Giáp cốt văn

        Giáp cốt văn chỉ hệ thống chữ viết tương đối hoàn chỉnh, được phát triển và sử dụng vào cuối đời Thương (thế kỷ 14-11 TCN), dùng để ghi chép lại nội dung chiêm bốc của Hoàng thất lên trên mai rùa hoặc xương thú. Sau khi lật đổ nhà Thương, nhà Chu vẫn tiếp tục sử dụng thể chữ này. Cho đến nay, đây được xem là thể chữ cổ xưa nhất và là nguồn gốc hình thành chữ Hán hiện đại.

I- Tên gọi

     Ngoài tên gọi phổ biến là Giáp cốt văn, nó còn được gọi bằng nhiều tên khác:
        - "Khế văn" 契文, "Ân khế"殷契 xuất phát từ việc dùng dao để khắc nét.
        - “Giáp cốt bốc từ" 甲骨卜辞, "Trinh bốc văn tự” 贞卜文字 xuất phát từ nội dung ghi chép là về việc chiêm bốc
        - "Quy giáp thú cốt văn'龟甲兽骨文, "Quy giáp văn tự" 龟甲文字, "Quy bản văn" 龟版文 xuất phát từ vật liệu ghi chép là mai bụng rùa và xương thú.
     Ngày 25-12-1921, nhà sử học Trung Quốc Lục Mậu Đức 陆懋德 ở Bắc Kinh phát biểu trong "Thần Báo Phụ Khan" bài " Sự phát hiện và giá trị của Giáp cốt văn" lần đầu sử dụng tên gọi Giáp cốt văn. Từ đó, nhiều nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục sử dụng tên gọi này, và dần dần trở nên phổ biến trong giới nghiên cứu và nhân dân.

II- Sự phát hiện giáp cốt văn
     Hiện tại, mọi người đều cho rằng người phát hiện ra giáp cốt văn là Vương Ý Vinh 王懿荣, 1 vị quan cao trong Quốc tử giám thời Quang Tự nhà Thanh.
     "Long cốt" là hóa thạch của xương động vật có vú. Trung y cho rằng nó có thể trị ho, kiết lị,... Về sau, người đời dần lấy xương giáp cốt văn thay thế, cạo bỏ lớp chữ bên ngoài đem bán. Vùng An Dương có có người lấy nghề mò Long cốt làm nghiệp. Do đó, 1 lượng lớn giáp cốt văn bị mất.
      Có 1 lần ông mắc bệnh dùng thuốc, thấy trên "long cốt" có những nét giống như chữ, cảm thấy kỳ lạ. Do đó ông mua hết toàn bộ "long cốt" về, phát hiện trên đó cũng có những hoa văn tương tự. Thế là ông chép lại những họa tiết kì lạ này. Sau 1 thời gian nghiên cứu, ông xác nhận đó là 1 loại chữ viết và đoán định nó thuộc về thời Ân Thương. Đến mùa xuân năm Quang Tự 26 (1900), ông đã sưu tầm được khoảng 1500 mảnh giáo cốt văn. Tuy nhiên tháng 7 cùng năm, Liên quân 8 nước đánh chiếm Bắc Kinh, ông tự sát tuẫn quốc, do đó
               Vương Ý Vinh             ông chưa thể nghiên cứu sâu về loại chữ viết này.  
   
III- Đặc điểm của Giáp cốt văn
      Xét về mặt số lượng cũng như kết cấu chữ, giáp cốt văn đã phát triển thành hệ thống chữ viết tương đối hoàn chỉnh, đã có sự thể hiện cách cấu thành chữ theo lối "lục thư" chữ Hán, tuy nhiên chữ vẫn chưa thoát khỏi những hình vẽ nguyên thủy.
       Về mặt cấu tạo, 1 số chữ tương hình mang tính khắc họa đặc trưng của vật thực, chưa thống nhất về số nét, cách viết, bố cục chữ.
       Các chữ tượng ý của giáp cốt văn chỉ yêu cầu sự tổ hợp của các thành phần để tạo nên hàm ý của chữ, chưa chú ý sắp xếp. Do đó, chữ dị thể của giáp cốt văn rất nhiều, có chữ có hơn 10 cách viết.
Vì chữ giáp cốt chú trọng miêu tả vật thật, do đó kích thước chữ không thống nhất. Chữ dài, ngắn khác nhau, 1 số chữ có thể to bằng vài chữ.
        Cách tạo chữ bao gồm tượng hình, tượng sự, hội ý, hình thanh, chuyển chú, giả tá,... mang dáng dấp của cách tạo chữ "lục thư" chữ Hán, cho thấy sự thành thục và mức phát triển cao của loại chữ viết này.
        Cách khắc chữ dù chưa thống nhất, nhưng cũng có tính thống nhất nhất định. Chữ hoặc được khắc từ trên xuống, hoặc từ dưới lên, từ trái qua, từ phải lại, thường nét ngang trước nét dọc.
        Do khắc bằng dao, nên các nét mảnh và thẳng. Lại do vật liệu (xương cứng, mềm), dụng cụ (dao cùn, bén) mà nét chữ  khắc lên thô mảnh không đồng nhất. Độ dài ngắn nét không nhất định. Có chữ ngoằn ngoèo, bắt chéo, lại có chữ phân bố tầng lớp 1 cách trang trọng, thể hiện sự sáng tạo phong phú và cảm hứng thẫm mỹ của người xưa.
Mặc dù vậy, giáp cốt văn vẫn giữ được sự đối xứng và bố cục tương đối ổn định. Do đó có người cho rằng thư pháp Trung Quốc bắt đầu từ chữ giáp cốt, vì nó đã mang 3 đặc tính của thư pháp: dụng bút, kết tự, chương pháp.

IV- Sự phát triển của giáp cốt văn
        Tùy vào văn phong và hoàn cảnh thịnh suy đương thời, chữ giáp cốt chia ra 5 giai đoạn phát triển:
            1- Giai đoạn Hùng Vỹ (từ Bàn Canh đến Vũ Đinh, khoảng 100 năm)
                Đây là thời kỳ thịnh thế, dó đó phong cách chữ viết hùng vỹ hào phóng, là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của thể chữ này. Nói chung, thời này chữ viết có nhiều nét cong tròn, đan chéo nhau. Khởi bút nét thô, khi thu bút thì nét mảnh. Bất kế nét chữ dày gầy, đều mang tính mạnh mẽ.
        2- Giai đoạn Cẩn Xích (Tổ Canh - Tổ Giáp, khoảng 40 năm)
            2 vị vua trị vì thời kỳ này đều là bậc minh quân. Chữ giáp cốt mang phong cách chỉnh tề hơn, giữ nguyên chữ viết của thời trước, rất ít sáng tạo thêm, phong cách không còn mạnh mẽ hào phóng như thời gian trước đó.
        3- Giai đoạn Suy vi (Lăng Tân - Khang Đinh, khoảng 14 năm)
            Có thể nói đây là giai đoạn văn hóa Ân Thương suy tàn, tuy vẫn còn nhiều kiểu chữ ngay ngắn, nhưng có nhiều đoạn chữ sai lệch, không ngay hàng. Cho thấy phong cách người đương thời không còn giữ quy tắc nữa, mà thể hiện sự ấu trĩ, rối loạn, chữ viết sai cũng không phải là hiếm.
        4- Giai đoạn Mạnh mẽ (Phục Hồi) (Vũ Ất - Vũ Đinh, khoảng 17 năm)
            Vũ Đinh có ý phục cổ, mong muốn khôi phục lại dáng vẻ hùng tráng của chữ viết thời Vũ Đinh. Do đó, chữ giáp cốt thời này lại mang phong cách mạnh mẽ, nét chữ có lực, thể hiện quốc vận hưng thịnh trở lại. Dù là những nét mảnh vẫn toát nên sự cương liệt.
        5- Giai đoạn Nghiêm chỉnh (Đế Ất - Đế Tân, khoảng 89 năm)
            Thư pháp thiên về lối nghiêm chỉnh, cỡ chữ lớn nhỏ, khoảng cách giữ các chữ cũng có quy định nghiêm ngặt. Khung chữ kéo dài ra. Dù không có dấu hiệu suy thoái trở lại, nhưng chữ cũng đã bị mất đi sự mạnh mẽ thời trước.
V- Nội dung
        Giáp cốt văn ghi lại nội dung chiêm bốc hoàng gia nhà Thương từ thời Bàn Canh đến đời Trụ Vương trải 270 năm. Người Ân rất mê tín, do đó chuyện lớn chuyện nhỏ gì trước khi làm cũng phải chiêm bốc để biết trước cát hung. Nội dung chiêm bốc là về thời tiết nắng mưa, thu hoạch mùa màng, hoặc hỏi về bệnh tình, sinh nở, những việc nguy hiểm như chiến tranh, săn bắt, quan trọng như tế tự,... thì càng phải xem bói. Do đó nội dung chiêm bói của giáp cốt văn ẩn chứa phần nào về cuộc sống con người đương thời, và cũng như tình hình phát triển của đất nước lúc đó.

VI- Giáp cốt văn và lịch sử Vương triều nhà Thương
        Trong bộ sử ký của Tư Mã Thiên có phần "Ân bản kỷ", nội dung nói về lịch sử và các thế hệ của vương triều nhà Thương. Nhiều học giả trong quá khứ không tin tưởng vào những ghi chép này, bởi chưa có bất cứ ghi chép nào về triều đại đương thời hoặc chứng cứ chứng minh.
        Đầu thế kỷ này, La Chấn Ngọc trong lúc tìm kiếm giáp cốt văn, đã phát hiện những chữ khắc tên của những tiên vương thời Thương, điều này đã chứng thực nơi tìm thấy giáp cốt văn Tiểu Truân chính là Ân Hư, nơi Sử ký nói tới "Hằng thủy nam, Ân hư thượng"
        Sau đó, học giả Vương Quốc Duy đem tên của các đời tiên vương tìm thấy trên giáp cốt văn đối chiếu với Sử ký, chứng thực sự đáng tin của "Ân bản kỷ". Năm 1318 TCN, vua thứ 10 của nhà Thương là Bàn Canh dời đô từ Yểm  (nay là vùng gần Khúc Bố 曲阜 (Sơn Đông, Trung Quốc) sang Ân  (vùng thôn Tiểu Truân 小屯). Từ đó, Ân Hư殷墟 là thủ đô của nhà Thương trong suốt 273 năm. Những thành quả nghiên cứu này đã đem lịch sử đáng tin có khảo chứng của dân tộc Trung Hoa kéo dài hơn nữa về 1000 năm trước.

VII- Chữ giáp cốt trong thư pháp hiện đại
        Thư pháp Giáp cốt văn có 2 trường phái:
            1- Sử dụng lại hoàn toàn bút pháp, kết cấu chữ của thời Thương Chu, đồng thời gia công thêm để thành 
tác phẩm thư pháp. Cách sáng tác này cần tập hợp được nhiều chữ giáp cốt. Nội dung mới mẻ, nhưng chữ thì giống chữ người Ân 3000 năm trước, do đó mang đến nét thú vị, phục cổ. Tuy nhiên, cách sáng tác này có hạn chế là giáp cốt văn hiện tập hợp được chỉ
 hơn 2000 chữ, trong đó có nhiều chữ chưa giải mã được (đặc biệt là tên 
riêng), do đó rất khó sáng tác. Khi gặp trường hợp bảng chữ giáp cốt không có chữ cần dùng, mà lại không thể thay nó bằng chữ khác thì lúc đó phải vận đến cách ghép những phần tương ứng giữa cách viết giáp cốt với chữ hiện đại để tạo "chữ". Còn nếu cách này cũng không dùng được thì phải dùng đến Kim văn, hoặc thể chữ cổ khác. Người tiên phong theo trường phái này là La Chấn Ngọc, tiếp theo còn có Chương Ngọc, Lý Quý Liệt,... 
            2- Trường phái còn lại thì tập trung vào việc mượn đặc trưng của chữ giáp cốt để tiến hành sáng tác. Họ lấy chữ giáp cốt làm cảm hứng, chứ không theo đuổi việc mô phỏng lại hoàn toàn giáp cốt văn. Họ không yêu cầu nghiêm khắc về cách viết, có lúc còn tổ hợp cả Kim văn, Chiến quốc văn,... các thể chữ cổ. Do đó, liên hệ giữa giáp cốt văn với trường phái nghệ thuật này không được sâu sắc.
            Bảng chữ giáp cốt được giải mã:http://www.tienghoa.net.vn/diendan/viewtopic.php?style=18&f=33&t=224

Comments