Bắc và 104o41’ đến 104o48’ kinh độ Đông với diện tích trên 40.000 ha rừng ngập mặn. VGQ Đất Mũi có 21 trên tổng số 51 loài thực vật ngập mặn Việt Nam. Trong đó, chiếm ưu thế là các loài như Đước, Mắm, Vẹt, Bần… đặc biệt ở một số nơi trong VGQ còn bảo tồn được rừng Đước tự nhiên cao tới hơn 30 m.

Khu hệ động vật trong VQG bao gồm khoảng 65 loài, trong đó có 7 loài bị đe doạ và sắp bị đe doạ tuyệt chủng trên toàn cầu như Cò Trắng Trung Quốc, Choắt chân màng, Cò quắm đầu đen, Te vàng… Đáng chú ý đây là nơi trú ngụ của hơn 1% quần thể loài Cò trắng Trung Quốc và Choắt chân màng lớn. Ngoài ra, trong VQG còn có nhiều loài chim khác như Diều cá, Cò bợ, Cò lửa, Cò cổ rắn, Diệc Xumatra, Già đẫy Giava, Sả khoang cổ, Cốc đế nhỏ, Hạc cổ trắng….

Các loài bò sát thường gặp ở đây có Kỳ đà hoa, Trăn mốc, Trăn gấm, Rắn lục miền Nam, Rắn sọc dưa, Cá sấu nước lợ, Rùa hộp lưng đen, Rùa ba gờ… Các loài thú không phong phú về chủng loại nhưng số lượng cá thể khá lớn như Chuột dúi Bengan, Cầy lỏn, Rái cá họng trắng, Khỉ nước, Dơi đen… Dưới nước là cả một quần thể các loài động vật thuỷ sinh phong phú với nhiều loài tôm cá như cá Đối, cá Bống, cá Nhụ… Tôm thẻ, Tôm sú, Tôm càng xanh… và nhiều loài khác nữa.

Cột mốc toạ độ quốc gia tại Mũi Cà Mau là một địa điểm có ý nghĩa thiêng liêng không chỉ riêng của người dân Cà Mau mà bất kỳ người dân Việt Nam nào cũng mong ước một lần được đến nơi đây - điểm cuối cùng của đất nước.

Rừng U Minh trên địa phận Cà Mau (rừng U Minh Hạ) trước kia có diện tích đến 90.000 ha. Trải qua thời gian, khu rừng này đã bị tàn phá nhiều bởi bom đạn chiến tranh, bởi nạn cháy rừng, việc bố trí dân cư sinh sống trong lâm phần và một phần diện tích rừng đã được chuyển sang xây dựng các khu tái định cư và các khu kinh tế mới nên đến nay diện tích rừng còn khoảng 35.000 ha. Trong chiến tranh chống Mỹ, rừng U Minh là căn cứ kháng chiến của quân và dân giải phóng vùng đất Cà Mau.

Động vật trong rừng tràm U Minh khá phong phú. Một số loài thú điển hình đã phát hiện ở đây là Nai, Sóc đỏ, Khỉ, Rái cá, Dơi quả… các loài bò sát phổ biến là Cá sấu nước ngọt, Rắn sọc dưa, Rắn ráo trâu, Tắc kè, Nhông xanh, Thằn lằn chân ngắn, Kỳ đà hoa, Trăn đất, Rùa hộp lưng đen, Rùa ba gờ, Ếch cua, Cóc nước sần…

Do phân bố gần biển và các rừng ngập mặn nên thành phần các loài chim cư trú ở đây không khác mấy so với các loài trong rừng Đước. Đáng chú ý là các loài Gà nước, Vịt trời, Chim rẽ, Choắt, Hạc cổ trắng….

Hiện nay, ngoài 3.200 ha rừng đặc dụng Vồ Dơi, rừng U Minh Hạ còn hơn 30.000 ha rừng kinh tế thuộc các lâm ngư trường U Minh I, U Minh II, lâm ngư trường 30/4 và lâm trường Sông Trẹm. Mặc dù vậy diện tích rừng còn hiện nay thực sự là những điểm tài nguyên có giá trị, mang tính đặc thù của du lịch Cà Mau.

Khu đa dạng sinh học lâm trường 184 nằm giữa cánh rừng Đước thuộc ấp Chà Là, xã Tam Giang huyện Năm Căn, cách chợ nổi Cà Mau 1 giờ tàu cao tốc. Diện tích rừng của toàn lâm trường là 6.300 ha, nơi có tiềm năng phát triển những sản phẩm du lịch sinh thái hấp dẫn. Do được thiên nhiên ưu đãi, khu du lịch sinh thái Lâm ngư trường 184 đang có một hệ động thực vật phong phú và mang nét đặc trưng của hệ thống rừng ngập mặn Mũi Cà Mau.

Tại đây, có Khu bảo tồn đa dạng sinh học rừng ngập mặn Cà Mau với diện tích 252 ha, bao gồm khu bảo tồn nghiêm ngặt khoảng 86 ha và khu đệm sinh thái 166 ha. Theo thống kê ban đầu của các nhà khoa học, hiện nay tại khu bảo tồn đa dạng sinh học rừng ngập mặn Cà Mau có 44 loài thực vật, trong đó có 32 loài đặc trưng cho hệ sinh thái rừng ngập mặn. Đặc biệt có một số loài quý hiếm như: Cóc trắng, Đưng, Sú, Trang. Bên cạnh đó, khu vực này còn có 6 loài chim, 5 loài thú, 2 loài bò sát và 2 loài lưỡng thê. Hệ động vật, thực vật ở đây rất phong phú đang được bảo tồn để phục vụ công tác nghiên cứu. Trong đó, đáng chú ý là gần đây rất nhiều loài chim bắt đầu về đây. Hiện nay, Ban quản lý (BQL) lâm trường đã quy hoạch khu vực khoảng 1 ha để chim trú ngụ.

Đến với Lâm ngư trường 184 du khách sẽ được đi xuyên rừng bằng một hệ thống đường làm bằng cây mát rượi, luồn lách trong những cánh rừng Đước 15 năm tuổi. Du khách cũng có thể bơi xuồng vào sâu trong rừng để thưởng ngoạn khung cảnh rừng ngập mặn đặc trưng của Mũi Cà Mau. Ngoài ra, du khách còn được ngắm những chú khỉ xinh xắn sống theo đàn đu đưa trên những cành Đước. Và chiều về, du khách sẽ được nghỉ trong những ngôi nhà thoáng mát sâu trong rừng và ăn những đặc sản của miền biển như Cá chẽm, Cá dứa, Cá bóp…

Sân chim Tư Na – Năm Căn: Thực chất nơi đây là một khu nuôi tôm của tư nhân (gia đình ông Nguyễn Hoàng Na) với diện tích tự nhiên chỉ vào khoảng 14 – 15 ha. Đây là khu vực đất ngập nước có thảm thực vật rừng ngập mặn với các loài cây chủ yếu là Đước và Cóc rừng xanh tươi quanh năm được khoanh vùng lại nuôi thuỷ sản (Tôm sú và Cá phi). Môi trường thiên nhiên trong lành, thức ăn dồi dào cùng ý thức bảo vệ của chủ nhân khiến cho nơi đây trở thành nơi trú ngụ của hàng ngàn con chim thuộc nhiều loài khác nhau vô cùng phong phú. Điểm tài nguyên quý giá này hoàn toàn có đủ điều kiện phát triển thành một điểm du lịch sinh thái có giá trị của Cà Mau .

Sân chim Ngọc Hiển, thuộc huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, sân chim Ngọc Hiển có diện tích tự nhiên rộng 130 ha, là một trong những sân chim tự nhiên lớn nhất nước. Sân chim Ngọc Hiển có dòng sông Bảy Háp chảy qua cùng với hệ thống kênh ngòi chằng chịt, với thảm thực vật phong phú và xanh tươi quanh năm đã là môi trường thiên nhiên trong lành chưa bị con người huỷ hoại, nơi trú ngụ của các loài chim bay đến hàng năm.

Sân chim trong công viên văn hoá Cà Mau nằm giữa lòng thành phố. Công viên này với diện tích khoảng 18,2 ha bao gồm các tượng đài, vườn hoa và cây thế cắt tỉa công phu, đặc biệt có cụm kiến trúc mô phỏng nơi ở và làm việc của Bác Hồ: ao cá, nhà sàn… cùng kích thước và kiểu dáng với nguyên mẫu ở Hà Nội. Trong công viên này còn có các loài sinh vật đặc trưng của rừng ngập mặn như Cá sấu, Khỉ, Trăn, Rắn, Kỳ đà, Ba ba và một số loài chim như Cò hương, Cò tôm, Cò ngà lớn, Cò ngà nhỏ, Cò trắng, Cò nâu, Cò lửa, Cò bợ, Vạc, Cồng cộc, Chàng kè, Cúm núm, Điên điển, Quắm đen, Quắm trắng… Do môi trường trong lành và thân thiện, bầy chim trời dần tụ họp về đây sống tự nhiên đông đến chục ngàn con, cao điểm lên tới 15.000 con trên tổng diện tích 3ha. Công viên văn hoá Cà Mau đang trở thành địa chỉ du lịch hấp dẫn của tỉnh.

Ngoài các sân chim lớn trên, một số sân chim khác có giá trị du lịch như sân chim Chà Là, sân chim Đầm Dơi, sân chim ở lâm ngư trường Sông Trẹm, cũng cần được quan tâm khai thác khi có điều kiện.

Tài nguyên du lịch biển đảo

Vùng ven biển Cà Mau có 3 cụm đảo chính là cụm đảo Hòn Khoai, cụm đảo Hòn Chuối và cụm đảo Hòn Đá Bạc, trong đó có cụ đảo Hòn Khoai và Hòn Đá Bạc là hai cụm đảo có giá trị đối với việc phát triển du lịch ở Cà Mau.

Hòn Khoai là một cụm đảo gồm 5 hòn đảo là Hòn Khoai, Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi, Hòn Đá Lẻ và Hòn Tương nằm sát nhau và cách đất liền khoảng hơn 14 km về phía Tây Nam thị trân Năm Căn huyện Ngọc Hiển. Cụm đảo Hòn Khoai có tổng diện tích 4km2, nơi cao nhất tới 318m. Đến Hòn Khoai, ngoài việc du khách được chiêm ngưỡng vẻ đẹp nên thơ của những bãi biển đầy đá cuội tròn như trứng ngỗng, du khách còn có dịp để leo núi, băng rừng, trực tiếp ngắm nhìn một thảm rừng nguyên sinh với hơn 1.000 loài thực vật (nhiều nhất là gỗ Sao) cùng một quần thể động thực vật phong phú, phong cảnh thiên nhiên hoang dã có sức hấp dẫn lớn đối với du khách.

Trên đỉnh cao nhất của Hòn Khoai hiện vẫn còn ngọn Hải đăng được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX. Nơi đây, vào những năm 40 của thế kỷ 20 thầy giáo Phan Ngọc Hiển đã lãnh đạo một nhóm chiến sỹ cách mạng tiến ra chiếm đảo Hòn Khoai, giết chết tên chúa đảo làm nên chiến công Hòn Khoai lừng lẫy đến tận ngày nay. Ngọn Hải đăng và địa danh Hòn Khoai đã được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận là di tích lịch sử cách mạng năm 1994 (sau này tỉnh Minh Hải đã đặt tên Ngọc Hiển cho huyện Năm Căn trước đây).

Từ trên ngọn Hải Đăng, qua kính viễn vọng, du khách có thể được chiêm ngưỡng Hòn Đồi Mồi - một hòn đảo với một thảm thực vật xanh biếc trông như con đồi mồi đang bơi giữa biển xanh. Đặc biệt, du khách có thể hướng kính viễn vọng về mũi Cà Mau để một lần trong đời được chiêm ngưỡng từ xa mũi đất thiêng liêng của tận cùng tổ quốc, mà không dễ có ai ngắm được nếu không ra thăm Hòn Khoai.

Hòn Đá Bạc thuộc huyện Trần Văn Thời cách Cà Mau 50 km đường thuỷ. Hòn Đá Bạc có diện tích khoảng 6,4 ha gồm 3 đảo nằm sát nhau và sát bờ biển. Trên đảo có nhiều di tích, truyền thuyết như Sân Tiên, Giếng Tiên, Bàn chân Tiên, Bàn tay Tiên, chùa Cá Ông…giữa một thảm thực vật tự nhiên phong phú. Hòn Đá Bạc là một địa chỉ du lịch hấp dẫn của Cà Mau.

Bãi biển Khai Long thuộc ấp Khai Long, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển: Đây là một bãi biển dài hơn 3 km khá đẹp, cát vàng mịn, bãi thoải, nông, song nước không trong do gần các cửa sông lớn. Bãi biển này có đủ điều kiện xây dựng thành khu du lịch biển có ý nghĩa địa phương.

14.2.1. Loại hình du lịch

[Du lịch nghiên cứu hệ thực vật và hệ động vật, giải trí, cắm trại, đi bộ, bơi thuyền, cưỡi ngựa, câu cá, săn bắt, trượt tuyết v.v]

Khách du lịch quốc tế

Hiện nay, khách du lịch quốc tế đến Cà Mau mới chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng lượng khách đến, trung bình mỗi năm chưa đến 4%. Nếu như năm 1992 cả tỉnh mới chỉ đón được 560 lượt khách quốc tế thì đến năm 2000, đã đón được 4.000 du khách, tốc độ tăng trưởng của giai đoạn này đạt 27,8%/năm. Do xuất phát điểm của du lịch Cà Mau thời gian này thấp, lại là điểm du lịch mới trên bản đồ du lịch Việt Nam nên dễ thu hút khách đến tham quan, nghỉ dưỡng.

Những năm tiếp theo lượng khách du lịch quốc tế đến Cà Mau ngày một tăng, năm sau  cao hơn năm trước. Cụ thể là năm 2001 đón được 4.500 lượt khách, năm 2002, thu hút được 4.480 lượt khách, năm 2004 là 6.770 lượt khách, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2000 - 2004 là 14,6%.

Tuy nhiên, so với các tỉnh khác trong vùng thì số khách quốc tế đến Cà Mau trong tổng số còn rất khiêm tốn. Nguyên nhân cơ bản là Cà Mau có cùng sản phẩm du lịch với các tỉnh trong vùng mà khả năng tiếp thị cũng như tuyên truyền quảng bá còn hạn chế, hơn nữa Cà Mau cũng chưa tạo ra được các sản phẩm độc đáo, đặc thù của địa phương mình để giới thiệu cho khách du lịch…

-          Nghiên cứu các chỉ tiêu về khách du lịch quốc tế đến Cà Mau những năm gần đây cho thấy số lượng  khách có tăng nhưng không ổn định, đồng thời ngày lưu trú của khách quốc tế nhìn chung không tăng trưởng lắm. Điều này cho thấy Cà Mau còn có những hạn chế sau:

-          Chưa có sức hấp dẫn du khách, chưa cạnh tranh được với các tỉnh trong khu vực, do đó chưa tạo được nguồn khách ổn định.

-          Các sản phẩm du lịch chưa phong phú và đa dạng, chưa đáp ứng nhu cầu của khách nên không giữ được khách lưu trú dài ngày.

-          Ở các điểm du lịch còn ít các dịch vụ và các sản phẩm có chất lượng cao, hấp dẫn du khách.

-          Công tác tổ chức tiếp thị, tuyên truyền quảng cáo còn hạn chế.

-          Việc tổ chức kết nối tuor đưa đón khách chưa tốt..

Khách du lịch nội địa

Khách nội địa đến Cà Mau lớn hơn nhiều so với lượng khách quốc tế do tài nguyên du lịch ở đây phù hợp phục vụ cho khách nội địa hơn, đồng thời xu thế khách du lịch nội địa đi du lịch trong nước ngày càng tăng.

Lượng khách nội địa đến Cà Mau năm 1992 là 31.900 lượt, năm 1995 là 51.950 lượt. Năm 1997 cơn bão số 5 tràn vào tỉnh Cà Mau và đã để lại hậu quả nặng nề về người và của, trong đó riêng ngành du lịch ước tính thiệt hại trên 2 tỷ đồng. Cùng thời gian này, cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực đã gián tiếp khiến cho lượng khách du lịch nội địa giảm hơn so với giai đoạn trước.

Tuy nhiên, trong vòng vài năm trở lại đây do được UBND tỉnh và Tổng cục Du lịch quan tâm cấp vốn để đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, đầu tư phát triển các khu du lịch mới nhằm đa dạng hoá các sản phẩm du lịch và tạo thế cạnh tranh so với các tỉnh trong khu vực, lượng khách du lịch nội dịa bắt đầu có xu hướng tăng trưởng trở lại. Năm 1999, khách du lịch nội địa đến Cà Mau là 85.597 lượt, năm 2001 là 124.040 lượt và đến năm 2003, đã thu hút được 195.900 lượt khách, con số này năm 2004 là 289.230 lượt. Nhịp độ tăng bình quân giai đoạn 2000 - 2004 là 31,75%.

Tính mùa vụ trong hoạt động du lịch

Du lịch là ngành kinh tế bị ảnh hưởng nhiều bởi tính thời vụ, tuy nhiên tuỳ thuộc vào tính chất riêng của từng loại hình du lịch và từng điểm du lịch cụ thể mà tính mùa vụ thể hiện khác nhau. Lượng khách đến tham quan du lịch Cà Mau tương đối đông đều qua các tháng, ước tính lượng khách bình quân mỗi tháng khoảng 2.700 khách. Tháng thấp nhất là 2.500 khách và tháng cao nhất ước khoảng 3.000 khách.

Để xác định mức độ ảnh hưởng đến mùa hoạt động du lịch, người ta dùng chỉ số GINI để tính mật độ phân bố khách trong năm của một điểm du lịch, chỉ số này dao động từ 0 đến 1, nếu chỉ số gần 0 thì điểm du lịch không bị ảnh hưởng bởi tính mùa vụ, lượng khách phân bổ đồng đều trong năm còn nếu chỉ số tiến gần đến giá trị 1 thì điểm du lịch được coi là có tính mùa vụ cao, tức là bị ảnh hưởng nhiều bởi các điều kiện khí hậu, tính chất riêng của điểm du lịch…làm lượng khách dồn vào một số tháng chính và các tháng còn lại hầu như không có khách và các hoạt động du lịch thường bị đình trệ.

Đối với Cà Mau, chỉ số GINI là tương đối thấp (trong khoảng từ 0,12 đến 0,35), nên các hoạt động du lịch vẫn diễn ra quanh năm. Yếu tố chính gây nên tính mùa vụ là điều kiện khí hậu, tuy nhiên còn nhiều yếu tố liên quan, cần xác định được mức độ tác động của các yếu tố để có thể phân tích, đưa ra các giải pháp để tổ chức kinh doanh tốt hơn.

14.2.2. Những điều kiện thuận lợi cho du lịch và mô tả các địa điểm và tại khu vực nào trong khu dự trữ sinh quyển

Các điểm hấp dẫn khác du lịch: Mũi Cà Mau, U Minh Hạ,…

14.2.3. Đưa ra những tác động có lợi/ hoặc có hại của du lịch hiện tại và có thể dự đoán trước được trong tương lai

Do tỉnh Minh Hải cũ tách ra thành 2 tỉnh là Cà Mau và Bạc Liêu, do vậy, việc đánh giá, phân tích hoạt động du lịch của tỉnh Cà Mau có thể chia thành 2 giai đoạn phát triển cơ bản. Đó là giai đoạn trước  khi tách tỉnh (1996 về trước) và giai đoạn sau khi tách tỉnh (từ 1997-nay). Hiệu quả hoạt động du lịch của tỉnh Minh Hải trước năm 1997 nhìn chung ở mức thấp, tốc độ trăng trưởng về khách du lịch chỉ ở mức 5%/năm, đóng góp cho ngân sách nhà nước còn nhỏ chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh (trung bình 1,98 tỷ đồng mỗi năm), tỷ trong doanh thu chủ yếu từ hoạt động lưu trú và ăn uống. Hoạt động kinh doanh du lịch của một số đơn vị còn kém hiệu quả, công tác du lịch lữ hành và phát triển các sản phẩm mới chưa được quan tâm.

Từ sau khi tách tỉnh, trên cơ sở của bản “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Minh Hải, thời kỳ 1996 – 2000” đã được phê duyệt, UBND tỉnh Cà Mau đã chỉ đạo cho phát triển của tỉnh Cà Mau mới, và bước đầu đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Đến hết năm 1997, tỉnh Cà Mau đã đón được 4.630 lượt khách quốc tế và 53.036 lượt khách nội địa. Sau một thời gian triển khai xây dựng, và tổ chức thực hiện cơ chée chính sách hỗ trợ các cơ sở kinh doanh du lịch hoạt động, nâng cấp cơ sở hạ tầng, đầu từ xây dựng và phát triển hệ thống các sản phẩm du lịch mới nhằm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, du lịch Cà Mau đã có những tiến bộ đáng kể, lượng khách đến ngày một tăng. Năm 2000, Cà Mau đón được 4.000 lượt khách quốc tế và 96.000 lượt khách nội địa, đến năm 2004, lượt khách đến Cà Mau tương ứng là 6.460 lượt khách quốc tế và 218.540 lượt khách nội địa (tăng 14,06% và 31,75% so với năm 2000).

Tỉnh đã quy hoạch đầu tư một số khu du lịch như: Đất Mũi Cà Mau, bãi biển Khai Long, cụm du lịch đảo Đá Bạc, rừng ngập mặn Mũi Cà Mau, Lâm ngư trường 184, Lâm ngư trường sông Trẹm… Hệ thống khách sạn, nhà hàng được đầu tư xây dựng mới và nâng cấp bằng vốn của các thành phần kinh tế; đến cuối năm 2005 toàn tỉnh có 28 khách sạn với 674 phòng, khách sạn ở Cà Mau chủ yếu là khách sạn quy mô vừa và nhỏ (từ 10 – 65 phòng/khách sạn). Trong đó có 12 khách sạn được công nhận đạt tiêu chuẩn gắn sao (2 sao và 3 sao).

Lượng khách du lịch tăng nhanh qua từng năm, từ 44,8 ngàn lượt người năm 1995 tăng lên 99,6 ngàn lượt người năm 2000 và 327,7 ngàn lượt người năm 2005, tăng binhg quân hàng năm 22%, giai đoạn 2001 – 2005 tăng 26,9%. Nhưng chủ yếu là du lịch nội địa, lượng khách trong tỉnh, trong huyện trong các dịp lễ tết khá lớn, lượng khách quốc tế còn rất thấp (năm 1995 đạt 6.850 lượt người, nhưng năm 2000 và năm 2005 chỉ đạt trên 4 người). Do khách nội địa là chủ yếu nên tỷ lệ khách du lịch có lưu trú chỉ chiếm trên 50%. Tổng số ngày khách lưu trú năm 2005 đạt khoảng 342.600 ngày, tăng bình quân hàng năm 19,38%. Số ngày lưu trú bình quân/lượt khách quốc tế tăng dần (từ 1,3 ngày năm 2000 lên 1,67 ngày năm 2005; nhưng số ngày lưu trú bình quân chung năm 2005 giảm chỉ còn 1,05 vì chủ yếu là khách nội địa).

Bảng 23: Số lượng khách du lịch của Cà Mau

 

Năm

1995

Năm

2000

Năm

2005

Bình quân

1995 - 2005

Bình quân

2001 - 2005

Số khách du lịch (người)

44.819

99.602

327.734

122,01

126,90

+ Khách nội địa

37.969

95.602

323.469

123,89

127,61

+ Khách quốc tế

6.850

4.000

4.265

95,37

101,29

Số ngày lưu trú (ngày)

58.265

143.298

342.595

119,38

119,04

+ Khách nội địa

49.360

137.438

335.484

121,12

119,54

+ Khách quốc

8.905

5.860

7.111

97,78

103,95

Số ngày lưu trú bình quân

1,30

1,44

1.05

 

 

+ Khách nội địa

1,30

1,44

1,04

 

 

+ Khách quốc tế

1,30

1,47

1,67

 

 

            Nguồn số liệu: Cục thống kê tỉnh Cà Mau (số liệu 1975 - 2005)

14.3. Lợi ích của các hoạt động kinh tế đối với người dân địa phương

[ Chỉ ra đối với các hoạt động được mô tả trên, liệu cộng đồng địa phương có nhận được nguồn thu nhập trực tiếp hay gián tiếp nào từ việc thiết lập khu dữ trữ sinh quyển được đề cử và thông qua cơ chế nào.]

Thu nhập và GDP du lịch

Doanh thu từ du lịch bao gồm các khoản do khách du lịch trả, đó là doanh thu từ lưu trú, ăn uống, bán hàng, vận chuyển khách và từ các dịch vụ khác.

Trong những năm gần đây, do mức tăng trưởng khách du lịch cao nên doanh thu xã hội từ du lịch của Cà Mau cũng tăng đáng kể. Tuy  nhiên, trên thực tế tất cả các khoản thu này không phải chỉ do Ngành du lịch Tỉnh trực tiếp thu mà còn do nhiều ngành khác có tham gia các hoạt động du lịch thu hoặc do người dân địa phương phục vụ khách du lịch thu (ví dụ dịch vụ y tế, bảo hiểm, ngân hàng, bưu điện, giao thông công cộng…).

Do vậy, việc thống kê toàn bộ các khoản thu từ khách du lịch chi tiêu trong phạm vi toàn tỉnh là hết sức khó khăn. Hơn nữa, trong cơ chế kinh tế thị trường nhiều thành phần kinh tế đều tham gia các hoạt động kinh doanh du lịch, từ các tổ chức đoàn thể đến các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân…do vậy việc thống kê doanh thu du lịch trên địa bàn Tỉnh càng trở nên khó khăn. Số liệu thống kê được đánh giá sau đây chỉ mang tính tương đối, chưa phản ánh đúng thực trạng ngành du lịch ở địa phương.

Năm 1997, doanh thu du lịch của Cà Mau đạt được 21,79 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng trên 47% tổng thu nhập từ du lịch-thương mại toàn tỉnh), năm 2003 đã đạt tới 62,3 tỷ đồng (tăng 2,85 lần so với năm 1997), và đến năm 2004 tổng doanh thu toàn ngành là 62,7 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2000-2004 đạt 16,3%/ năm.

Bảng 24: Thu nhập du lịch tỉnh Cà Mau giai đoạn 1997-2004.

Danh mục

1997

1998

1999

2000

2001

2002

2003

2004

Tăng TB

Doanh thu thuần DL

21,79

37,74

38,55

38,54

44,83

54,65

62,3

62,7

16,3%

DL LH + VC

0

0

0,64

0,71

1,77

2,28

3,99

3,68

41,88%

DT Khách sạn

0

0

5,33

6,01

7,13

8,03

9,92

11,17

15,95%

DT ăn uống

0

0

19,64

22,78

22,5

26,27

29,65

30,78

9,4%

DT dịch vụ

0

0

1,47

1,72

2,39

4,42

3,44

5,67

30,9%

DT hàng hoá

0

0

6,48

7,32

11,04

13,65

15,3

11,4

11,96%

Nộp NSNN

2,19

2,77

2,38

2,6

3,77

2,55

3,06

3,1

5,08%

Nguồn: Sở Thương mại – Du lịch Cà Mau.

Về cơ cấu chi tiêu của khách: Cũng như ở các tỉnh khác, cơ cấu chi tiêu của khách du lịch đến Cà Mau còn chưa hợp lý, doanh thu từ các dịch vụ ăn uống, bán hàng hoá tiêu dùng chiếm đa số trong tổng doanh thu du lịch, ngược lại doanh thu từ các dịch vụ lưu trú, vận chuyển khách, tham quan giải trí..nhìn chung còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng vố có của tỉnh. Điều quan trọng hiện nay là thời gian lưu trú của khách tại Cà Mau còn thấp (1,24-1,35 ngày). Ngoài ra, các mặt hàng lưu niệm, các hàng hoá đặc sản đặc trưng của tỉnh chưa phong phú và thiếu nên đã hạn chế đến sức chi tiêu của khách đặc biệt là khách du lịch quốc tế. Trung bình khách đến Cà Mau chi tiêu khoảng 350.000 đồng (tương đương 32 USD - theo giá quy đổi năm 1994). Trong đó một khách du lịch quốc tế chi tiêu bình quân khoảng từ 40 -45 USD/ngày, còn khách nội địa chi tiêu khoảng 8 – 12 USD/ ngày.

15. CHỨC NĂNG HỖ TRỢ

15.1. Nghiên cứu và quan trắc

Các nghiên cứu và quan trắc được thực hiện bởi các viện nghiên cứu quốc gia, các trường đại học và các dự án nghiên cứu, quan trắc do sở Khoa học và Công nghệ Cà Mau thực hiện.

15.1.1. Có bao nhiêu đề tài nghiên cứu trong chương trình nghiên cứu đã được tiến hành/lập kế hoạch chi tiết về lĩnh vực quản lý trong khu dự trữ sinh quyển được đề cử?

(Vd: để xác định khu vực cần bảo vệ nghiêm ngặt như vùng lõi hoặc để xác định rõ nguyên nhân hay những cách ngừng sự xói mòn đất v.v.)

Việc nghiên cứu được tiến hành ở Mũi Cà Mau để đóng góp vào thực hiện kế hoạch, vấn đề tổng thể là nghiên cứu ở Vườn Quốc Gia Mũi Cà Mau nhằm bước đầu tìm hiểu về đa dạng sinh học và nguồn nước ngầm ở Vườn Quốc Gia để trợ giúp cho việc quản lý và chương trình hành động lâu dài tại vườn. Các công việc cụ thể bao gồm:

-          Chuẩn bị một kế hoạch kiểm kê về đa dạng sinh học và nguồn nước ngầm ở Vườn Quốc Gia Mũi Cà Mau.

-          Các nguy cơ trong qúa khứ và hiện tại của việc bảo tồn ở Vườn Quốc Gia Mũi Cà Mau.

-          Biện pháp quản lý và tổ chức Vườn trong tương lai.

-          Nâng cao năng lực của cán bộ Vườn góp phần vào việc điều tra và nghiên cứu trong tương lai,

Trong 6 tháng đầu năm 2006 đã thực hiện 2 kỳ (mỗi quý 1 kỳ) thu mẫu quan trắc & phân tích đánh giá chất lượng nước cho 14 khu tái định cư dựa trên 14 chỉ tiêu cho nước sinh hoạt và nước sản xuất nuôi trồng thủy hải sản. Kể từ đầu dự án đến nay đã thực hiện được 6 kỳ quan trắc chất lượng nước với tổng số mẫu là 103 (trong đó có 88 mẫu nước sông và 15 mẫu nước ngầm) cho việc quan trắc chất lượng nước tại 14 khu tái định cư. Qua các báo cáo quan trắc cho thấy chất lượng nước mặt, nước ngầm theo các chỉ tiêu phân tích là ít biến động và thích hợp cho việc nuôi trồng thủy sản.

Thanh lý hợp đồng quan trắc chất lượng nước, giá trị thực hiện: 25.730.000 đồng/KH là 56.620.000 đồng với Chi cục đo lường chất lượng thuộc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh. 13 Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được thiết lập, 2 báo cáo ĐTM cho 2 công trình thuộc hợp phần phát triển xã hội được Sở Tài nguyên & Môi trường cấp giấy phép đạt tiêu chuẩn môi trường, đó là:

-          Hệ thống cấp nước nối mạng cho khu TĐC Tân Ân, Tân Thuận.

-          Chợ nông thôn khu TĐC Tân Ân.

9 báo cáo ĐTM cho 9 khu TĐC theo yêu cầu của WB đã được thiết lập và đã được Sở Tài nguyên & Môi trường phê duyệt.

Tổng báo cáo định kỳ: Hoàn thành các báo cáo tiến độ hàng tháng/năm, hàng quý/năm, 6 tháng/hàng năm và báo cáo cả năm và các báo cáo giám sát đầu tư theo yêu cầu. Thường xuyên theo dõi tiến độ các công trình đang thi công và công tác bảo hành các công trình sau khi nghiệm thu đưa và sử dụng.

15.1.2. Mô tả ngắn gọn những hoạt động nghiên cứu/ khảo sát trước đây

[Đưa ra ngày tháng năm các hoạt động đó được thực hiện và mức tầm quan trọng các chương trình nghiên cứu và khảo sát đó, nó ở cấp độ địa phương/quốc gia hay cấp quốc tế.]

Mục tiêu bao quát của nghiên cứu Đa dạng sinh học cho vườn Quốc gia Mũi Cà Mau là: Tìm hiểu ban đầu về đa dạng sinh học và dưới nước của vườn Quốc Gia Mũi Cà Mau để hỗ trợ cho việc quản lý và quy hoạch trong tương lai của vườn.

Trong đó các mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:

-          Chuẩn bị một cuộc kiểm kê đa dạng sinh học dưới nước và trên cạn ở vườn Quốc gia Mũi cà mau.

-          Xác định những mối đe doạ trước đây và hiện nay đối với công tác bảo tồn ở Vườn  Quốc gia Mũi cà mau.

-          Xây dựng một hệ thống quan trắc lâu dài về tính đa dạng sinh học cho Vườn Quốc gia Mũi cà mau

-          Đưa ra những đề xuất để áp dụng cho việc quả lý và quy hoạch vườn Quốc gia trong tương lai.

-          Nâng cao năng lực cho cán bộ Vườn Quốc gia để họ tham gia trong cuộc điều tra này và sẽ thực hiện các cuộc điều tra đa dạng sinh học trong tương lai.

Mục đích quan trắc đa dạng sinh học biển được đề xuất với ba tuyến điều tra song song sau đây: (xem thêm phụ lục A)

Tuyến 1: Từ phía tây nam của xã Đất Mũi ra phía biển. Tuyến này được xác định bằng hai điểm: điểm I1 có toạ độ là 8039 và 10404336, điểm I3 có toạ độ là 8042 và10404054.

Tuyến 2:  Tính từ phía tây bắc của xã Viên An ra biển. Tuyến này cũng được xác định bằng 2 điểm.: điểm II1 có toạ độ là 80 4236và 104048 và điểm  II3 có toạ độ là 8047và 10404336.

Tuyến 3: Từ phía tây nam của xã đất mũi đi thẳng ra giữa sông và vuông góc với lạch phân giác của cửa Bảy Háp. Tuyến này cũng được xác định bằng hai điểm: điểm III1 có toạ độ là 8044’54 và 10405230 và điểm III3 có toạ độ là 8046 và 10405130.

Đối với mục đích quan trắc đa dạng sinh học trên cạn, đề nghị tư vấn tham khảo với Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau để xác định các tuyến điều tra thích hợp:

-          Nghiên cứu và khảo sát phi sinh học về tự nhiên (Abiotic) [khí hậu học, thuỷ học, địa mạo học v.v.]

-          Nghiên cứu và khảo sát mang tính sinh học (Biotic) [Hệ động vật, hệ thực vật]

-          Nghiên cứu về kinh tế - xã hội [nhân khẩu học, các nền kinh tế, sự hiểu biết truyền thống v.v]

15.1.3. Mô tả ngắn gọn những hoạt động nghiên cứu/khảo sát đang thực hiện

-          Nghiên cứu và khảo sát phi sinh học về tự nhiên (Abiotic) [khí hậu học, thuỷ học, địa  

-          mạo học v.v.]

-          Nghiên cứu và khảo sát mang tính sinh học (Biotic) [Hệ động vật, hệ thực vật]

-          Nghiên cứu về kinh tế - xã hội [nhân khẩu học, các nền kinh tế, sự hiểu biết truyền thống  v.v]

Tham vấn với cộng đồng địa phương là nhằm mục đích:

-          Khai thác hiểu biết của người địa phương về thành phần loài động thực vật hiện có và trong quá khứ.

-          Khai thác hiểu biết của người địa phương về những mối đe doạ đối với tính đa dạng sinh học của khu vực ở hiện tại và trong quá khứ.

-          Tham vấn với cộng đồng địa phương còn phải kể đến các cuộc thảo luận không chính thức với nông dân, thợ săn, ngư phủ cùng với tham quan thị trường tiêu thụ động vật hoang dã. Các biên bản tham vấn sẽ được lưu trữ và kèm theo trong phần phụ lục của báo cáo.

Bảng  25: Lượng giá kinh tế rừng ngập mặn Cà Mau

 

Trực tiếp

Gián tiếp

Giá trị lựa chọn

Giá trị có thể sử dụng

Giá trị mai sau

Giá trị tồn tại

Thị trường

Phi thị trường

 

Gỗ

X

 

 

 

 

 

X

 

Giá thị trường

Củi

X

 

 

 

 

 

X

 

Giá thị trường

Lá lợp

X

 

 

 

 

 

X

 

Giá thị trường

Than

X

 

 

 

 

 

X

 

Giá thị trường

Cột

X

 

 

 

 

 

X

 

Giá thị trường

X

 

 

 

 

 

X

 

Giá thị trường

Cua

X

 

 

 

 

 

X

 

Giá thị trường

Tôm

X

 

 

 

 

 

X

 

Giá thị trường

Sinh vật hoang dã

X

 

 

 

 

 

X

 

Giá thị trường

Ngao, sò

X

 

 

 

 

 

X

 

Giá thị trường

Ta nanh

X

 

 

 

 

 

X

 

Giá thị trường

Hoa trái

X

 

 

 

 

 

X

 

Giá thị trường

Sâu đất

X

 

 

 

 

 

X

 

Giá thị trường

Thuốc chữa bệnh

X

 

 

 

 

 

X

 

Giá thị trường

Sử dụng cho du lịch, giáo dục

Du lịch, nghỉ dưỡng

X

 

 

 

 

 

X

 

Chi phí đi lại

Nghiên cứu và giáo dục

X

 

 

 

 

 

 

X

Chi phí hiện thời (Gov. NGO, Academic)

Cảnh đẹp

X

 

 

 

 

 

 

X

Phương pháp thay thế

Dịch vụ môi trường

Bảo vệ bờ biển

 

X

 

 

 

 

 

X

Chi phí thay thế

Ngăn gió bão

 

X

 

 

 

 

 

X

Hấp thu các bon

 

X

 

 

 

 

 

X

Lọc nước

 

X

 

 

 

 

 

X

Thải ô xy

 

X

 

 

 

 

 

X

Nuôi thủy sản

 

X

 

 

 

 

X

 

Giá thị trường so sánh

Nơi ươm con non

 

X

 

 

 

 

 

X

Giá thị trường so sánh

Dịch vụ đa dạng sinh học

Đa dạng sinh học

 

 

X

 

 

 

 

X

Phương pháp lượng giá ngẫu nhiên

Loài di cư

 

X

 

 

 

 

 

X

Phương pháp lượng giá ngẫu nhiên

Loài quí hiếm

 

 

 

 

X

 

 

X

Phương pháp lượng giá ngẫu nhiên

Hệ sinh thái

 

 

 

 

 

X