6. Luong y Dao Kim Long - chua ung thu

22-04-2009

Lương y Đào Kim Long
Làng Nhân Vịnh, xã Dị Sứ (Mỹ Hào, Hưng Yên)
Địa chỉ: Ngõ 409, nghách 7, nhà số 7 đường An Dương Vương
Điện thoại: 0321.3494594 - 0983611220
* Ung thư di căn vẫn sống khoẻ ( theo tuổi trẻ )

"Trong điều trị, không nên phân biệt u lành – u ác. cả hai loại đều là hậu quả của tình trạng rối loạn chuyển hoá protein trong cơ thể" - Lương y Đào Kim Long nói.

1. U lành tính cũng di căn…
Khoảng gần chín giờ sáng thứ bảy (10 tháng giêng năm 2009) vừa đặt chân vào phòng khách gia đình lương y Đào Kim Long (Phú Thượng, Tây Hồ, Hà Nội), gia chủ chưa kịp giới thiệu khách mới với chúng tôi – những người đến trước, người phụ nữ ấy đã hồn nhiên đặt lên bàn, ngay chỗ ông Long ngồi mấy tờ giấy – tập hồ sơ bệnh án vừa rút từ túi xách đeo bên vai giọng oang oang không khác gì tiếng chuông vỡ: “Thầy xem hộ, trường hợp cô em họ cháu có chữa được không?”.

Xuất hiện ngay sau người phụ nữ - anh Trần Văn Núi, bệnh nhân đã vài năm uống thuốc của lương y Đào Kim Long, người nhận ra tôi sau cuộc gặp tình cờ từ cuối tháng chín năm ngoái, điềm đạm thanh minh: “Các bác thông cảm, bà chị họ to xác nhà em tính tình vẫn bỗ bã như vậy. Chưa thấy người đã thấy ầm ĩ. Ở quê khối người cùng lứa chị đã lên ngôi bà, riêng chị vẫn bộc tệch, bộc toạc không khác gì con gái tuổi vị thành niên”.
- “Từ ngày chữa bệnh ở đây, tính cô ấy vẫn tự nhiên như thế” – như đồng tình với thân nhân người phụ nữ, lương y Đào Kim Long tiếp lời.

Tôi nhìn kỹ - người phụ nữ còn lâu mới đến tuổi hồi xuân có giọng nói vang hơn cả tiếng chuông đồng, cao chừng mét sáu mươi, vóc dáng đậm đà, nặng không dưới 60 kg, gương mặt hồng hào, mái tóc hạt na, óng mượt – có thể là bệnh nhân? Với phản xạ nghề nghiệp, tôi tò mò buột miệng:
- “Xin lỗi, chị bị bệnh gì?”.
- “Em bị u tuyến giáp”. Miệng trả lời chưa hết câu, đã thấy chị chà mấy ngón tay thon dài tựa ngọn măng sậy lên thành cổ mịn màng, ngay dưới chân hàm bên phải. “Các bác sĩ đã cắt bỏ hơn 5 năm trước, đầu năm ngoái lại tái phát”.

Chị là Trần Thị Sinh, sinh năm 1967, người huyện Thanh Thủy (tỉnh Phú Thọ). Đang khoẻ mạnh bình thường, đầu năm 2004, vài tháng sau ngày sinh con thứ ba, bỗng nhiên chị thấy người uể oải, không làm việc gì quá sức, thỉnh thoảng tim vẫn đập thình thịch, như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, lắm hôm ngủ dậy mồ hôi vã ướt đầm cả gối. Mấy hôm sau chị có cảm giác như nghẹt cái gì trong cổ, ăn cơm khó nuốt. đi khám, bác sĩ khẳng định, không phải viêm họng. Kể chuyện với người nhà là bác sĩ Bệnh viện K, được lời khuyên, phải đi Hà Nội khám ngay.

Tại Bệnh viện, sau khi thăm khám, làm xét nghiệm siêu âm, sinh thiết… bác sĩ kết luận: U tuyến giáp; phương án giải quyết: Phẫu thuật cắt bỏ khối u. Tuy không có kiến thức gì về bệnh học, song chị suýt nhảy cẫng lên sung sướng khi nghe vị bác sĩ già là người nhà đọc bệnh án thông báo, chị chỉ bị “u lành”, không phải u “ác tính”.

U lành chắc chắn dễ chữa trị hơn, cuộc sống chỉ bị ảnh hưởng chút ít; “u ác” đồng nghĩa với gian nan, tốn kém tiền bạc, sức lực và cái chết. Tuy nhiên – cũng theo lời giải thích của bác sĩ – vì khối u đã to, lại nằm ở vị trí gần động mạch cảnh, nếu không giải quyết ngay, sợ nó chèn ép, gây thiếu máu cung cấp cho não sẽ rất nguy hiểm, vì thế phải phẫu thuật cắt bỏ, càng sớm càng tốt.

Không cần tham khảo ý kiến người thân (như yêu cầu của bác sĩ điều trị) chị vui vẻ đề nghị các bác sĩ nhanh chóng giải quyết theo phương án chỉ định. Chị càng yên tâm hơn, khi biết, cái u lành của mình chỉ có “một nhân” (bởi chị nghĩ, “một nhân” – giống như cây một rễ - chắc hẳn dễ nhổ bỏ hơn cây rễ chùm, nhiều rễ).

Phẫu thuật xong, chị thấy người nhẹ nhõm hẳn. Ăn ngon, ngủ kỹ. Sức khoẻ phục hồi nhanh chóng. Mọi triệu chứng khó chịu cũng tan biến.

Bốn năm suôn sẻ trôi qua. Đến đầu năm 2008 đột nhiên tai vạ lại ập đến. Sáng hôm ấy ngủ dậy, chị thấy cái cổ cứng đơ. Nghĩ bị gió độc đầu mùa xuân, chị sai con lấy hộp dầu cù là xoa bóp. Sau chừng 15 – 20 phút đã có thể ngúc ngoắc quay cổ, song cảm giác đau nhức vẫn không thuyên giảm. Những ngày tiếp theo ngoài nhức đầu, nhưng triệu chứng bất thường y hệt hồi trước phẫu thuật cắt khối u tuyến giáp xuất hiện lại (người mệt mỏi, tim đập nhanh, đổ mồ hôi trộm…). Chẳng lẽ con bệnh cũ tái phát? Chị không tin, bởi ai cũng biết – chỉ u ác tính mới di căn, trong khi bản thân chỉ bị u lành…

Đến hôm gần vết mổ cũ nhú lên “cái hạch” gần bằng đầu ngón tay út, chị buộc phải về Hà Nội, đến bệnh viện xin khám lại. Khác hẳn tâm trạng khoai khoái thoải mái lần đầu thăm khám hơn bốn năm trước – lần này chị thấy đầu óc choáng váng, trời đất tối sầm, phải cố vịn tay vào mép bàn để tránh gục ngã – khi nghe kết luận chuẩn đoán của bác sĩ: “Chị đã bị di căn”.

Vẫn biết, u tuyến giáp di căn là chứng bệnh ít nguy hiểm nhưng trong các bệnh ung thư di căn, song người khoẻ mạnh hoàn toàn cũng có thể mất mạng chỉ vì một cơn gió độc, huống hồ u tuyến giáp di căn… Chị thấy số mình thật đen đủi.

Tồi tệ hơn – theo lời bác sĩ – vì chúng phát triển thành nhiều “hạt”, kích thước nhỏ, nằm rải rác ở nhiều vị trí khác nhau, nên giải pháp thích hợp trước mắt chỉ có thể uống biệt dược để làm chúng “tiêu” dần. Bác sĩ kê đơn với cơ số thuốc uống thời gian 10 ngày, sau đó khám lại (có thể phải điều chỉnh thuốc). Uống hết ba đợt theo đơn bác sĩ Bệnh viện quen không đỡ, trong tâm trạng vừa hoang mang, vừa lo sợ - nghe người nhà mách bảo, chị chuyển sang Bệnh viện khác, rồi đến cơ sở khám chữa bệnh tư nhân nổi tiếng ở đường Điện Biên Phủ - tổng cộng thêm 60 ngày. Thân thể ngày càng rã rời, đến uống ngụm nước cũng khó nuốt. Đau cổ, nhức đầu… mất ngủ.

2. Gặp thầy, hợp thuốc 

U lành tuyến giáp đã phẫu thuật bị di căn điều trị đặc biệt được ba tháng không kết quả - “những ngày đen tối còn lại của cuộc đời” đã cầm chắc, nếu 60 – 70 tuổi, chị đã tặc lưỡi “cho qua”, đàng này tuổi mới 41, con lớn nhất mới 18 tuổi vẫn còn non dại, chồng chưa đến tuổi 50, lực lưỡng, tháo vát, đẹp trai… nên chị càng thấy tiếc nuối. Nặng tâm trạng chán chường, đầu tháng 7-2008, chị lang thang đến từng gia đình họ mạc với ý định (giữ kín không nói cho ai)… chia tay mọi người. Không ngờ cuộc đời chị lại rẽ sang bước ngoặt đầy hứa hẹn khi gặp chs em họ Trần Văn Núi. Sống cùng xã, song phần ai cũng quanh năm lo làm ăn, phần vì họ hàng xa, thêm nữa – là chị nhưng lại thuốc thế hệ khác, kém em hơn một giáp, nên chị - em chẳng mấy khi gặp nhau, giãi bày tâm sự.

Nghe xong chuyện của chị, Núi cười vang cả nhà:
- "Vô tư mà sống, bà chị! Theo lý thuyết bệnh lý ung thư của thầy Long (lương y Đào Kim Long – VT) bà chị mới đi độ ba. Em xấu hơn bà chị một bậc, sắp đến tuổi nghỉ hưu, vẫn khoẻ mạnh thế này… Em có thể lấy xe máy đưa bà chị xuống Hà Nội, gặp thầy Long ngay bây giờ!".

Câu chuyện của anh Núi còn dài dòng, lắm chi tiết ly kỳ hơn chuyện “u lành di căn” của chị Sinh. Đầu năm 2004 thỉnh thoảng anh thấy bụng đau âm ỉ, đại tiện “có vấn đề”. Nghĩ mấy ngày Tết ăn uống vô tội vạ, thịt rượu quá nhiều nên bị rối loạn tiêu hoá, anh uống thuốc sunfaganin, sau đó là bécberin và điều chỉnh chế độ dinh dưỡng hàng ngày hợp lý. Bụng dạ ổn dần, nhưng chỉ được vài ba tuần, chứng bệnh lại xuất hiện. Gần hết năm, đến lúc đại tiện ra máu, nhưng không bị lòi dom, anh nghĩ mình bị trĩ nội. Tự mua thuốc Tây, thuốc Nam, cả tháng ăn rau diếp cá, rồi canh cá diếc – cũng vô hiệu.

Đi bệnh viện huyện khám, bác sĩ chẩn đoán: Viêm trực tràng. Uống thuốc theo đơn bác sĩ không đỡ, tình trạng đau bụng – rối loạn tiêu hoá càng trầm trọng. Sang bệnh viện Sơn Tây, bác sĩ nghi bị ung thư đại tràng, khuyên về Hà Nộ khám cho chắc chắn. Kết luận của bác sĩ Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức khẳng định nghi ngờ của bác sĩ Bệnh viện Sơn Tây là chính xác, chưa tin hẳn, anh đi tiếp Bệnh viện K. Cũng chẩn đoán y hệt!

Cầm chắc ung thư đại tràng, nhiều người khuyên anh nên xin vào Bệnh viện K “đầu ngành, đúng tuyến” điều trị cho yên tâm, nhưng anh quay lại Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức vì tiện có người quen. Cuối tháng giêng 2005, đúng dịp cuối năm cũ kề năm mới, các bác sĩ bệnh viện Việt – Đức đã thực hiện thành công ca phẫu thuật, cắt gần nửa mét ruột bị bệnh, để anh kịp về nhà ăn Tết vui vẻ với gia đình. Sau Tết, theo phác đồ điều trị - thỉnh thoảng anh lại về Hà Nội để tiếp tục điều trị hoá chất.

Anh kể, ngay lần đầu tiên về Hà Nội truyền thuốc, anh đã đủ sức tự mình đi xe máy (vượt chặng đường trên 80km), bất kể trời nắng hay trời mưa. Tháng sáu kết thúc liệu trình hoá trị, qua báo chí, với hy vọng củng cố cơ thể sau phẫu thuật và hoá trị, ngay đầu tháng bảy anh tìm đến lương y Đào Kim Long để uống thuốc dân tộc cổ truyền.

Sau khi bắt mạch, nghe kể bệnh tình và xem hồ sơ bệnh án của anh Núi, ông Long chậm rãi bảo rằng, quyết định của anh là đúng đắn. Bởi đã bị ung thư, dù có áp dụng tất cả các giải pháp hiện có của y học hiện đại (phẫu thuật, hoá trị và xạ trị) vẫn không loại trừ được hoàn toàn nguy cơ di căn. Vì thế cần phải liên tục bồi bổ sức khoẻ. Và cả khi đã uống thuốc dân tộc cổ truyền, con bệnh vẫn có thể tái phát. Thực tế ông Long đã và đang giải quyết không ít trường hợp như thế. Vấn đề của người không may mắc bệnh là phải xác định tinh thần kiên trì chiến đấu, cho đến khi cơ thể khắc phục được tình trạng rối loạn chuyển hoá protein.

Đúng như lời ông Long, từ ngày uống thuốc của ông, da dẻ anh Núi hồng hào, người khoẻ hơn, nhưng đến tháng 3-2008 (tức hơn ba năm sau thời gian phẫu thuật), trên cổ anh (chỗ dưới “quả táo Adam”) bỗng nhiên nhô lên “cái bướu” cỡ quả nhãn. Đi bệnh viện khám, làm xét nghiệm, bác sĩ kết luận: Ung thư đại tràng di căn lên tuyến giáp”.

Đã cố trấn tĩnh, song tay anh Núi vẫn run như điện giật, lúc đưa cho ông Long xem phiếu kết quả xét nghiệm bệnh tình của mình. Trái với tâm trạng u buồn của bệnh nhân, ông Long điềm tĩnh an ủi:

- "Trường hợp của anh không có gì phải lo. Anh Vũ Văn Nghi ở thành phố Hồ Chí Minh ung thư phổi đã phẫu thuật và xạ trị bị di căn cả chục khối u lên cổ, lên đầu, đã hơn hai năm vẫn sống khoẻ; anh có mỗi một cục ở cổ - chuyện vặt!".
Nói rồi, ngoài thuốc anh vẫn uống, ông Long khuyên nên dùng thêm linh đan Thiềm ô châu (bột cóc tán nhỏ sau khi đã đốt thành than – sản phẩm bí truyền) – mỗi ngày uống hai gói (mỗi gói 2,5g). Từ ngày uống linh đan Thiềm ô châu, anh Núi ăn thấy ngon miệng hơn, ngủ đẫy giấc hơn. Sau khoảng ba tháng uống linh đan Thiềm ô châu, “cái nhọt” ở cổ biến mất hẳn.

Thế nên hôm gặp chị Sinh, không phải giải thích dài dòng, nhìn cái cổ nhẵn thín của chú em, chị tin luôn và ngay Chủ nhật tuần đó, chị nhờ Núi đưa về Hà Nội gặp thầy Long.
Cũng là khối u di căn, nhưng tình trạng của chị Sinh trầm trọng hơn, nên ngoài thuốc sắc và linh đan Thiềm ô châu, chị còn phải châm cứu. “Mà cũng kỳ lạ - chị kể bỗ bã y hệt chuyện vừa xảy ra còn nóng hổi – cổ đang cứng đơ, đầu đang nhức đến mang tai bỗng chốc nhẹ bỗng, ngay sau 45 phút thầy Long ngừng máy, rút hàng chục cái kim nhỏ xíu ra khỏi người. Mà mỗi tuần tôi chỉ có thể về Hà Nội châm cứu được duy nhất một lần. trong khi ở quê, đến thầy khác hai ngày châm cứu một lần mà chẳng có tác dụng gì”.

Thời gian điều trị lâu hơn anh Núi, nhưng chưa đến bốn tháng, những khối u trên cổ cũng mất hẳn. Sức khoẻ hồi phục gần như bình thường.
- “Cổ nhẵn rồi, hai chị em còn xuống thầy Long làm gì?” – Tôi thắc mắc hỏi chị.
- “Phòng bệnh hơn chữa bệnh, em và chú Núi vẫn uống Thiềm ô châu để bồi bổ sức khoẻ và tăng cường khả năng đề kháng của cơ thể. Nhân thể, lấy thuốc cho cô em họ”.
Tính đến tháng giêng năm nay, với anh Núi đã hơn ba năm, với chị Sinh – đã hơn nửa năm, bất kể thời tiết ra sao – tháng nào họ cũng một vài lần phóng xe máy từ huyện Thanh Thủy vượt cầu Trung Hà, qua thị xã Sơn Tây, vượt quãng đường trên 80 km về Hà Nội để đến với lương y Đào Kim Long. Gần chín giờ sáng hôm gặp họ, tôi hỏi hai chị em khởi hành từ nhà lúc mấy giờ, chị trả lời: Sáu giờ. Tự nghĩ, thật khó tin hai bệnh nhân ung thư di căn vẫn chạy được xe máy với phong độ tuyệt vời như vậy.

- "Qua trường hợp u lành cũng di căn của chị Sinh" – lương y Đào Kim Long lên tiếng – "đã đến lúc cần phải có cái nhìn mới về cơ chế phát triển bệnh ung thư. Trong điều trị, không nên phân biệt u lành – u ác. Cả hai loại đều là hậu quả của tình trạng rối loạn chuyển hoá protein trong cơ thể. Khối u có thể xuất hiện ở khắp cơ thể hoặc cục bộ tại nơi năng lượng bị rối loạn. U lành hay u ác về bản chất chỉ là một dị vật, nếu bình thường cơ thể khoẻ mạnh, tức quá trình chuyển hoá protein không bị rối loạn, năng lượng loại dị vật của cơ thể hoàn toàn có khả năng tiêu diệt khối u. Trường hợp quá trình chuyển hoá protein của cơ thể bị trục trặc, u lành cũng trở thành u ác và di căn – tất nhiên cũng nguy hiểm không khác gì u ác.

Ngoài ra, cả u lành và u ác – nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời và đúng cách đều phát triển theo trình tự bốn giai đoạn. Giai đoạn đầu: Tế bào lạ xuất hiện tại một cơ quan hoặc tổ chức nào đó của cơ thể; Giai đoạn hai: Tế bào lạ, u lạ phát triển rộng ra tại chỗ; Giai đoạn ba: Di căn ra toàn bộ tổ chức hoặc cơ quan đó; Giai đoạn cuối: Di căn xa hơn, lan sang những bộ phận khác, cơ quan khác của cơ thể (trường hợp anh Núi trong bài là thí dụ điển hình: Từ ung thư đại tràng di căn đến ung thư tuyến giáp)".

3. Thay lời kết 

Theo chúng tôi, trường hợp ung thư di căn chị Sinh trong bài viết có thể là hậu quả của một ca chẩn đoán nhầm. Bởi theo lý thuyết, u lành không thể di căn. Tuy nhiên, để rộng đường dư luận và tôn trọng quan điểm của lương y Đào Kim Long, chúng tôi quyết định vẫn đưa toàn bộ sự thật câu chuyện. Rất mong nhận được ý kiến trao đổi của các nhà khoa học và đông đảo bạn đọc quan tâm. (Vì hoàn cảnh tế nhị, xin phép đổi họ, tên thật của hai bệnh nhân).

* Da cóc trị... ung thư di căn? 
Thứ năm, 13/11/2008, 10:30 GMT+7 

Qua cuộc trò chuyện trong cuộc gặp tình cờ với vợ chồng KS Vũ Văn Nghi sáng Chủ nhật, 21/9 vừa rồi, tại cơ sở chữa bệnh của DS, lương y Đào Kim Long (Phường Phú Thượng, Tây Hồ, Hà Nội), tôi may mắn biết thêm tác dụng chữa bệnh mới của "Cậu ông trời'': Da cóc làm tiêu khối u ác tính Hodgkin!

Vợ ông Vũ Văn Nghi (Phường Bình An, Quận 2, TP Hồ Chí Minh) thật thà kể về sự cố Hodgkin xảy ra với chồng mình, hồi giữa tháng tám vừa qua: Sáng hôm ấy thấy ông tự mình không thể ngồi dậy khỏi giường ngủ, tôi đã can ngăn, khuyên ông hủy chương trình bay ra Hà Nội để về quê Nam Định ăn giỗ họ nhưng không được".

Tôi không ngạc nhiên khi biết ông Nghi hủy chuyến đi, bởi hơn một năm trước, trong quá trình thu thập tài liệu viết bài phóng sự trên, tôi đã chứng kiến ông có nghị lực chiến thắng bệnh tật phi thường thế nào. Chỉ tính trong thời gian chưa đầy 4 năm (đến thời điểm tôi được tiếp nhận hồ sơ bệnh án của ông, tháng 9/2007), cơ thể người đàn ông ngấp nghé tuổi 60 đã phải gánh chịu những tai họa hiếm người có thể vượt qua: Một cuộc đại phẫu lồng ngực, một liệu trình xạ trị, hai liệu trình hóa trị (mỗi liệu trình 5 đợt, 21 ngày/đợt) và ba lần ung thư di căn!

Tháng 8/2004 ông Vũ Văn Nghi đã phải phẫu thuật cắt thùy sau, buồng phổi trái vì ung thư. Tháng 3/2005 con bệnh quái ác di căn (xét nghiệm chiếu chụp phát hiện nhiều trong ổ bụng), mặc dù trước đó đã được hóa trị và xạ trị sau phẫu thuật. Sau khi thăm khám, các bác sỹ điều trị buộc phải quyết định áp dụng liệu pháp hóa trị lần hai.

Chưa đầy 12 tháng sau, đầu năm 2006, cổ ông tự nhiên cứng nhắc, không thể cử động bình thường, đau ê ẩm. Trên phim chụp xét nghiệm sau đó thấy rõ trên xương cổ những vết đen đậm - nhạt loang lổ. Bác sỹ chẩn đoán: Con bệnh đã "ăn" lên cổ. Người thấy thuốc nói ra, song theo kinh nghiệm nhiều năm hành nghề, cuộc sống của bệnh nhân ung thư phổi đã di căn lên cổ chỉ có thể kéo dài tối đa 2-3 tháng. Lý do: Con bệnh không bị tiêu diệt, cho dù đã áp dụng cả ba phương pháp hữu hiệu nhất và tiên tiến nhất, mà ngành Tây y nước nhà đang sở hữu (Phẫu thuật cắt bỏ khối u; Hóa trị - tiêu diệt tế bào ung thư bằng hóa chất và xạ trị - tiêu diệt tế bào ung thư bằng tia phóng xạ).

Tây y bó tay, trong bước đường cùng - theo lời mách bảo của ông Lý Văn Vọng, bạn thân từ thời học đại học ở CHDCND Triều Tiên, những năm 60 thế kỷ trước, tháng 3/2006 với tấm thân da bọc xương và cái đầu trọc lốc, ông bay ra Hà Nội tìm gặp lương y Đào Kim Long, chủ yếu với hy vọng "kéo dài cuộc sống ngày nào hay ngày ấy". Sau 3 tháng châm cứu và uống thuốc tự sắc, kết quả xét nghiệm cho thấy các chỉ số ung thư tụt xuống rất thấp. Cổ hết đau, tóc mọc kín đầu, sức khỏe hồi phục, ông trở lại công việc giám đốc công ty.
Được gần một năm sức khỏe bình thường, tháng 2/2007 ông Nghi bỗng cảm thấy chân tay rã rời, khó ngủ, hay nhức đầu và tệ hại hơn - trên hộp sọ lác đác xuất hiện những khối u cỡ quả nhãn, quả vải. Vào bệnh viện khám, các bác sỹ kết luận: Bạo bệnh đã di căn lên đầu! Mặc dù lương y Đào Kim Long thay đơn bốc thuốc và áp dụng giải pháp đắp lá cái lên những khối u, song kết quả không được như mong đợi. Các khối u có mõm đi, song toàn thân vẫn rã rời, đau đầu, mất ngủ.

Đối với nguy cơ tử thần cận kề trong khi tất cả "vũ khí" truyền thống của lương y Đào Kim Long đã không thể phát huy tác dụng, ông Nghi đành nghĩ đến giải pháp cuối cùng lưu truyền trong dân gian, nhưng hết sức mạo hiểm - Linh đan Thiềm ô châu đã được thầy giáo cũ của vợ mình - ông Chung (ung thư gan di căn, đang sống ở TP.HCM) áp dụng thành công một năm trước, dưới sự chỉ dẫn của chính ông Long.

Bài thuốc chế biến con cóc đốt thành than cầu kỳ, mất thời gian đã mang lại cuộc sống nhiều tháng gần như bình thường cho ông Nghi, thế nhưng theo lời kể của vợ ông - do tham công tiếc việc (ngày 12 làm việc với đối tác ở Đồng Nai, ngày 13 làm việc ở Vũng Tàu), sáng 14 thức giấc, phải nhờ bà nâng hộ cái đầu, ông Nghi mới đứng dậy được khỏi giường. Cái cổ lại cứng nhắc. Đau thấu xương vì khối u to gần bằng quả nhót mọc trên cổ, ngay dưới dái tai bên trái.

Bất chấp lời can ngăn của vợ, ông vẫn quyết ra Hà Nội để về quê Nam Định, theo đúng kế hoạch. Tính ông vẫn thế - đã định cái gì bao giờ cũng làm bằng được. Cũng may chuyến bay hôm đó vắng khách, bà dễ dàng tìm được chỗ cho ông nằm ngả lưng thoải mái. Ra đến Hà Nội, bà lập tức liên lạc, đưa ông đến nhà lương y Đào Kim Long để châm cứu. Cổ đỡ đau, nhúc nhắc cử động được, ông bà lên đường về quê giỗ họ. Ngày 16, trước khi bay trở lại TP.HCM, ông được châm cứu thêm một lần nữa.

Bay về nhà lần này, vợ chồng ông mang theo bài thuốc mới của lương y Đào Kim Long để giải quyết khối u quái ác mới nhú trên cổ. Ngay khi khối u kịp khô sau 7-8 giờ đắp lá cái (hỗn hợp lá cái chế biến bằng cối xay sinh tố trộn một chút nước lã đun sôi để nguội), bà dùng điếu ngải cứu (lá ngải cứu khô cuộn như điếu xì gà) lên miếng da vừa bóc từ con cóc đang sống khỏe mạnh úp mặt trong vào khối u. Chầm chậm di điếu ngải lên bề mặt khối u, đến khi miếng da cóc tươi rói bay hết hơi, khô cong là được. Cứ sau mỗi lần đắp lá - "cứu" da cóc, khối u nhỏ đi một chút.

Hết đúng cái da cóc thứ 10, khối u biến hẳn, thành cổ phẳng lỳ. Cảm giác cứng đơ, đau đớn chỉ còn phảng phất.

... Mới về nhà được hơn một tháng, sáng 21/9, lại thấy ông ngồi như tượng trên chiếc ghế nhựa châm cứu trong phòng khám nhà ông Long, kim cắm đầy người, tôi ngạc nhiên, hỏi ông lý do vì sao không làm ở TP.HCM - vừa đỡ tốn tiền xe cộ, vé máy bay, vừa đỡ mất thời gian? Ông Nghi nhoẻn miệng đáp: "Tôi cũng muốn thế, mà không được".

Rồi ông dẫn giải: "Bệnh cái cổ của tôi bắt buộc phải châm cứu. Sống ở TP.HCM hơn 20 năm, bạn bè nhiều, quen biết rộng, đã mời mấy thầy châm cứu nổi tiếng, song không thầy nào làm được như thầy Long. Cổ đang cứng đơ, đau nhức - thấy nhẹ hẳn, chỉ sau một lần châm cứu. Vì thế tuần này tôi ra Hà Nội, để thầy Long điều trị dứt điểm cái cổ sau khi đã giải quyết xong khối u bằng bài thuốc đắp lá cái kết hợp với "cứu" da cóc.

Cách làm của thầy Long có hiệu quả đặc biệt chính là nhờ vào phương pháp Thần châm độc đáo do chính thầy nghĩ ra. Mà không chỉ châm cứu, ngay trong chẩn đoán và điều trị bệnh thầy Long cũng phát hiện ra không ít nguyên lý gây bệnh và giải pháp chữa trị hết sức sáng tạo, mang lại hiệu quả cực cao" - Ông Nghi khẳng định.

"Tôi có thằng cháu trai con chú em ở Nam Định - Ông Nghi kể tiếp - Ba năm trước, đang tuổi "bẻ gẫy sừng trâu", cao gần mét bảy, bỗng nhiên đi tiểu ra máu. Nghĩ con trai viêm đường tiết niệu, bố mẹ cho uống thuốc kháng sinh đặc trị - không khỏi. Gia đình lo lắng, đưa ngay đi khám - nhưng cả ở địa phương và một số bệnh viện lớn ở Hà Nội, không đâu xác định được nguyên nhân. Mẹ cháu cho rằng, vì dốc sức học thi vào lớp 10 trường chuyên, cơ thể suy nhược sinh bệnh.

Riêng ông Long - thăm khám xong, đã khẳng định: "Cơ thể cháu không may bị mất khả năng thống huyết và nhiếp huyết (cơ chế thu hồi và điều tiết máu ở bể thận bị rối loạn). Máu tự thoát qua bể thận, thậm chí cả trong trường hợp không có nước tiểu. Ông kê đơn, bốc cho cháu 7 thang thuốc theo thuật Kỳ môn y pháp. Cháu đỡ hẳn ngay khi uống hết thang thứ ba và khỏi hẳn - khi hết thang thứ sáu!".

Với câu hỏi: Vì sao "bệnh cái cổ" của ông Nghi bắt buộc phải châm cứu và lý do chỉ có Thần châm do chính tay tác giả thực hiện mới phát huy hiệu quả, lương y Đào Kim Long giải thích: "Do hậu quả ung thư phổi di căn, vùng cổ ông Nghi bị thiếu máu trầm trọng. Các mô cơ bắp, cơ trơn... không được cung cấp máu đầy đủ làm cho cổ bị cứng, rất đau đớn và khó cử động. Châm cứu truyền thống nhằm điều hòa thần khí dựa trên lý thuyết huyệt mạch không giải quyết được tình trạng này. Riêng kỹ thuật Thần châm của tôi vận dụng năng lượng nội sinh xuất hiện do kết quả phản xạ thần kinh tự nhiên và khả năng loại dị vật của cơ thể để phục hồi khả năng cung cấp máu bình thường cho khu vực này của cơ thể đã phát huy được hiệu quả".
Trở lại bài thuốc "cứu" da cóc trị khối u Hoghkin lương y Đào Kim Long mới truyền cho ông Nghi cách đây không lâu, lương y Long điềm đạm lý giải: "Bài thuốc chữa đi tiểu ra máu không rõ nguyên nhân và thuật Thần châm là kết quả nhiều năm nghiên cứu của tôi; Riêng bài thuốc "cứu" da cóc trị khối u Hoghkin là tác phẩm của cụ Tuệ Tĩnh, ông Tổ Y học dân tộc cổ truyền Việt Nam (1330 - 1400). Cụ chính là thầy thuốc đầu tiên chữa trị ung thư ở nước ta. Dựa vào nguyên lý "lấy độc trị độc", cụ đã tận dụng một cách sáng tạo tác dụng trị bệnh của cây ngải cứu kết hợp với các chất độc tiềm ẩn trên da cóc tươi để hóa giải chứng bệnh nan y này. Các khối u mọc trên cột sống và trên hạch Hoghkin có lẽ là chứng bệnh ung thư đầu tiên mà cụ Tuệ Tĩnh chữa trị thành công. Trong tác phẩm Nam dược thần hiệu vĩ đãi của mình, cụ còn ghi lời dặn hậu thế về khối u thuộc dạng bệnh này: "Hậu bối (khối u mọc trên cột sống) sẽ gây tử vong, nếu không được "cứu" trong thời gian bẩy ngày, vì con bệnh đã ăn vào tủy xương".

"Tôi chữa bệnh theo y văn, song không giáo điều, máy móc - DS. lương y Đào Kim Long nói tiếp - Trong hoàn cảnh có thể, bao giờ tôi cũng cố gắng khám phá bí quyết thành công của bài thuốc. Trước khi hướng dẫn ông Nghi áp dụng giải pháp "cứu" da cóc trị khối u ác tính Hoghkin của cụ Tuệ Tĩnh, tôi đã tiến hành hàng loạt thí nghiệm nhằm tìm hiểu các thành phần sinh hóa của da cóc.

Được sự giúp đỡ tận tình của hai nhà khoa học - TS Phan Quốc Kinh và TS Hà Huy Kế, chúng tôi đã tiến hành hàng loạt nghiên cứu phức tạp tại phòng thí nghiệm. Kết quả thật bất ngờ. Khác với tất cả bộ phận còn lại của con cóc như xương thịt, gan ruột, phổi, tim... chỉ duy nhất da cóc có chất phát quang (tan trong cồn phát quang vàng khi gặp ánh sáng cực tím).
Chất phát quang kỳ lạ (tồn tại không đổi, ngay cả sau khi tinh luyện) tập trung nhiều nhất ở vùng da lưng - cóc càng già và to (cóc cụ), lượng chất này càng nhiều. Qua thực tế khỏi bệnh của ông giáo Chung, ông Nghi và một số bệnh nhân khác nhờ dùng linh đan Thiềm ô châu và kinh nghiệm, mà cụ Tuệ Tĩnh đã đúc rút thành bài thuốc "cứu" da cóc trị các khối u hạch và hậu bối, tôi kết luận: Chất phát quang có trong da cóc chính là yếu tố quan trọng giúp hệ miễn dịch của cơ thể chiến thắng các tế bào ung thư và càng vững tin, khi giới thiệu cho ông Vũ Văn Nghi" - DS lương y Đào Kim Long bộc bạch.

* Đồng hương thần y Hơ Dzun gõ cửa lương y đồng hương “ ông tổ thuốc nam” Tuệ Tĩnh...
Thứ Ba, 18/03/2008 10:29 GMT+7

Cuối tháng 4 năm 2006 , sau thời gian khá dài đã định buông xuôi cho số mệnh vì bạo bệnh , ông Lý Chung Yên( Lee Jung Yeol) công dân Hàn Quốc ( chủ nhà hàng Gà Tần Sâm ( Ginseng Garden Restaurant) 25 Ngọc Khánh , Hà Nội miễn cưỡng nghe theo lời khuyên “ thử gõ cữa thầy thuốc Việt Nam “ Của bạn thân người việt – ông Lý Thế VỌng ( tốt nghiệp đại học tại CHDCND Triều Tiên khóa 1967-1973).

Chiều lòng tốt của bạn ., song ông Lý Chung Yên không hy vọng nhiều vào khả năng thoát khỏi bàntay con bệnh , mà các giải pháp điều trị tây y đã chịu bất lực .Về phần mình , tuy không phải là thầy thuốc , Nhưng ông Lý thế Vọng có đủ căn cứ để khuyên bạn . Trước đó không lâu theo yêu cầu của bạn học thời phổ thông – ông Vũ Văn Nghi , bệnh nhân ung thư phổi ở TPHCM ( nhân vật chính bài viết “ con cóc trị được ung thư ? đăng trên “ tri thức trẻ số 224/ ngày 10 tháng 10 năm 2007 – VT ) ông Vọng đã có cơ hội tìm hiểu khả năng trị bệnh của lương y Đào Kim Long .

Chính ông VỌng là người đã đưa ông Nghi đến gặp ông Long để khám và điều trị . Mới sau gần hai tháng châm cứu và uống thuốc của ông Long , mặc dù bị di căn sau thời gian áp dụng cả ba phương pháp điều trị ung thư hiện đại nhất ( phẩu thuật cắt bỏ khối u , xạ trị và hóa trị ) sức khỏe ông Nghi vẫn được cải thiện rõ rệt – lấy trường hợp khả quan của bạn mình làm chứng cớ , ông vọng đã phần nào thuyết phục được ông bạn Hàn Quốc .

Trò chuyện với ông Lý Chung Yên tại Hà Nội gần trưa ngày 2 tháng 11 năm 2007 , tôi hỏi vị khách về thần y Hơ Dzun – đồng hương của ông trong bộ phim Hàn Quốc cùng tên đang chiếu trên truyền hìnhcáp trung ương được đông đảo khán giả Việt Nam ngưỡng mộ . Ông chủ nhà hàng Gà Tần Sâm Hàn Quốc hồn nhiên bộc bạch : “ Quê tôi ở Choung Cheong, cách quê thần y Hơ Dzun không đến 80 cây số . Nhân dân Hàn Quốc cũgn hết sức khâm phục tài chữa bệnh và tấm lòng coi người bệnh như người thân của thầy Hơ Dzun “ Tôi nói với ông bạn Hàn Quốc rằng , Việt Nam cũng có thầy thuốc tài – đức tương tự như thần y Hơ Dzun , ông là Tuệ Tĩnh ( thế kỷ XIV) và được tôn vinh là ông tổ thuốc nam , và quê lương y Đào Kim Long chỉ cách Nghĩa Phú , huyện Cẩm Giang ( Hải Dương ) quê Tuệ Tĩnh không đến 10 cây số .

Ông Lý Chung Yên vui vẻ bình luận , thế thì đúng là tôi có duyên lớn . Lý giải cho tâm trạng định buông xuôi cho số mệnh vì bạo bệnh “ của bản thân , trước ngày nghe ông Vọng đến lương y Đào Kim Long , ông ;bạn Hàn Quốc phân bua : Nói về giới hạn thành công của nổ lực làm việc gì đó , Hàn Quốc cũng có câu tục ngữ tương tự “ quá tam ba bận “ của “ Việt Nam “ . Đã thử làm việc gì đó đến ba lần , thậm chí hơn cả hai lần “ quá tam “ như vậy , mà vẫn không thành , có ai không bi quan ?

Hơn 18 năm trước – tháng chín năm 1989 , mới bước vào tuổi 45 , ông Lý Chung Yên bỗng thấy như mình roi tõm xuống cái hang không đáy bầu trời đổ sập , khi nghe các bác sĩ bệnh viện ung bứơu Xơ- un kết luận Ung thư bang quang ! Trước đó vài tháng , thỉnh thoảng ông thấy một số dấu hiệu bất thường với đường tiết niệu . Tự nhiện nhu cầu tiểu tiện nhiều hơn bình thường , nhất là ban đêm . Sau đó thấy tiểu buốt và nước tiểu chuyển sang màu hồng , rồi đỏ như có máu . Cứ tưởng viêm đường tiết niệu thông thường , uống thuốc kháng sinh cả tháng không đỡ , . Đến bác sĩ thăm khám , xét nghiệm nước tiểu chụp cắt lớp …. Kết quả sinh thiết khối u bàng quang đưa đến kết luận xét đánh trên .

Các bác sĩ điều trị hỏi ông , có đồng ý phẩu thuật ? Nhớ đến tình cảnh anh trai đã qua đời chỉ sau một năm phát hiện ra bị ung thư dạ dày , thương vợ trẻ và hai con còn dại ( con trai út tám tuổi , con trai cả mười tuổii ) Nghe câu hỏi trên , ong Lý Chung Yên không biết nên trả lới thế nào , đànhh chuyển sang thăm dò ý kiến thầy thuốc . Ông hỏi tại lại – theo bác sĩ thì nên giải quyết thế nào ? Bác sĩ bảo rằng , , khối u của ông còn nhỏ , phẫu thuật sau đó áp dụng giải pháp hóa trị xác suất khỏi bệnh là rất cao . Là tín đồ đạo tin Lành , ông đinh ninh rằng , mạng sống con người hòan tòan phụ thuộc vào vào ơn Đức Chúa trời . Nếu là con chiên ngoan đạo , may mắn được Đức Chúa Trời rủ lòng thương , tai họa thế nào cũng sẽ vượt qua.

Nghĩ thế , ông quyết định chấp nhận giải pháp của nhóm bác sĩ điều trị .Ca phẩu thuật được tiến hành nhanh chóng . sau đó , ông được áp dụng giải pháp hóa trị ( truyền hóa chất để diệt tế bào ung thư trực tiếp vào bàng quang ) .Tóc trên đầu ông rụng dần . Thân thể rã rời , miệng nhai kim chi ( món dưa muối dân tộc truyền thống rất ngon Hàn QUốc ) , mà thấy không khác gì nhai rơm khô , giấc ngủ chập chờn , nhiều khi mất ngủ . Sau thời gian hóa trị , sức khỏe ông hồi phục dần nhờ được bác sỹ cho uống nhiều loại thuốc khác . Vợ con và những ngừơi thân trong gia đình , bạn bè … mừng vui chứng kiến ông trở lại cuộc sống bình thường . thế nhưng những ngày đầy ắp tiếng cười không kéo dài .

Ngay ba năm sau , khi đến bệnh viện Xơ-un kiểm tra sức khỏe , các bác sỹ điều trị ngạc nhiên khi nhìn phim chụp cắt lớp – khối u mọc lại như cũ ! Một lần nữa – người ta buộc phải tham kh ảo ý kiến bệnh nhân . Ông lý Chung Yên bây giờ kể lại , số phận đã thế , mình đành phó thác cho cuộc đời còn lại cho nhà chuyên môn . Và liệu trình điều trị đầu tiên được lặp lại . Tất cả y hệt lần đầu : Phẫu thuật ( nội soi) – Hóa trị và uống các biệt dược khác .

Cuộc chiến dai dẳng chống bạo bệnh của ông chủ nhà hàng Gà Tần Sâm bây giờ không khác gì trò chơi ú tìm ưa thích của trẻ thơ nhiều quốc gia trên ;thế giới , có điều khác “ trò chơi ú tìm “ của ông diễn ra theo trình tự chu kỳ : Phát hiện khối u – cắt bỏ , truyền hóa chất diệt tế bào ung thư – khỏi một thời gian , khối u mọc lại – cắt bỏ , truyền hóa chất diệt tế bào ung thư khỏi một thời gian , khối u mọc lại “ kéo dài suốt 1 7 năm ( từ tháng tám 1989 đến đầu năm 2006 ) tổng cộng ông Lý Chung Yên đã lên bàn mổ bẩy lần ! một kỷ lucj có lẽ hiếm thấy . .Trước ngày quyết định nghe lời ông Vọng , gõ cửa Lương y Đào Kim Long mấy tháng , thơì gian còn ở Xe- un , kết quả thăm khám kết luận khối u mọc lại , quả thực ông Lý Chung Yên đã quyết đầu hàng con bệnh . Bơỉ sau bẩy lần phẩu thuật , đau đớn không đáng kể , song cùng một thao tác diễn ra quá nhiều lần , lại mất nhiều thời gian đầu óc căng thẳng vì hóa trị và uống h àng chục loại thuốc khác nhau – tất cả đã khiến ông không còn đủ nghị lực và kiên nhẫn chấp nhận lặp lại ca phâũ thuật lần thứ tám này .

Hơn 30 năm làm nghề kinh doanh , từ buôn bán nhu yếu phẩm , đến máy móc công nghiệp , rồi dịch vụ ăn uống , hết thị trường Hàn Quốc rồi lại Việt Nam … đã chứng kiến không ít bất ngờ , song đối với thương gia Lý Chung Yên có lẽ chưa bất ngờ nào lớn như sự kiện cuối tháng mười một năm 2006 , . Sau bẩy tháng uống thuốc của lương y Đào Kịm Long , kết quả xét nghiệm của bệnh viện ung bứu Xơ – Un khẳng định : Bàng quang đã sạch , không còn khối u nào ! không kìm được phấn khởi , dù đã 62 tuổi , ông vẫn nhảy cẫng lên vì vui sướng . Ngay khi trở lại Việt Nam , ông mời bằng được lương y Long và ông Vọng – ông bạn mát tay đến nhà hàng Gà Tần Sâm của mình , ăn bữa cơm Hàn Quốc thân mật . Có đến cả chục món ăn đặc sản xứ Hàn được mang ra đãi kh ách , đến hôm nay ông Long chỉ còn nhớ cái tên : Kim chi và cháo gà Tần sâm Cao Ly .

Vì có thời gian làm chủ tịch “ Hội những người Hàn sống tại Hà Nội “ nên khá nhiều công dân Hàn Quốc biết ông Lý Chung Yên và câu chuyện chữa bệnh ung thư ly kỳ của ông . Hàng chục đồng hương - nạn nhân các căn bệnh hiễm đã nhờ ông đưa đến vị thầy thuốc đã giúp ông không phải lên bàn mổ lần thứ tám . Ngày tôi may mắn gặp ông Lý Chung Yên chính là lúc ông đưa một nữ đồng hương , tình nguyện viên Tổ chức “ chăm sóc toàn cầu “ ( Global Care ) đang thực hiện một chương trình nhân đạo ở tỉnh Lào Cai đến nhà lương y Long khám bệnh và cắt thuốc . Chị bị u xơ tử cu ng , đã phẫu thuật tại Xơ –Un , cuối tháng tám vừa qua , trả lời câu hỏi , cảm tưởng về Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung , ông lý Chung Yên cởi mở : - Sang Việt Nam từ năm 1995 tôi coi Hà Nội như là quê hương thứ hai của mình . Vợ và hai con tôi cũng nhiều lần đến Hà Nội .

Riêng con trai út , sinh viên khoa tiếng Việt (Đại học Xơ –Un ) đã từng học ba năm tiếng Việt tại đại học KHXHNV , đại học quốc gia Hà Nội . Chúng tôi đều coi Hà Nội là quê hương thứ hai của mình . Các bạn Việt Nam th ân thiện tốt bụng và mến khách . Lương y Đào Kim Long có thể là một thí dụ . Với người bệnh nào ông cũng tận tâm chu đáo , trường hợp cơ thể người bệnh có khả năng đề kháng – ông hết sức chữa trị ; trường hợp không thể - tuy không nhận song bao giờ ông cũng có những lời khuyên chân thành , nghiêm túc .
X
* Ngày mai trời lại sáng…

Có bệnh thì vái tứ phương. Câu chuyện về hành trình chồng sang Sing chữa bệnh, vẫn đang viết dở, nhưng hôm nay tôi muốn chia sẻ với mọi người về những tìm hiểu và trăn trở của chúng tôi trong cuộc chiến này, và mong được mọi người chia sẻ, tư vấn, truyền đạt những hiểu biết của mình cho chúng tôi.

Trước khi anh sang Sing điều trị, tôi đã nung nấu ý định và kế hoạch, sau khi tấn công bằng Tây Y, chúng tôi, sẽ cùng nhau sang Trung Quốc để hỗ trợ bằng Đông Y. Những mong anh có được sự hỗ trợ từ nhiều phía, và thu được kết quả tốt.

Tôi lọ mọ tìm hiểu về các bệnh viện ở Trung Quốc, được mỗi người mách cho một bệnh viện, mách cho những người đã từng khỏi ở những bệnh viện khác nhau… Tôi cũng lên internet và tìm hiểu, sau này khi đã tổng hợp được thông tin, tôi gửi hồ sơ và nhờ em chị Hà (nhà anh Râu), đang học ở Trung Quốc liên hệ các bệnh viện giúp. Bạn ấy rất nhiệt tình, ngoài việc giúp contact với bệnh viện, thì giúp tôi tìm nhà trọ, tìm người phiên dịch, và lên các kế hoạch cho việc sang Trung Quốc của chúng tôi được thuận lợi.

Cả ba bố con, mẹ con kéo nhau về Việt nam, và dự định làm visa nhanh nhất. Nhưng tại thời điểm đó, chúng tôi nhận được nhiều lời khuyên là “không nên” từ các bác sỹ điều trị và bác sỹ mà chúng tôi quen biết cũng như một số bạn bè. Thực ra không ai phủ nhận tác dụng, vai trò của Đông Y trong việc chữa bệnh cho nhiều bệnh nhân một cách thần kỳ, nhưng với trường hợp của chúng tôi thì không nên - vì đang điều trị Tây Y rất tích cực, nếu có Đông Y vào, các tác dụng phụ của nó gây phản ứng với nhau thì sẽ rất nguy hiểm - điều này thì không ai đảm bảo cả. Và đúng lúc chúng tôi đang lúng túng, thì lại biết khí hậu ở Bắc KInh thời điểm đấy tòan âm độ. Điều đó sẽ gây khó khăn cho bệnh của anh ấy, vì bệnh của anh vấn đề thời tiết là rất quan trọng. Và chúng tôi quyết định là sẽ chờ đợi thời cơ thích hợp.

Đến cuối tháng 5 sau khi check lại kết quả và thấy anh có khối u mới. Gia đình tôi lại một lần nữa nghĩ đến hướng tìm về Đông Y, và tìm đường sang Trung Quốc. Lúc đấy bố chồng tôi, chỉ muốn ngay lập tức đưa anh đi sang đấy càng sớm càng tốt, vì theo ông thì” Singapore đã bó tay rồi”. Nhưng anh không đồng ý, tôi cũng cảm thấy sợ, vì ở đây mọi cái có tiêu chuẩn đánh giá chất lượng, mà nhiều lúc mình còn lúng túng. Ở Trung Quốc rộng lớn như thế, biết thế nào?.. Và lúc này anh cần hướng điều trị ngay lập tức chứ không phải sang đấy lọ mọ đi tìm hiểu. Thời điểm đấy anh nói năng và vận động rất khó, thậm chí mọi sinh hoạt cá nhân còn không tự mình làm được.

Cuối cùng thì tôi dự định tự mình sẽ mang hồ sơ sang Trung Quốc trước - gặp bác sĩ nói chuyện trực tiếp mới yên tâm được, còn anh thì vẫn ở đây điều trị và sẽ sang sau. Nhưng sau đấy tôi nhớ ra là có một anh bạn thân của anh hàng xóm nhà tôi, đang làm Tiến sỹ Đông Y ở bên đấy, và thế là tôi dịch hết hồ sơ và gửi nhờ anh giúp.

Tôi thật may mắn, toàn gặp những người cẩn thận giúp đỡ. Anh là người rất giỏi về Đông Y,có nhà thuốc về Đông Y uy tín ở Hà nội, nhưng anh không hề tự mình quyết định cho chúng tôi, mà anh đã gửi hồ sơ của chúng tôi đến 3 ông thầy của các bệnh viện chuyên về Đông Y.

Và phải đến 5 ngày sau chúng tôi mới có thông tin từ anh. Với nội dung là thuốc Đông Y không có tác dụng với bệnh của anh, mà chỉ là hỗ trợ để tăng thêm sức khỏe mà thôi. Và cũng khuyên chúng tôi nếu có thể thì nên phẫu thuật, rồi hóa trị. Còn nếu sang TQ thì hướng điều trị vẫn phải như thế, nhưng họ sẽ cho kết hợp Đông Y để tăng sức đề kháng. Và gửi cho tôt một số bệnh viện uy tín để gia đình chọn lựa.

Khi nhận được thông tin này, chúng tôi cùng quyết định luôn là nếu” chỉ có tác dụng tăng sức đề kháng”, thì không nên sang TQ lúc này, mà sẽ tiếp tục điều trị ở Sing và bổ sung tăng hệ miễn dịch bằng cách khác.

Tôi vẫn miệt mài lên mạng hàng ngày để tìm hiểu thêm về bệnh của anh và tìm hiểu về các thầy dân gian ở nhà mình. Có thông tin về bà Đinh Thị Phiển với cây xạ đen, nhưng càng tìm hiểu càng thấy tác dụng rất thấp, và nếu không cẩn thận có thể gây nên những ngộ độc với thuốc.

Tìm thấy thông tin về khả năng của một số thầy, nhưng tôi ấn tượng bởi thầy Đào Kim Long. Tôi tìm được ông từ nguồn thông tin ông có 
thuốc kích hồng cầu, tiểu cầu. Từ thành công với bệnh nhân là chủ quán gà tần sâm người Hàn Quốc. Từ việc ông là người tìm ra loại sâm quý Ngọc Linh.Từ luận cứ về bệnh ung thư và sự chuyển hóa protein.

Tôi ngay lập tức nhờ Khiêm bạn thân của anh tìm hiểu về ông, nhưng cũng không được nhiều người biết tới.

Sau này tôi lang thang thì được biết có một ông tên là 
Nghi ở Sài Gòn, bị ung thư phổi, đã phẫu thuật, hóa trị và xạ trị mà sức khỏe ngày càng yếu, và bị di căn lên não, cuối cùng nhờ bài thuốc về con cóc mà thành công được 2 năm nay rồi.

Tôi nhắn tin về nhà nhờ mẹ chồng làm thuốc cóc, và trong thời điểm đó cứ ra sức tìm hiểu về bài thuốc song song với tìm hiểu về ông Đào Kim Long. Không ngờ sau này vì việc làm thịt cóc, trên mạng viết thế nhưng thực tế thì khó khăn hơn nhiều, nên gia đình tôi gọi điện cho ông Nghi, thì thật trùng hợp là bài thuốc này do ông Long điều trị cho ông Nghi


* Thầy ta cũng chữa được ung thư 

Một buổi sáng cuối năm 2004. Tại cơ sở chữa bệnh thứ hai của ông trên ngách đường Âu Cơ, Hà Nội. T́nh cờ gặp chị Thục Viên, cô giáo dạy Hóa ở một trường trung học cơ sở Thủ đô thuộc quận Ba Đ́nh - đôi mắt đen lúng liếng trên gương mặt rạng rỡ, thân h́nh đẫy đà, săn chắc không kém cây gị lụa; tôi dám chắc, không ai tin, mới hơn 1 năm trước, không ít người thân, bạn bè đă gạt nước mắt, hụt hơi mường tượng giây phút phải đành ḷng đưa tiễn chị “sang thế giới bên kia”.

Cuối năm học 2002/2003 chị bàng hoàng bởi những dấu hiệu khác lạ trong cơ thể. Chân tay ră rời, đầu óc mộng mị, thể xác mệt lả. Buồn ngủ, mà không thể chợp mắt. Mấy ngày đầu chị nghĩ do thời tiết lúc giao thời buổi cuối xuân chuyển sang đầu hè đỏng đảnh, nóng lạnh, ẩm thấp thất thường. Thế nhưng càng về sau, chị thấy thể trạng ngày sau nặng nề hơn ngày trước. Ban ngày chán ăn, bất kể bữa nào – hễ cho món ăn ǵ vào mồm cũng một cảm giác đắng ngắt. Ban đêm đầu nặng như đeo đá. Mất ngủ. Cơ bắp, thịt da trên cơ thể chị như bị bay hơi, sấy khô – cứ teo biến dần, da dẻ sạm đen, khô ráp. Từ trên 60 kg cân nặng, chị sụt xuống 55, rồi dưới 50kg. Chị buộc phải xin nghỉ việc. Không chỉ chồng con và những người ruột thịt trong nhà, mà các đồng nghiệp, bạn bè cũng bắt đầu lo cho chị. Ba đứa con thương mẹ suy nhược sức khỏe v́ quanh năm tần tảo lo việc dạy học, quản lư cửa hàng cà phê, chợ búa, cơm nước phục vụ cả nhà. Có đồng nghiệp nghi chị mắc bệnh phụ khoa ǵ đó. Bản thân chị không tin, bởi chị không hề thấy đau bụng dưới, không tiểu buốt hoặc tiểu rắt, không bị ngứa ngáy nơi thầm kín… Người bạn là bác sĩ chẩn đoán, có thể đó là những hậu quả tiêu cực của hội chứng thời măn kinh (chị đă bước vào tuổi 52).

Và chị quyết định gơ cửa các bác sĩ chuyên khoa. Hôm đi khám tại bệnh viện B. (theo đăng kư bảo hiểm y tế), cứ tưởng sẽ biết kết quả, về ngay trong ngày, ai ngờ các bác sĩ lắc đầu, bảo bệnh nặng, phải nằm lại để theo dơi, điều trị. Sau 10 ngày thăm khám, làm các xét nghiệm máu, nước tiểu… siêu âm, chị choáng váng, không tin vào tai ḿnh, khi nghe thông báo kết quả chẩn đoán bệnh. Chị bị suy thận, cuối độ ba! Không biết nhiều kiến thức về bệnh thận, song qua sách báo và các nguồn thông tin khác, từ trước ngày nhập viện, chị đă mang máng ư thức được rằng, sang độ bốn chỉ c̣n nước chạy thận nhân tạo để chờ cơ may thay thận khác. Xin thận của ai bây giờ? Mà có xin được, phải chờ mấy tháng mới đến lượt, trong khi cả nước hiện có tới 72 ngàn người đang phải xếp hàng chờ chạy thận nhân tạo và thay thận? Rồi chi phí chạy thận nhân tạo mỗi tháng dăm, bảy triệu; chi phí cấy ghép hàng trăm triệu và thuốc uống chống đào thải suốt đời… Tiền tạ, tiền tấn - đào đâu ra?

Chị lả đi bởi hàng loạt câu hỏi không thể t́m lời giải như thế. Gia đ́nh nghe tin không ai b́nh luận ǵ ngoài những lời động viên, an ủi, song nh́n gương mặt ủ dột của mọi người, chị biết - tất cả đều thương cho số phận đen đủi của chị. Sau 10 ngày nằm viện, chị không nhớ đă được uống, đă được tiêm bao nhiêu loại thuốc, chỉ nhớ: Trước ngày xuất viện, chị được truyền một bịch máu, song người vẫn lả đi, héo hắt.

Cầm bệnh án suy thận cuối độ ba về nhà, chị định phó mặc sinh mạng cho số phận. Song người thân, bạn bè không nghĩ thế. Không ít người nghi ngờ kết quả chẩn đoán. Nh́n số liệu tiểu cầu hồng cầu của chị tụt đến mức đáng lo ngại (bốn, năm chục và triệu ba, triệu sáu đơn vị) nước tiểu không có protein trong các phiếu xét nghiệm, có người quen làm ngành y nghi chị bị bệnh liên quan đến tủy sống. Và chị được chuyển sang bệnh viện Bạch Mai - đơn vị có khoa Huyết học với tŕnh độ điều trị các bệnh về tủy nổi tiếng hàng đầu đất nước. Sau hàng loạt xét nghiệm và siêu âm các chuyên gia ở đây khẳng định, Thủ phạm dẫn đến t́nh trạng sức khỏe của chị sa sút trầm trọng không phải là bệnh thận. Chị chưa kịp thở phào sung sướng, th́ đă lặng người v́ kết quả chẩn đoán thứ hai. Con bệnh c̣n tồi tệ hơn cả suy thận, cuối độ ba - chị bị ung thư tủy xương!

Phần v́ con bệnh tiến triển, phần v́ tinh thần hoảng loạn từ lúc hay biết tai họa của ḿnh, suốt 20 ngày nằm điều trị ở bệnh viện Bạch Mai hầu như chị chẳng ăn uống được ǵ. Các bác sĩ ở đây đă cho chị uống và tiêm những biệt dược tốt nhất. Chị được truyền tới 3 bịch máu (tổng cộng 1,5 lít), rồi … xuất viện cùng với lời hẹn: Sau 1 tháng, vào khám lại.

Trời mới chớm thu, đă phải mặc áo len, đầu bịt khăn, chân đi tất, mà chị vẫn thấy lạnh buốt từ ruột ra ngoài. Tạo sao, không phải sau một - hai tuần hay hai - ba tháng, mà lại “sau một tháng, vào khám lại”? Đợi chồng con ra khỏi pḥng, chị mới lén hỏi bác sĩ điều trị.

Theo phác đồ điều trị giai đoạn này, bệnh của chị, một tháng là thời gian để uống một số loại thuốc nhất định và tiếp tục truyền máu, trong trường hợp cần thiết. Chị cứ yên tâm, mọi việc sẽ tốt đẹp cả thôi!

Nghe vậy, chị hiểu, thầy thuốc chỉ cốt an ủi chị. C̣n sự thật, đă ung thư tủy xương th́ chỉ c̣n nước chờ người cho tủy như cô gái Li Sơ-u tội nghiệp trong một bộ phim Hàn Quốc, mà có lần chị đă xem trên truyền h́nh. Mà có phải tủy xương ai cũng cho ḿnh được đâu. C̣n hàng trăm điều kiện phức tạp để cơ thể có thể chấp nhận tủy xương lạ. Khó khăn đến nỗi ở Mỹ có cặp vợ chồng đă phải lau nước mắt, cố đẻ thêm một đứa con rồi hy sinh nó để có tủy xương cứu sống đứa lớn hơn… Ngẫm mà nẫu ruột.

V́ nhiều lư do khác nhau, măi gần 2 tháng sau chị mới vào bệnh viện khám lại. Đinh ninh thể nào cũng bị quở trách v́ lỗi hẹn, chị ngỡ ngàng trước thái độ vui vẻ của bác sĩ điều trị. Không những không trách cứ, bác sĩ c̣n cười sảng khoái sau khi xem kết quả xét nghiệm máu của chị. “Kết quả rất tốt. Cả hồng cầu và tiểu cầu đều tăng! Không phải truyền máu”. Nói rồi người thầy thuốc cẩn trọng kê một loạt tên thuốc vào cuốn y bạ của chị. Dặn: - Chị mua uống tiếp, tháng sau khám lại!

Chị lịch sự vâng dạ, cầm cuốn sổ y bạ ra về. Trong ḷng lẫn lộn cảm giác mừng vui, ngờ vực. Bệnh của chị, dù có uống thuốc, b́nh thường cứ sau 1, 2 – 3 tuần hoặc 1 tháng lại bắt buộc phải tiếp máu do hỏng tủy, hồng cầu và tiểu cầu giảm liên tục. Đằng này, mới sau 1 đợt điều trị… Hay có sự nhầm lẫn nào đó? Dẫu chưa tin hẳn, nhưng đều đặn như thế, đến tháng 12/2004, tṛn đúng 365 ngày, cứ sau 1 tháng chị lại có mặt ở bệnh viện để khám và lấy đơn thuốc mới. Nh́n chung kết quả xét nghiệm lần sau khá hơn lần trước. Tất nhiên cả bác sĩ điều trị và bệnh nhân đều phấn khởi. Lần khám áp chót (có xét nghiệm máu) ngày 7/12 thiếu chút nữa chị reo lên khi hỏi bác sĩ kết quả xét nghiệm: Hồng cầu 3 triệu 960 (người khỏe mạnh b́nh thường là 4 triệu; bạn bè trong trường rao hẹn, nhất định chị phải khao to, khi nào đạt 3 triệu sáu!); tiểu cầu: 181 (xấp xỉ mức b́nh thường – con bệnh đă bị đẩy lùi, chị đă khỏe mạnh như xưa!Bác sĩ điều trị gật gù, cười nụ -“Thực tế chứng tỏ, hướng điều trị là đúng. Nhưng tôi không ngờ kết quả nhanh và tốt như vậy”. Và như mọi lần – người thầy thuốc cần cù lại ghi cho chị một đơn thuốc mới.

Song chỉ có chị và người thân trong gia đ́nh hiểu rơ, sự thực chị đă làm ǵ với hơn chục đơn thuốc trên. Chị lịch sự vâng dạ, cầm cuốn sổ y bạ không phải để xuống quầy thuốc trong bệnh viện, hoặc hiệu thuốc tây nào ngoài phố để mua (ngay số thuốc cho tháng điều trị đầu tiên chị vẫn giữ gần như nguyên xi ở nhà). Chị miễn cưỡng đóng kịch chỉ cốt có… lư do được thăm khám, xét nghiệm hàng tháng!Thực tế, sau mỗi lần viếng thăm pḥng khám như thế, chị lại leo lên xe máy để con hoặc chồng đưa đến nhà ông Long “báo cáo” kết quả và bốc những thang thuốc mới!

Sau đợt điều trị 20 ngày ở bệnh viện, cho dù đă được uống, được tiêm những biệt dược tốt nhất và ba bốn lần truyền máu (tổng cộng một lít rưỡi), bác sỹ đă cho xuất viện-điều trị ngoại trú, song thực ḷng chị vẫn chưa vẫn chưa hết hoang mang. Ngoài năm mươi tuổi, mẹ của hai đứa con (nhỏ nhất đă là sinh viên đại học), hơn hai mươi năm “gơ đầu trẻ”, tiếp xúc với khá nhiều đối tượng – chị hiểu, được ra viện bao giờ cũng hàm hai ư nghĩa. Có thể là dấu hiệu “tai qua nạn khỏi” với bệnh thông thường, đồng thời cũng có thể là cái đinh cuối cùng đóng vào chiếc quan tài số mệnh, vĩnh viễn chia tay sự sống, trường hợp mắc bệnh nan y. Chị bị ung thư tuỷ xương, chắc chắn đă thuộc nhóm “ra viện” thứ hai.

Không ai hiểu người bệnh bằng chính người bệnh. Ngay những ngày c̣n nằm viện, mặc dù được các bác sỹ và nhân viên y tế chăm sóc hết sức nhiệt t́nh và chu đáo, song chị vẫn linh cảm thấy điều ǵ đó không ổn trong phương pháp điều trị đang áp dụng đối với bản thân. Vẫn biết, “thuốc đắng giă tật” nhưng đă được tiêm, được uống bao nhiêu thứ “thuốc đắng” hảo hạng, mang đủ nhăn mác nước ngoài uy tín nhất… “tật” chưa biết có “giă” hay không, mà đă ngần ấy thời gian, chị vẫn chưa thấy dấu hiệu cải thiện rơ rệt.

Toàn thân vẫn rệu ră, tất cả các khớp xương luôn trong trạng thái gồng lên để duy tŕ tấm thân muốn rũ ra từng mảng. Đầu óc quay cuồng, chóng mặt, không chỉ những lúc đột ngột đứng lên, ngồi trên giường mà cả ngay khi nằm thẳng đuỗn trên giường. Song tất cả vẫn chưa là ǵ so với cảm giác hụt hẫng, mệt mỏi âm ỷ hành hạ dường như suốt ngày.

Chứng kiến nỗi khổ như những cơn mưa trên trời bất chợt đổ xuống người chị, đến khi xuất viện không thấy dấu hiệu khá hơn, thế nên về nhà uống thuốc tiếp được mươi ngày, không chỉ bản thân chị, chồng chị, mà các con chị cũng hoang mang, không biết rồi sẽ chữa trị thế nào.

“Có bệnh vái tứ phương” – đang theo Tây y, nghe người mách bảo, chị chuyển hướng sang Đông y. Song không phải ngay lần chuyển đổi đầu tiên, mọi việc đă “xuôi chèo, mát mái”. Theo lời giới thiệu của người quen, chị được đưa đến một thầy lang chuyên chữa các bệnh nan y có nghề gia truyền đă ba đời, nổi tiếng “mát tay” để bắt mạch, bốc thuốc ở huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội.

Đúng là “thuốc tác dụng nhanh” y như lời đảm bảo của thầy. Mới uống hết một thang, sau hai ngày đă thấy toàn thân bới ê ẩm, không c̣n cảm giác bồng bềnh như ngồi trên sóng biển và miệng ăn đă bắt đầu có cảm giác mặn, ngọt. Thế nhưng chị thà chết chứ không uống thang thứ ba. Lư do cũng đơn giản: - Trạng thái ngược với bí đái. Ban đêm cũng như ban ngày – đều đặn, cứ xấp xỉ ba mươi, bốn mươi phút chị bắt buộc phải vào toa-let!

Lại thêm một lần thất vọng. Tây y- mệt lả; Đông y – tiểu nhiều! Cổ nhân đă dạy, “chữa được bệnh, không ai chữa được mệnh. Có lẽ số chị đă hết. Tia hy vọng chưa kịp le lói sau ngày uống thang thuốc Đông y gia truyền đầu tiên, đă vụt tắt ngấm. Thời tiết cuối thu mát mẻ là vậy, mà sao chị thấy ngột ngạt, khó thở. Nhà cửa, cây cối.. tất cả như đổ sập trước mặt chị. Cảm giác thèm ăn, đói ngủ cũng biến mất. Chị thoi thóp quay về trạng thái “xác không hồn”, thầm nhủ ḷng “ thôi đành đứt gánh ra đi” cho đến ngày con gái chị bất chợt kể cho chị nghe về giấc mơ kỳ lạ của nó…

Là nhà giáo, lại là người duy nhất, vô thần, chị không bao giờ tin vào những chuyện chiêm bao, báo mộng… thế nhưng có chi tiết gần giống với chi tiết trong câu chuyện sau này, xả ra hoàn toàn ngẫu nhiên, đúnglúc chị đă sẵn sàng tư tưởng thanh thản bước sang “thế giới bên kia”, bắt buộc chị phải suy nghĩ lại.

Đang lúc đă quên cả thuốc Tây, thuốc ta, con gái chị hồn nhiên kể rằng, đêm qua nó mơ thấy bà ngoại (đă qua đời được dăm năm). Bà bảo, mẹ chưa thể chết. Sẽ có thầy lang chữa khỏi bệnh cho mẹ. Hỏi bà, thầy lang ở đâu, bà bảo – cứ đi qua cầu Chương Dương. Chưa kịp hỏi bà địa chỉ cụ thể, bà đă biến mất…

Chị không loại trừ khả năng v́ thương mẹ, con chị cố ư tưởng tượng ra những giấc mơ lạc quan như thế để động viên chị. Đó chính là một trong nhiều thủ thuật của liệu pháp tâm lư, mà sách báo vẫn nhắc đến. Thế nhưng, điều kỳ lạ xui khiến chị không thể hoàn toàn phớt lờ ‘giấc mơ” của con chính là chi tiết về địa chỉ thầy lang trong “giấc mơ” gần trùng với thông tin liên quan đến hướng đi đến chỗ ở của thầy lang sau này do bạn thân của chị, một cán bộ ngành ngân hàng cung cấp-từ nhà chị, cũng phải “đi qua cầu Chương Dương”!

Số là, phải ngót một tháng sau khi chị ra viện, mọi người thân quen mới biết chị thuộc dạng “bệnh viện cho về nhà điều trị ngoại trú, v́ ung thư tuỷ xương”. Trước đó, mặc dù nhiều người đă vào thăm chị tại bệnh viện, song v́ lư do tếnhị-bản thân chị và người nhà “giữ bí mật”, nên không ai biết bệnh t́nh của chị nghiêm trọng như vậy. Đến khi hiểu ra sự thật, người bạn thân kể trên đă mách chị địa chỉ của thầy thuốc mới. Con trai chị ấy mới chín tuổi trước đó hơn ba tháng vừa phải cắt một quả thận, nhờ uống thuốc của thầy lang “đi qua cầu Chương Dương”, đến nay vẫn khoẻ mạnh b́nh thường.

Hy vọng sống trong chị đă nguội lạnh sau hàng loạt sự cố nẫu ruột, lại ấm dàn lên, khi chị t́m hiểu lya do bạn chị- một phụ nữ nổi tiếng cẩn thận và đặt trọn niềm tin vào Tây y, lại t́m đến thầy lang để cắt thuốc cho con.

Nói chính xác, không chỉ bạn thân cẩn thận, mà cả chồng chị ấy cũng thế, c̣n cẩn thận hơn. Là một nhà giáo có thâm niên nhiều năm trong nghề, trước khi đồng ư để các bác sỹ cắt một quả thận của con, anh đă tham khảo ư kiến của nhiều chuyên gia. Với thực trạng bệnh t́nh nan giải (quả thận có khối u nhỏ, liên tục chảy máu mặc dù các bác sỹ can thiệp bằng đủ h́nh thức) – ai cũng khuyên, bắt buộc phải cắt để cứu quả thận c̣n lại và sinh mạng của con. Cắt rồi, đúng là máu hết chảy, song cả hai vợ chồng lại ngơ ngác v́ nỗi lo khác – mối đe doạ khối u không thể cắt tiệt nọc có thể tiếp tục tấn công bất cứ lúc nào. Và lại xuất hiện lời khuyên: T́m thuốc Đông y để tăng cường thể lực và ngăn chặn khả năng con bệnh tái phát.

Tình cờ biết chuyện của con anh nhà giáo, dược sỹ Trần Bảo, một cán bộ nghiên cứu dược liệu có kinh nghiệm đă kể cho anh nghe ca bệnh đặc biệt thú vị, mà ngay cả bản thân ông đă chứng kiến. Bệnh trạng c̣n nặng hơn cháu bé, đại tá Hợp bị ung thư thận. Năm 1999 đă cắt một quả, bác sỹ điều trị dự đoán tối đa chỉ sống thêm được 6 tháng. Thế nhưng, đến ngày biết chuyện con trai anh, đă hơn 4 năm dài hơn dự đoán trên, đại tá Hợp vẫn sống và khoẻ mạnh. Tất cả nhờ một năm liên tục và thỉnh thoảng uống thuốc của Bạn ông, dược sỹ - lương y Đào Kim Long, mà điạ chỉ đă giới thiệu ở đầu bài viết.

Bây giờ, khi khoẻ mạnh, chị kể rằng, ngoài thông tin về hai ca bệnh đặc biệt - người thật, việc thật mà chị biết được thông qua bạn bè gia đ́nh; c̣n một lư do khác khiến chị đặt niềm tin vào thầy Long, ngay lần tiếp xúc đầu tiên. Thứ nhất là cái Tâm. T́m đến ông dù là nông dân hay trí thức quan chức hay cửu vạn … bất kể giàu nghèo, bất kể bệnh tật ǵ – với ai ông cũng ân cần chu đáo. Bệnh ǵ chữa được, ông bảo được ; bệnh không thể - ông cho lời khuyên thích hợp. Người bệnh quá nghèo ông có thể cho nợ, hoặc chữa không lấy tiền, song không bao giờ né tránh trách nhiệm. Thứ đến là kiến thức. Ngoài kinh nghiệm gia truyền như ông thầy ở Từ Liêm, trước khi trở thành lương y, ông Long đă là dược sỹ được đào tạo chính quy, có bài bản. May mắn được theo học những thầy giỏi, thuộc thế hệ xuất sắc nhất hai ngành y và dược của nước ta như các giáo sư : Hồ Đắc Di, Trương Công Quyền, Đỗ Tất Lợi, Vũ Văn Chuyên… , lại ham và tự học một cách thông minh, ông tích lỹ được khối lượng kiến thức Đông – Tây, cổ - kim khổng lồ. Là lương y, song trong không ít trường hợp, ông áp dụng một cách sáng tạo kiến thức về sinh hoá huyết học, vi trùng học, về bệnh học lâm sàng, … theo lư thuyết tây y để sử dụng có hiệu quả nhất các bài thuốc y học dân gian và cổ truyền.

Nắm vững cơ chế trị bệnh cả Tây y và Đông y, ông luôn tỏ ra tự tin và đă truyền được ḷng tin ấy vào hầu hết người bệnh, mà ông bắt mạch, kê đơn. Ḷng tin ấy càng vững chắc khi em trai chồng chị được ông Long chữa khỏi căn bệnh dị thường – nửa mặt tê dại gần mất hết cảm giác, bắp chân đau nhức như bị vỡ ống xương. Trước đó nhiều lần đă uống thuốc Tây và cả năm châm cứu ở những cơ sở y tế khác nhưng vẫn vô hiệu. Và khâm phục hơn, khi cả hai cơ sở ông làm việc đều không hề treo biển quảng cáo, ông bao giờ cũng đông bệnh nhân.

Đến nhà ông lần đầu ngày 17 tháng 10 năm 2003, biết chị đă qua bốn lần truyền máu sau khi đă bắt mạch, hỏi han bệnh t́nh và xem qua bệnh án, ông khẳng định có thể chữa được. Hỏi v́ sao, ông bảo, với loại bệnh này và hiện trạng sức khoẻ của chị, c̣n nhận máu, tức cơ thể vẫn c̣n khả năng chiến thắng. Tất nhiên với sự trợ giúp của Tây y( công đoạn truyền máu). Và chị bắt đầu nhờ ông. Mấy tháng đầu, ông cắt cho 5 thang, sau mỗi lần thăm khám; thời gian sau – mỗi lần 10 thang khi bệnh t́nh đă ổn định. Mỗi thang sắc uống 2 ngày kể cả dịp tết Nguyên Đán. Uống hết tháng thứ 14 ông bảo không cần nữa, song chị cẩn thận, muốn “chắc ăn” nên vẫn đề nghị ông tiếp tục cắt thuốc.


* Chúng ta đang đánh mất một tài sản quốc gia ( Sâm Ngọc Linh )
Thứ hai, 17-03-2008

Trò chuyện với dược sĩ Đào Kim Long, người đã phát hiện ra loại nhân sâm ở núi Ngọc Linh trên độ cao 1.800 mét. Ông đã nghiên cứu áp dụng loại sâm này để chữa những căn bệnh nan y, trong đó có bệnh ung thư.

Gần 70 tuổi, râu dài bạc trắng, ông vẫn rất minh mẫn và hoạt bát. Tôi được gặp khi ông trở lại thăm chiến trường khu 5 vào những ngày cuối tháng 2. Chính nơi đây, 35 năm trước (năm 1973), ông và đoàn tìm kiếm dược liệu VN đã phát hiện ra loại nhân sâm ở núi Ngọc Linh trên độ cao 1.800 mét (phía sườn Tây giáp tỉnh Kon Tum, phía sườn Đông giáp tỉnh Quảng Nam). Hơn 30 năm nay, ông dành hết thời gian để nghiên cứu áp dụng loại sâm này để chữa những căn bệnh nan y, trong đó có bệnh ung thư...

Ông là người có công lớn nhất trong việc tìm ra được cây sâm Ngọc Linh. Đây có phải là tên do ông đặt? Ông đã tìm thấy "thần dược" này như thế nào?

Cuối năm 1970, Bộ Y tế cử tôi lúc bấy giờ đang là giảng viên Khoa Thực vật và Dược liệu của trường Đại học Dược Hà Nội vào khu V (miền Trung Trung Bộ) điều tra cây thuốc ở khu vực này.

Năm 1972, Ban Dân y Khu V quyết định thành lập một đoàn điều tra dược liệu trên vùng núi Ngọc Linh và cử tôi làm trưởng đoàn với mục đích tìm thuốc tại chỗ để chữa bệnh cho quân, dân phục vụ cuộc kháng chiến. Ngoài tôi ra, đoàn điều tra gồm có kỹ sư Nguyễn Bá Hoạt, dược sĩ Nguyễn Châu Giang, dược sĩ Trần Thanh Dân.

Khi đoàn đến Kon Tum, Ban Dân y Kon Tum cử thêm dược tá Nguyễn Thị Lê trợ giúp cho đoàn, dẫn đường lên núi Ngọc Linh. Qua nhiều ngày vượt suối băng rừng tìm kiếm, đến 9 giờ sáng ngày 19.3.1973, khi đang ở độ cao 1.500 mét thì người học trò trong đoàn bỗng bấu vào một cây. Quả thật đây là cơ duyên mà chúng tôi không ngờ tới. Đó lại chính là "báu vật" mà mọi người đang tìm bấy lâu nay - Nhân sâm đốt trúc (Trung Quốc gọi là Trúc tiết nhân sâm). Thật đáng tiếc, tại khu vực này chỉ tìm thấy 2 cây sâm lớn và ít cây mới nảy mầm.

Chúng tôi quyết định tiến theo con đường đã được vạch ra theo dự kiến trên bình đồ. Đúng 16 giờ ngày 19.3.1973, cả đoàn oà lên khi bước vào giữa một vùng nhân sâm đốt trúc rộng lớn nằm về phía Tây núi Ngọc Linh, đây là ngọn núi cao 2.598 mét.
Mọi người quyết định ở lại đây 20 ngày để thu thập mọi dữ liệu về sinh lý, sinh thái, thổ nhưỡng, khí hậu cũng như các dữ kiện về hình thái, quần thể, quần lạc, phân bố, di cư và phát tán...

Tôi xác định núi Ngọc Linh là quê hương của cây nhân sâm, nên thống nhất gọi là sâm Ngọc Linh. Tôi đã đặt tên khoa học của cây nhân sâm này là Panax articulatus KL Dao. Tuy nhiên, trong kháng chiến, để giữ bí mật nên mọi người gọi là sâm K5.
Ngoài núi Ngọc Linh, theo ông loại sâm này còn có mặt ở địa phương nào khác trên lãnh thổ nước ta?

Trước đó, tôi có đọc một tư liệu đề cập việc Giáo sư Phạm Hoàng Hộ nhận định loại sâm này có thể mọc ở núi Langbiang (Lâm Đồng) là- Panax schinseng Nees var japonium Mak (Cây cỏ miền Nam Việt Nam (quyển II) - 1970).

Sâm Ngọc Linh chỉ có ở khu vực Quảng Nam- Kon Tum và phát tán theo dòng nước (chảy từ trên đỉnh xuống). Tôi đã gặp may vì đi đúng vào mùa sâm ra hoa nên đã dễ dàng phát hiện ra. Nếu vào mùa sâm rụng lá ngủ đông thì khó có thể tìm được.
Sâm Ngọc Linh thuộc loại cây thảo, cao 80-100cm. Thân rễ nằm ngang trên hoặc dưới mặt đất độ 1-3cm, mang rễ con và củ. Thân rễ có sẹo, nhiều đốt. Các thân mang lá. Tương ứng với một thân mang lá là một đốt dài khoảng 0,5-0,7cm. Trên đỉnh của thân mang lá là các lá mọc vòng, có 5-7 lá chét với phiến lá hình trứng ngược. Hoa mọc giữa các lá thẳng với thân. Quả dài độ 0,8-1,0 cm, rộng khoảng 0,5- 0,6 cm, màu đỏ khi chín. Cây mọc dưới tán rừng.
Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là thân rễ củ. Cũng có thể dùng lá và rễ con. Thoạt nhìn, loại sâm này rất giống với nhân sâm Triều Tiên (Panax - ginseng). Loại cây này thích hợp với nhiệt độ ban ngày từ 20-25 độ C, ban đêm 15-18 độ và sống rất lâu, có thể trên 100 năm. Dược sĩ Đào Kim Long đã tìm thấy một cây sâm khoảng 82 năm tuổi có phần rễ, củ và thân rễ dài hơn nửa mét.

Loại sâm này đang được truyền tụng là "thần dược", vậy có công trình nào nghiên cứu về công dụng của nó hay đó chỉ là sự đồn thổi?

Theo một công trình nghiên cứu của tiến sĩ Nguyễn Minh Đức- Trường ĐH Y Dược TPHCM - thì về mặt hoá học, thân rễ và rễ củ sâm Ngọc Linh đã phân lập được 52 saponin. Trong đó, 26 sanopin thường thấy ở sâm Triều Tiên, sâm Mỹ, sâm Nhật (sâm Triều Tiên có khoảng 25 sanopin). Trong lá và cọng đã phân lập được 19 saponin dammaran (có 8 saponin có cấu trúc mới). Ngoài thành phần chính là saponin, trong sâm Ngọc Linh còn xác định 17 acid amin, 20 chất khoáng vi lượng và hàm lượng tinh dầu là 0,1%. Bộ phận sử dụng chủ yếu là rễ củ, sử dụng tốt nhất là sau 5 năm tuổi. Loại sâm này đã được các nhà khoa học chứng minh có nhiều tính năng y dược thuộc loại "tuyệt hảo" như: kích thích hệ miễn dịch, chống oxy hoá, chống lão hoá, phòng chống một số loại bệnh ung thư, bảo vệ tế bào gan.

Thực tế điều trị cho thấy, bệnh nhân được sử dụng loại sâm này cảm thấy ăn ngon, ngủ tốt, lên cân, tăng thị lực, trí tuệ và thể lực được cải thiện, tăng sức đề kháng. Sâm Ngọc Linh hiệp lực tốt với kháng sinh, với thuốc trị đái tháo đường, giảm suy nhược thần kinh, cải thiện sinh dục... Đặc biệt, sâm Ngọc Linh có những tính năng mà sâm Triều Tiên và sâm Trung Quốc không có là tính kháng khuẩn, chống trầm cảm, giảm lo âu, chống ôxy hoá...

Liệu ông có "lầm" khi cho rằng người Việt quên loại "thần dược" này, trong khi giá sâm Ngọc Linh được mọi người mua cao hơn nhiều so với sâm Triều Tiên, Nhật Bản. Thậm chí, nhiều người có tiền cũng chẳng mua được?

Tôi nhớ từ những năm 1990, giá sâm Ngọc Linh đắt hơn sâm Triều Tiên nhiều lần. Cách đây 2 năm, do khan hiếm nên giá sâm Ngọc Linh tại Đăk Tô đã đạt mức 6-7 triệu đồng cho 1kg củ khô (tương tương 400USD). Hiện nay, loại sâm từ 5 tuổi trở lên cũng "leo" giá đến 7-10 triệu đồng/100gr.

Vì lợi ích quá lớn nên sâm Ngọc Linh trở thành miếng mồi ngon để mọi người đổ xô vào rừng săn tìm. Tôi đọc báo thấy xót xa khi sâm trồng "trẻ", "già" đều được đào bán không thương tiếc. Nên nhớ rằng, loại dược liệu này trồng 5 năm trở lên mới có đủ hoạt chất.
Tôi nói người mình đang quên "bảo bối" vô giá bởi vì đã 35 năm trôi qua, các địa phương có sâm vẫn chưa có quy hoạch bài bản trong việc nhân giống và giao giống cho đồng bào dân tộc. Nếu đất vùng này sử dụng để người dân trồng lúa thì không hiệu quả bằng trồng sâm.
Tôi nghĩ, nên tuyên truyền cho người dân hiểu về tác dụng của sâm, cấp giống miễn phí và gạo cho đồng bào. Đổi lại, người dân cam kết giữ sâm cho đến tuổi thu hoạch (sau 5 năm). Đến lúc này, các Cty dược phẩm sẽ có đủ nguyên liệu để bào chế thuốc.

Đến nay, những dự án trên vẫn giẫm chân tại chỗ. Nếu không có một đề án bài bản để quy hoạch phát triển thì vô hình trung chúng ta đang đánh mất một "tài sản quốc gia" và nguồn sâm tự nhiên sẽ bị cạn kiệt chỉ trong một thời gian ngắn.
* Tìm lại người 'tự vệ'
HIỀN VĂN Tạp chí Tư vấn Tiêu dùng (Số 14 ngày 20/7/2006)
Tôi gặp DS Đào Kim Long vào buổi chiều ngày 1/7/2006. Ông mới lên phòng khám Hà Nội để điều trị bệnh theo lịch trình hàng tuần. Tù sáng tới giờ ông chưa nghỉ ngơi. Ai đến phòng khám cũng muốn được đích thân ông điều trị. Và tôi đã được tận mắt chứng kiến buổi khám bệnh của vị dược sĩ được rất nhiều người tin tưởng này. Lúc này, phòng khám còn 4 bệnh nhân.
Thầy Long (như những người bệnh vẫn gọi) đang điềi trị cho một bệnh nhân ung thư gan đã di căn sang phổi. Phim X-quang cho thấy phổi đã chuyển sang màu đen kịt. DS Long động viên người bệnh tiếp tục uống thuốc rồi mời con trai người bệnh ra sân nói chuyện. Tình trạng đã không còn cứu vãn được. Thuốc ông kê lúc này chỉ giúp bệnh nhân đỡ đau và kéo dài thêm chút thời gian ma thôi. Người con im lặng, dường như anh đã lường trước sự việc, và cũng hiểu cách chữa của thầy Long, luôn "thông báo thẳng với người bệnh và người nhà khả năng điều trị".
Người say mê cây thuốc Năm 1966, sau khi tốt nghiệp Đại học Y dược Hà nội, DS Đào Kim Long được giữ lại trường làm giảng viên. Tuy gia đình có truyền thống về Đông dược nhưng ông vẫn quyết tâm theo Tây y để học hỏi thêm về cách chữa bệnh. Cũng chính trong thời gian này, thầy Long bắt đầu nghiên cứu về ung thư.
Ông kể: "Hồi ấy, thầy Quyền (GS-TS Trương Công Quyền) và thầy Di (GS-TS Hồ Đắc Di), mà trực tiếp là GS-TS Đỗ Tất Lợi, Gs Vũ Văn Chuyên đã chỉ cho tôi phương hướng nghiên cứu. Các thầy nói, những loại thuốc viên của nước ngoài như kháng sinh, điển hình là Penixilin lấy từ vi nấm, thuốc trợ tim Neriolin tinh chế từ lá cây trúc đào, thuốc cảm cúm Aspirin tnh chế từ vỏ cây dương liễu, vậy thì thuốc chữa ung thư cũng có thể tìm được từ các loại nấm lớn, đặc biệt là nấm linh chi". Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu không được như ý muốn. "Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng các loại nấm lớn, nhất là nấm linh chi chưa chắc đã điều trị được căn bệnh ung thư mà còn có thể gây hại đối với người bệnh". "Cũng phải kể lại chuyện ngày trước khi tôi đến với nghề thuốc," thầy Long tiếp, "tôi vẫn mơ hồ chưa biết mình đi theo hướng nào trong ngành thuốc.
Đến một lần, tôi đọc được trong thư viện 6 tập sách Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GSTS Đỗ Tất Lợi, tôi mới nhìn thấy hướng đi cho mình. Lúc đấy, tôi phát hiện ra rằng, Đông y và Tây y có những quan điểm giống nhau. Người phương Tây cũng như phương Đông, đều xuất phát từ những bài thuốc dân gian để tìm ra những lọai thuốc mới. Tuy nhiên, phương Đông đi sau phương Tây về kỹ thuật".
Xuất thân từ một gia đình có truyền thống làm thuốc, thầy Long có đầy đủ điều kiện để tiếp xúc với các vị thuốc truyền thống Việt Nam. Ông mày mò nghiên cứu, phân tích, tổng hợp những khả năng của các vị thuốc, cách điều chế, pha trộn chúng lại với nhau. Sau khi nghiên cứu nấm linh chi không có hiệu quả, ông chuyển sang những loại thuốc khác trong dân gian. "Chị biết đấy, Việt Nam có 64 dân tộc, mỗi dân tộc lại có cách dùng thuốc khác nhau, rất phong phú và đa dạng. Rõ ràng là còn rất nhiều điều về cây cỏ mà chúng ta chưa khám phá hết được".
Hướng nhìn mới về... ung thư Trong câu chuyện, thầy Long có đặt ra một hướng nhìn mới về bệnh ung thư. "Chị thử nghĩ xem, vì sao lại có căn bệnh ung thư? Đó có phải là do yếu tố môi trường bên ngoài thay đổi, tác động vào yếu tố nội môi (môi trường bên trong) của mỗi con người không? Đó có thể là một trong những nguyên nhân gây bệnh. Vậy thì, chỉ cần làm sạch yếu tố nội môi, mọi bệnh tật sẽ bị đẩy lùi. Tôi tự gọi cách chữa của mình là "tìm lại người tự vệ", tức là xây dựng lại hệ thống miễn dịch. Đó là sức mạnh nguyên thủy nhất của cơ thể con người".
Năm 1992, thầy Long có đưa ra một giả thuyết mới về nguyên nhân gây bệnh ung thư, đó là "rối loạn chuyển hóa protein trong cơ thể". Khi đưa ra lý thuyết này, nhiều người, kể cả những giáo sư đầu ngành về u bướu cũng tỏ ra “khó mà tin tưởng”. Và lý thuyết truyền thống về điều trị căn bệnh là “triệt hạ” khối u. “Các thầy tôi khi nghe trình bày về lý thuyết mới có vẻ chưa tin tưởng nhưng vẫn khuyến khích tôi nghiên cứu tiếp.
Ứng dụng điều này trong điều trị, tôi tìm ra hướng đi mới cho mình”. Trong lý thuyết “ung thư là do rối loạn chuyển hóa protein mà thành”, thầy Long có đặt ra vấn đề, các khối u chính là hậu quả của bệnh. Tuy nhiên, khối ung thư lại có một vai trò nhất định để duy trì sự sống. “Một khi quá trình chuyển hóa protein bị rối loạn, thân nhiệt đột ngột tăng cao bắt buộc cơ thể phát sinh ra những khối u để dung nạp năng lượng dư thừa. Nếu một vẫn chưa đủ sẽ xuất hiện cái thứ hai, thứ ba, thậm chí đến cái thứ 100. Chúng mọc khắp người. Như vậy những khối u đó vừa là hậu quả của con bệnh, một mặt vừa là bệnh, mặt khác lại đóng vai trò tạm thời giúp cơ thể tự vệ, chống lại con bệnh. Vì nếu không có những khối u dung nạp năng lượng dư thừa trong quá trình đốt cháy khốc liệt như thế, cơ thể sẽ suy sụp nhanh chóng và chết vì sốt cao. Do vậy phải tôn trọng và không nên tiêu diệt chúng. Và muốn chữa tận gốc ung thư nhất thiết phải lập lại trạng thái cân bằng trong chuyển hóa protein”, ông khẳng định.
“Ví dụ như trường hợp chị Lan Anh, vợ anh Phan Văn Hòa nổi tiếng với trang web www.ungthu.net. Thực tế, chị Lan Anh đâu có chết vì căn bệnh ung thư mà chết vì bệnh viêm phổi cấp sau khi hóa trị hết khối ung thư. Anh Hòa có đến tìm tôi nhưng lúc đó quá muộn rồi và lúc đấy tôi không được khám trực tiếp nên… không thể kê đơn dù biết như thế là phụ tấm lòng của bệnh nhân”.
Từ quan điểm về “cân bằng lại quá trình chuyển hóa protein”, ông xây dựng phương pháp điều trị bằng thuốc nam, “những vị thuốc quanh ta”. Ông có kể về trường hợp bệnh nhân đầu tiên được ông dùng lá cái và cây núc nắc (loài cây thường trồng ở quê ông) và một số cây lá khác để chữa trị vào 20 năm trước. Người thanh niên này rất khỏe mạnh, đột nhiên sốt cao, hạch nổi khắp người. Lên khám tại bệnh viện K. Hà nội, các bác sĩ khẳng định cậu bị ung thư vòm họng nhưng do không có tiền nên gia đình đưa cậu về nhờ “ông lang” Long cứu giúp. Cắt thuốc cho cậu uống, chỉ mấy tháng sau khối u biến mất. “Bây giờ, cậu thanh niên ấy vẫn làm thợ nề ở làng tôi”. Ông còn kể nhiều về những bệnh nhân được ông điều trị khỏi. Trước khi về, tôi có hỏi ông một câu: “Phải chăng ông cho rằng Đông y hơn Tây y?” “Không, tôi không nói vậy, bởi tôi cũng là một dược sĩ, đã từng học nhiều về Tây y. Cách điều trị của tôi là sự kết hợp giữa Đông và Tây y.
Có những sự cố Tây y giải quyết tốt hơn, thí dụ như phẫu thuật cắt ruột thừa. Ngược lại, có những sự cố Đông y làm tốt hơn như cảm gió, cảm nắng,… Cũng có không ít loại bệnh nhất thiết phải kết hợp cả hai mới có thể đạt hiệu quả tối ưu như ung thư tủy xương cần phải có sự trợ giúp của Tây y như xét nghiệm, truyền máu thì Đông y mới điều trị tốt được. Với các trường hợp di chứng sau tai biến não như liệt tứ chi, rối loạn thần kinh thực vật… Tây y lại cần sự trợ giúp đắc lực của Đông y trong giai đọan phục hồi chức năng bằng châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, uống thuốc nam…”
Theo ông, cho đến hiện nay, cả Đông y và Tây y mới chỉ khám phá được một phần rất nhỏ về tự nhiên và mỗi bên chỉ có được 50% y thuật của thế giới. Chỉ có sự kết hợp chặt chẽ của cả hai nền y học mới tạo ra được bước đột phá mới trong điều trị bệnh, đặc biệt là những căn bệnh nan y.

Comments