THUC TE VE HOAT DONG TINH DUC O CON NGUOI 1

Chương 4

Giải Phẫu Tình Dục và Sinh Lý Của Phụ Nữ

George D. Zgourides, Bác Sĩ.

Christie S. Zgourides, Thạc Sĩ.

Dịch viên: Nguyễn Hồng Trang

Người Mỹ nói rất nhiều về tình dục. Nhưng thậm chí sau kết quả của "cuộc cách mạng về tình dục" của những thập niên 60 và 70 hầu hết mọi người vẫn không biết gì nhiều về các cơ quan sinh dục. Thật đáng buồn, những người bình thường thường không có hiểu biết đầy đủ về cơ quan sinh dục của giới mình cũng như giới kia, điều này có thể dẫn đến những lo lắng, các vấn đề, sự ức chế và sự không thỏa mãn liên quan đến tình dục.

Mục đích của chương này là cung cấp một số thông tin cơ bản về giải phẫu (cấu trúc) và sinh lý (chức năng) của các cơ quan sinh dục nữ, cũng như cơ hội suy ngẫm về những vấn đề khác nhau có liên quan.

NHỮNG THUẬT NGỮ VỀ HƯỚNG VÀ VỊ TRÍ GIẢI PHẪU

Bất kỳ thảo luận nào về giải phẫu và sinh lý cũng phải bắt đầu bằng việc trao đổi ngắn gọn liên quan đến các thuật ngữ về hướng, những thuật ngữ này là các từ chính xác mà các nhà giải phẫu học sử dụng để miêu tả vị trí giải phẫu, hay vị trí của các cấu trúc khác nhau trong cơ thể, Các từ như above (trên), below (dưới), front (trước),back (sau) thường gây nhầm lẫn khi sử dụng để nói về các vị trí giải phẫu mà những vị trí này chỉ mang tính tương đối đối với người quan sát. Các nhà giải phẫu học cũng sử những những thuật ngữ về hướng để tránh việc phải mô tả bằng từ ngữ. Ví dụ, thuật ngữ anterior (ở phía trước) là từ cụ thể và chính xác, do đó nó thường được ưa chuộng hơn cụm từ mơ hồ và dài dòng in front of (ở đằng trước). Nguyên tắc tương tự như vậy cũng được áp dụng với thuật ngữ posterior (ở phía sau) (gần đằng lưng của cơ thể), superior (trên) (ở gần đầu), và inferior (dưới) (ở xa đầu).

CÁC CẤU TRÚC SINH DỤC BÊN NGOÀI CỦA PHỤ NỮ

Các cấu trúc sinh dục bên ngoài của phụ nữ (có nghĩa là cơ quan sinh dục ngoài), được gọi dưới tên chung là âm hộ, nó bao gồm một số cấu trúc khác nhau. Các cấu trúc đó là gò vệ nữ, môi ngoài, môi trong, tiền đình, âm vật,đáy chậu.

Gò vệ nữ

Gò vệ nữ (Bắt nguồn từ tiếng La Tinh có nghĩa là "gò của thần Vệ nữ") là từ dùng để chỉ vùng mô thịt và đệm giữa xương mu và da. Ở những phụ nữ trưởng thành, gò vệ nữ được che phủ bởi lông mu. Gò vệ nữ rất nhạy cảm với các kích thích vì ở đây tập trung nhiều đầu cuối của dây thần kinh.

Môi ngoài

Môi ngoài (nghĩa là "môi lớn hơn") là những nếp gấp phía bên ngoài của âm hộ. Những nếp gấp này nằm liền cạnh nhau, nhưng khi mở thì chúng căng ra phơi bày các cấu trúc khác của bộ phận sinh dục. Giống với mô bìu dái của nam giới, môi ngoài trải dài từ gò vệ nữ đến đáy chậu, vùng giữa âm hộ và hậu môn. Lông mu che phủ các phần bên ngoài của môi ngoài, nhưng chúng không che phủ phần bên trong. Vô số đầu cuối của dây thần kinh tập trung ở đây nên vùng này rất nhạy cảm, giống với bìu dái của nam giới.

Môi trong

Những nếp gấp bên trong của âm vật chính là môi trong (nghĩa là "môi nhỏ hơn"). Nó nằm dưới môi ngoài, những nếp gấp không có lông bao phủ này bắt đầu từ chỗ da trùm đầu âm vật (bao quy đầu), nối với môi ngoài gần đáy chậu. Nhiều đầu cuối của dây thần kinh và các mạch máu tập trung ở đây khiến cho môi trong rất nhạy cảm với kích thích. Môi trong cũng bảo vệ niệu đạolỗ âm đạo (những phần mở).

Tiền đình

Tiền đình là bộ phận nằm ở giữa môi trong. Nằm giữa âm vật và lỗ âm đạo là niệu đạo mở, ống niệu đạo đưa nước tiểu từ bàng quan ra ngoài cơ thể. Giữa lỗ niệu đạo và đáy chậu là lỗ âm đạo, hay phần mở của âm đạo. Khi sinh ra, một nếp gấp của màng nhầy niêm mạc, màng trinh, che phủ lỗ âm đạo của một phụ nữ, ít nhất là che phủ một phần. Màng trinh che phủ một phần lỗ âm đạo nói chung thường không gây trở ngại cho việc thoát máu kinh; tuy nhiên, màng trinh không thủng (màng che phủ toàn bộ lỗ âm đạo) lại gây trở ngại cho việc thoát máu kinh. Ở hầu hết phụ nữ, màng trinh sẽ bị rách khi luyện tập hăng hái, khi thụt rửa, thủ dâm, hay có quan hệ tình dục. Đôi khi, các bác sỹ phải rạch để mở những màng trinh đặc biệt dày hay màng trinh không thủng.

Có hai tuyến nhỏ, mỗi tuyến nằm ở một bên chỗ dưới âm đạo, chúng cũng mở thông với tiền đình. Trong thời gian có ham muốn tình dục, những tuyến Bartholin này tiết ra một lượng nhỏ dịch lỏng trước khi đạt đến điểm cực khoái. Chức năng của chất được tiết ra này hiện nay vẫn chưa được rõ.

Âm vật

Âm vật là một cơ quan của mô cương cứng, tương đồng (tương ứng) với đầu dương vật. Nó nằm giữa lỗ niệu đạo và vùng mà ở đó môi trong tiếp xúc tạo nên bao quy đầu hay da trùm đầu âm vật. Thân và gốc âm vật, hay crura (đùi) (những đỉnh nhỏ; dạng thức số ít của từ này là crus), kéo dài từ thân của người phụ nữ và gắn với xương mu. Nhiệm vụ duy nhất của âm vật là phản ứng với khoái cảm tình dục. Cấu trúc của âm vật là hết sức nhạy cảm, vì giống với dương vật, ở âm vật tập trung rất nhiều đầu cuối của dây thần kinh, dù cho bề mặt của âm vật nhỏ hơn. Mô cương cứng của âm vật chứa nhiều máu và nó cương cứng khi phản ứng lại với kích thích tình dục. Trước khi đạt đến điểm cực khoái, âm vật trở nên vô cùng nhạy cảm với việc tiếp xúc và nó co lại thụt vào ở dưới da trùm đầu âm vật. Nếu trực tiếp đụng chạm vào âm vật có thể gây nên sự đau đớn đối với phụ nữ.

Phụ nữ nên giữ cho cơ quan sinh dục phía ngoài của mình được sạch sẽ bằng cách lau rửa thường xuyên, đặc biệt là môi trong và vùng âm vật. Mặt khác, bựa sinh dục, những vật chất trông giống như pho mát được hình thành nên từ vi khuẩn và chất được tiết ra các tuyến âm đạo và tiền đình, có thể tích luỹ ở đó. Hưng phấn tình dục và các hoạt động tình dục có thể gây đau nếu như bựa sinh dục ở da trùm đầu âm vật trở nên cứng và vón cục.

Đáy chậu

Nằm ở giữa lỗ âm đạo và lỗ hậu môn là một vùng da trơn, nhạy cảm, đó chính là đáy chậu. Vì có rất nhiều điểm cuối của dây thần kinh tập trung ở đáy chậu, nên nhiều phụ nữ thấy rằng chà xát vào vùng này vừa tạo nên khoái cảm vừa kích thích hưng phấn tình dục.

CÁC CẤU TRÚC SINH DỤC BÊN TRONG CỦA PHỤ NỮ

Các cấu trúc sinh dục bên trong của phụ nữ gồm có buồng trứng, vòi fallope, tử cungâm đạo

Buồng trứng

Hai buồng trứng là các cấu trúc sinh sản của phụ nữ, chịu trách nhiệm sản xuất và giải phóng ova (trứng) (trứng; dạng thức số ít là ovum) và nó cũng tiết ra các hooc môn sinh dục. Các dây chằng giữ cho mỗi buồng trứng nằm ở một bên của tử cung. Buồng trứng tương đương với tinh hoàn ở nam giới. Trước khi sinh, buồng trứng của nữ chứa tất cả những trứng mà nó sẽ giải phóng trong suốt cuộc đời - khoảng 400.000 trứng. Có những túi, hay nang chứa những trứng chưa trưởng thành, chưa được giải phóng. Trong suốt thời kỳ sinh noãn, trứng trưởng thành nằm ở các nang này.

Ở thời điểm bắt đầu của mỗi chu kỳ kinh nguyệt, một số nang bắt đầu trưởng thành. Nhưng chỉ có duy nhất một nang, được gọi là nang Graafian trưởng thành đúng vào thời điểm sự rụng trứng xuất hiện, khi đó trứng được giải phóng từ nang và buồng trứng. Tiếp theo sự rụng trứng, nang rỗng trở thành thể xốp. Thể xốp có màu vàng này giải phóng hooc môn progesterone, hooc môn này chuẩn bị cho sự mang thai ở tử cung của phụ nữ. Trong suốt cuộc đời của mình, một phụ nữ giải phóng khoảng 500 trứng hoặc ít hơn (có nghĩa là trung bình một lần trong một tháng, phụ nữ rụng trứng); những trứng còn lại thoái hóa và phân huỷ. Sự rụng trứng bắt đầu ở tuổi dậy thì (thời kỳ bắt đầu trưởng thành về mặt sinh dục) và kết thúc vào thời kỳ mãn kinh (chấm dứt khả năng sinh sản).

Vòi Fallope

Vòi fallope là một cặp ống giúp cho sự di chuyển của trứng được giải phóng đến tử cung. Mỗi vòi dài khoảng 4 in xơ, nó nằm cạnh buồng trứng và mở thông tới tử cung. Ở một phụ nữ trưởng thành, trứng chín nở chuyển từ buồng trứng gần vòi fallope khoảng 28 ngày một lần. Sự dao động và lắc lư của tua buồng trứng ( chỗ nhô ra hình ngón tay ở cửa vào vòi fallope) chuyển trứng được giải phóng đến vòi fallope. Sự co bóp của cơ của vòi fallope, cũng như sự chuyển động của mao (các cấu trúc trông giống như lông nhỏ) ở trong vòi làm cho trứng di chuyển hướng đến khoang tử cung. Tốc độ di chuyển của chứng là khoảng 1 inxơ trên 24 giờ. Tinh dịch thụ tinh với trứng ở vòi fallope, thường ở đoạn 1/4 phía ngoài của vòi (nghĩa là đoạn gần với tử cung nhất).

Tử cung

Tử cung là cơ quan sinh sản của phụ nữ chịu trách nhiệm nhận và nuôi dưỡng trứng đã được thụ tinh, hay hợp tử. Trứng được thụ tinh bám vào thành tử ung, và nó ở đó trong suốt thời kỳ thai nghén, hay trong suốt quá trình mang thai. Trong thời gian không mang thai, tử cung có hình quả lê. Nó dài khoảng 3 in xơ, hai đầu có hình nón, mỗi đầu rộng khoảng 2 in xơ, nó nằm trên bàng quang. Trong suốt thời gian mang thai, kích thước và hình dạng của tử cung thay đổi một cách nhanh chóng.

Ba lớp mô tạo nên các thành của tử cung. Màng trong của dạ con là lớp trong cùng của tử cung, là phần bong ra vào thời kỳ hành kinh. Lớp tiếp theo của mô tử cung là màng giữa của dạ con, hay mô cơ, nó co lại khi đạt đến cực khoái, ở thời kỳ hành kinh và khi sinh. Màng ngoài của dạ con là phần ngoài cùng của mô, nó duy trì hình dáng và vị trí của tử cung ở khoang xương chậu.

Phần hẹp, bên ngoài của tử cung, mở thông với âm đạo là cổ tử cung, đường đi của tinh dịch, dịch kinh nguyệt, và thai nhi. Sự mở cổ tử cung, hay cốt, chứa nước nhầy, nước này thường ngăn vi khuẩn không cho xâm nhập vào tử cung. Cổ tử cung là nơi thử nghiệm Pap smear, được sử dụng để kiểm tra xem có ung thư cổ tử cung hay không.

Âm đạo

Âm đạo là kênh ống, cơ nối tử cung và lỗ âm đạo. Âm đạo nằm dưới bàng quang và nằm trên trực tràng. Các thành âm đạo tạo nên các nếp gấp và nó căng ra một cách dễ dàng. Khả năng đàn hồi của âm đạo tạo điều kiện thuận lợi cho dương vật cương cứng ra vào dễ dàng khi sinh hoạt tình dục, nó cũng là đường đi của thai nhi khi chào đời.

Sung huyết mạch (máu chảy vào âm đạo) tăng lên trong suốt thời gian hưng phấn tình dục. Lúc này, lớp thành âm đạo trở nên "ra mồ hôi" và tiết ra chất nhờn bôi trơn. Có rất nhiều dây thần kinh cảm giác tập trung ở vùng ngoài của âm đạo, nơi gần nhất với cửa âm đạo.

"Điểm G" hay điểm Grafenberg, thu hút được sự chú ý của các phương tiện truyền thông từ đầu những năm 80. Điểm G được cho là vùng rất nhạy cảm nằm ở thành trước của âm đạo, nó làm tăng hưng phấn tình dục khi có sự đụng chạm hay ấn vào. Tiếp theo sau sự kích thích ở điểm G, một số phụ nữ có "xuất tinh", sự giải phóng tinh dịch - giống chất lỏng niệu đạo.

Một số nhà nghiên cứu bệnh học thực hiện các mổ sẻ "postmortem" đã phát hiện ra một mô, giống mô tuyến tiền liệt ở vùng của điểm G, tuy nhiên những khám phá này cũng như những khám phá khác hiện vẫn còn gây tranh luận. Kết quả phân tích sinh hóa "tinh dịch phụ nữ" hiện vẫn bị bỏ lửng. Trong khi một số nhà nghiên cứu cho rằng tinh dịch của phụ nữ chỉ đơn thuần chính là nước tiểu, thì các nhà nghiên cứu khác lại cho rằng tinh dịch phụ nữ chứa nhiều thành phần khác với nước tiểu.

HOOC MÔN VÀ CÁC TUYẾN SINH DỤC

Có một số tuyến và hooc môn sinh dục rất quan trọng đối với chức năng sinh sản và tình dục của phụ nữ. Tuyến là một cơ quan tiết ra một hay nhiều chất, thường là hooc môn. Hooc môn là một chất hóa học kích thích hoạt động của tế bào ở nơi nào đó trong cơ thể. Hooc môn kích thích tế bào bằng cách gắn các vị trí thụ thể cụ thể làm hoạt hóa các quá trình hóa học ở trong các tế bào. Các tuyến nội tiết tiết ra các hooc môn trực tiếp vào máu, trong khi các tuyến ngoạt tiết tiết ra các hooc môn vào cơ thể thông qua các ống dẫn. Tuyến nội tiết chịu trách nhiệm tiết ra hooc môn sinh dục nữ.

Vùng đồi dưới

Vùng trung tâm điều khiển hooc môn sinh dục của phụ nữ nằm trong cấu trúc của bộ não, đó là vùng đồi dưới. Ở phụ nữ, vùng đồi dưới tác động lên tuyến yên, đến lượt mình tuyến này tác động lên buồng trứng. Buồng trứng của phụ nữ (và tinh hoàn của nam giới) thuộc tuyến sinh dục. Tuyến yên và tuyến sinh dục các tuyến nội tiết.

Tuyến yên, Hooc môn Giải phóng Kích tố sinh dục, Hooc môn Kích thích nang, và Hooc môn Lutein.

Vùng đồi dưới của phụ nữ phóng thích hooc môn giải phóng kích tố sinh dục (gonadotropin-releasing hormone)(GnRH), mà hooc môn này kích thích tuyến yên giải phóng hai kích tố sinh dục (gonadotropins) (hooc môn ảnh hưởng đến tuyến sinh dục) là: hooc môn kích thích nang (follicle-stimulating Hormone) (FSH) và hooc môn Lutein (luteinizing hormone) (LH). FSH kích thích các nang trứng chín, và LH kích thích sự rụng trứng.

Buồng trứng, Hooc môn Estrogen và Progesterone

Hooc môn FSH và LH từ tuyến yên kích thích buồng trứng sản sinh ra hooc môn estrogen và progesterone. Hooc môn estrogen (hay "estrogen") là hooc môn sinh dục của phụ nữ, chịu trách nhiệm duy trì và phát triển các cơ quan sinh sản của phụ nữ và các đặc tính giới cấp độ hai, phân biệt phụ nữ với nam giới, chẳng hạn như ngực, hông. Hooc môn Progesterone là hooc môn của phụ nữ, chịu trách nhiệm chuẩn bị cho màng trong của dạ con nhận trứng đã được thụ tinh. Sự hoàn ngược các mức độ của những hooc môn này trong máu điều tiết lượng LH và FSH mà tuyến yên tiết ra. Thể xốp trong buồng trứng là nguồn cơ bản của hooc môn progesterone.

Tuyến thượng thận, Buồn trứng và Hooc môn Nam(Kích thích tố Nam)

Tuyến thượng thận (hai tuyến nội tiết, mỗi tuyến nằm trên một quả thận) và buồng trứng tiết ra một lượng nhỏ kích thích tố nam (hooc môn sinh dục nam) ở phụ nữ. Kích thích tố nam ảnh hưởng đến cấu trúc xương, lượng cơ xương, lượng lông trên cơ thể và xu thế tình dục nữ.

Kích tố sinh dục Màng đệm ở Người

Việc phát hiện Kích tố sinh dục màng đệm ở người (human chorionic gonadotropin) (HCG) trong nước tiểu hình thành nên cơ sở của hầu hết các thử nghiệm xem có thai hay không. Hooc môn này được sinh ra bởi nhau thai, đây là cấu trúc phát triển trong suốt thời kỳ mang thai giúp trao đổi dinh dưỡng và chất cặn bã giữa mẹ và thai nhi, do đó HCG chỉ xuất hiện trong thời kỳ mang thai. Mục đích đầu tiên của HCG là duy trì thể xốp, thể này tạm thời làm gián đoạn chu kỳ kinh nguyệt trong suốt thai kỳ.

Hooc môn và Chukỳ Kinh nguyệt

Chukỳ kinh nguyệt là từ dùng để chỉ chu kỳ sinh sản hàng tháng của một phụ nữ. Chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên của phụ nữ, hay sự bắt đầu có kinh, thường xuất hiện ở lứa tuổi 12 và 13, tuy nhiên nó cũng có thể bắt đầu sớm ở lứa tuổi 9 hoặc bắt đầu muộn ở tuổi 17. Chu kỳ kinh nguyệt chấm dứt vĩnh viễn ở thời kỳ mãn kinh ("sự thay đổi trong cuộc sống"), thường là từ 45 cho đến 60 tuổi.

Kinh nguyệt

Chu kỳ kinh nguyệt được kiểm soát bởi hooc môn, một chu kỳ điển hình là 28 ngày, tuy nhiên nó có thể kéo dài từ 21 đến 40 ngày. Một chu kỳ kinh nguyệt bao gồm 3 giai đoạn: kinh nguyệt, tăng sinh,kích thích bài tiết. Một tên khác để gọi giai đoạn kinh nguyệt và giai đoạn tăng sinh là giai đoạn nang¸ còn giai đoạn kích thích bài tiết được gọi là giai đoạn luteal.

Ngày đầu tiên ra máu của chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng, hay sự thấy kinh¸đánh dấu sự bắt đầu của giai đoạn kinh nguyệt của một chu kỳ mới. Kinh nguyệt (hành kinh) có thể kéo dài trong vài ngày. Kinh nguyệt được tống ra ngoài thường bao gồm máu, các chất được tiết ra, và những mảnh vụn mô của tử cung, nó xuất hiện tiếp sau sự biến đổi mạnh mẽ trong mức độ của hooc môn estrogen và progesterone. Trong suốt giai đoạn hành kinh, một người phụ nữ sẽ mất trung bình khoảng 2 đến 3 ao xơ (4 đến 6 thìa xúp) mô tử cung và máu. Lượng máu kinh ra nhiều nhất thường trong vòng vài ngày đầu của chu kỳ mới.

Ở giai đoạn tiếp theo, giai đoạn tăng sinh, FSH được giải phóng từ tuyến yên làm cho buồng trứng kích thích sự chín (trưởng thành) của từ 10 đến 20 nang trứng. Hooc môn estrogen được giải phóng từ những nang này khiến màng trong tử cung trở nên dày hơn và khiến vùng dưới đồi tiết ra hooc môn GnRH. Hooc môn GnRH kích thích sự tiết ra hooc môn FSH và hooc môn LH từ tuyến yên. Một trong các nang này, nang Graafia, chín vào khoảng ngày thứ 14 của chu kỳ, và lúc đó những nang khác thoái hóa. Sự dâng lên trong LH vào khoảng ngày thứ 14 bắt nang Graafia phải giải phóng trứng, và trứng sau đó sẽ chuyển đến vòi fallope.

Ở giai đoạn kích thích bài tiết và sau khi rụng trứng, phần còn lại của nang Graafia biến thành thể xốp, thể này sản xuất ra hooc môn estrogen và progesterone. Những hooc môn này ngăn chặn sự giải phóng GnRH, mà hoóc môn GnRH ngăn cản không cho các nang khác được chín trong thời kỳ này của chu kỳ. Nếu tinh dịch không thụ tinh cho trứng, thể xốp bắt đầu thoái hóa vào khoảng ngày thứ 24 của chu kỳ. Kết quả là, mức độ hooc môn estrogen và progesterone giảm xuống một cách đáng kể, màng trong dạ con bong ra và kinh nguyệt bắt đầu ra vào khoảng ngày thứ 28. Chu kỳ này lặp lại khi mức độ hooc môn estrogen và progesteron thấp đi một lần nữa, báo hiệu vùng đồi dưới tiết ra GnRH.

Suy nghĩ Cá nhân

Nhiều phụ nữ và nam giới cảm thấy khó có thể nói chuyện về các vấn đề giới tính cho con cái của họ. Bạn sẽ giải thích như thế nào với cô con gái hay cậu con trai 10 tuổi của mình về hành kinh và chu kỳ kinh nguyệt?

Các vấn đề và Chukỳ Kinh nguyệt

Nhiều phụ nữ phải chịu sự đau đớn, không thoải mái hay các vấn khác liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng của mình. Những vấn đề liên quan đến kinh nguyệt phổ biến nhất là vô kinh, Thống kinh, lạc nội mạc tử cung,hội chứng tiền kinh nguyệt. Hội chứng sốc nhiễm độc là một tình trạng nghiêm trọng gây ra bởi việc sử dụng quá lâu hay sử dụng sai băng vệ sinh, đặc biệt là các loại siêu thấm.

Vô kinh. Từ thuật ngữ để chỉ việc không có kinh nguyệt là vô kinh, hiện tượng này có 3 loại: nguyên phát, là loại dùng để chỉ phụ nữ không bao giờ có kinh; thứ phát dùng để chỉ phụ nữ mất kinh hơn một chu kỳ; và bình thường, dùng để chỉ phụ nữ dừng không hành kinh trong thời gian mang thai hay cho con bú. Vô kinh nguyên phát chủ yếu là do những rối loạn nội tiết của vùng đồi dưới và tuyến yên, hay những bất thường về gien của tử cung và buồng trứng. Hầu hết tất cả các phụ nữ đều đã từng trải qua vô kinh thứ phát, đó là do nguyên nhân thiếu ăn, rối loạn trong việc ăn uống, các trạng thái tình cảm cực đoan, luyện tập quá mức, thiếu hụt hooc môn, hay bệnh tật. Việc chữa trị vô kinh thứ phát liên quan đến nhận biết và điều trị những nguyên nhân ẩn dưới, và nó có thể bao gồm cả liệu pháp hooc môn.

Chứng thống kinh. Từ thuật ngữ dùng để chỉ những đau đớn hay khó khăn khi có kinh được gọi là chứng thống kinh. Các triệu chứng đặc trưng là chuột rút, đau đầu, buồn nôn, táo bón và đái rắt. Thống kinh nguyên phát là hiện tượng đau bụng kinh do sự tăng cao bất thường của hooc môn prostaglandins, hay các chất gây ra sự co thắt tử cung. Dạng thống kinh này thường được điều trị bằng thuốc nhằm ngăn cản sự sản sinh hooc môn prostaglandin, chẳng hạn như ibuprofen. Thống kinh thứ phát là hiện tượng đau bụng kinh liên quan đến một số dạng bệnh lý ở khung xương chậu.

Lạc nội mạc tử cung. Một nguyên nhân thường thấy gây thống kinh thứ phát là lạc nội mạc tử cung, hay sự phát triển của mô màng trong tử cung ra ngoài tử cung, chẳng hạn như phát triển trong buồng trứng, vòi fallope, hay ở thành bụng. Có khoảng từ 4 đến 10 triệu phụ nữ Mỹ bị lạc nội mạc tử cung. Giống với mô màng trong tử cung ở trong tử cung, mô nằm ngoài tử cung này phát triển và bong ra ở mỗi chu kỳ kinh nguyệt. Nó có thể gây ra những cơn đau đớn dữ dội trong suốt thời gian rụng trứng, hành kinh và khi sinh hoạt tình dục. Bệnh lạc nội mạc tử cung có thể gây sảy thai và vô sinh. Điều trị bệnh này đòi hỏi cần phải sử dụng liệu pháp hooc môn hay loại bỏ những mô phát triển ngoài tử cung bằng phẫu thuật.

Hội chứng tiền kinh nguyệt. Những phụ nữ mắc Hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS, hay rối loạn gây khó chịu tiền kinh nguyệt) là những người có các triệu chứng rối loạn liên quan đến tình cảm, hành vi, và cơ thể trước, đôi khi là trong, thời kỳ kinh nguyệt. Các triệu chứng của PMS có thể rất đa dạng từ hơi khó chịu cho đến không thể làm nổi việc gì. Ở những trường hợp nghiêm trọng, PMS hạn chế khả năng làm việc hay thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của phụ nữ từ hai hay ba tuần trong một tháng. Ước tính có khoảng 75% phụ nữ ít nhất đã từng chịu các triệu chứng PMS, tuy nhiên chỉ có số lượng rất ít những phụ nữ này - có lẽ ít hơn 10% - phải chịu các triệu chứng PMS ở mức độ nghiêm trọng đến nỗi nó làm gián đoạn các hoạt động hàng ngày của họ.

Đến nay, các nguyên nhân chính xác gây ra hội chứng tiền kinh nguyệt vẫn chưa được biết rõ, tuy nhiên các chuyên gian nghi ngờ rằng sự thiếu hụt hooc môn, rối loạn lượng đường trong máu, giữ dịch và/hay các yếu tố tâm lý có thể đóng vai trò trong việc gây ra PMS. Có nhiều cách chữa trị hội chứng này, tuỳ thuộc vào từng cá nhân, nhưng nhìn chung việc chữa trị PMS thường liên quan đến việc cố gắng làm giảm các triệu chứng gây khó chịu. Phụ thuộc vào tình trạng của từng người, bác sỹ điều trị có thể hướng dẫn bệnh nhân ăn kiêng hay thay đổi lối sống, tập thể dục nhiều hơn, hoặc uống thuốc. Những trường hợp nặng của PMS thường phải kết hợp điều trị bằng liệu pháp hooc môn, tư vấn, hỗ trợ nhóm và giáo dục.

Hội chứng Sốc do Nhiễm độc. Nguyên nhân là do các độc tố từ vi khuẩn hình cầu, hội chứng sốc do nhiễm độc (toxic shock syndrome) (TSS) là bệnh chủ yếu tác động đến những phụ nữ sử dụng băng vệ sinh siêu thấm hay sử dụng các phương pháp tránh thai không đúng cách (ví dụ để màng chắn hay mũ chụp cổ trong âm hộ nhằm kéo dài thời gian). Làm như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho khuẩn cầu sinh sôi nảy nở và lan nhanh đến cổ tử cung, vòi fallope. Những độc tố được giải phóng sau đó sẽ thâm nhập vào máu và nhanh chóng chế ngự hệ thống bảo vệ của cơ thể. Các triệu chứng của TSS bao gồm hạ huyết áp, đau đầu, sốt cao, đau họng, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy, phát ban, sưng rát âm đạo, mệt, ngất xỉu, chức năng gan và thận bị suy yếu. Trường hợp nặng của TSS có thể dẫn đến tử vong. Để tránh TSS, phụ nữ nên sử dụng các loại băng vệ sinh thông thường, phải thay băng vệ sinh ít nhất là từ 4 đến 8 tiếng một lần trong thời gian hành kinh. Điều thú vị là không phải tất cả các trường hợp TSS đều xuất hiện ở những phụ nữ có kinh mà TSS cũng có thể tấn công nam giới và trẻ nhỏ.

SINH HOẠT TÌNH DỤC VÀ CHUKỲ KINH NGUYỆT

Sinh hoạt tình dục trong thời kỳ hành kinh thì sao? Không hề có một lý do nào liên quan đến sức khỏe để tránh không quan hệ tình dục trong thời gian này cả, trừ một số ngoại lệ liên quan đến trường hợp hành kinh của từng người cụ thể, chẳng hạn ra quá nhiều máu hoặc thống kinh. Trong một số trường hợp, quan hệ tình dục có thể làm giảm sự khó chịu do bị chuột rút trong thời kỳ hành kinh nếu như người phụ nữ đạt được đến cực khoái, có lẽ quan hệ tình dục giúp làm thư giãn các cơ quan ở vùng hông và cơ. Một cuộc trao đổi thẳng thắn trước khi bị hành kinh có thể xóa bỏ những hiểu lầm, gây tổn thương tình cảm hoặc lúng túng.

BỘ NGỰC

Bộ ngực của phụ nữ đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động tình dục và nuôi con, mặc dù nó không thực sự là cơ quan sinh sản. Nói các khác, bộ ngực là cấu trúc giới tính thứ yếu, không phải chủ yếu (trực tiếp liên quan đến việc sinh sản).

Ở giữa bộ ngực là núm vú, từ núm vú sữa được cung cấp để nuôi em bé. Quầng vú là vùng ở xung quanh núm vú, nó thường chứa tuyến bã nhờn (dầu) nhỏ giúp đầu vú được trơn trong quá trình cho con bú. Tuyến bã nhờn xuất hiện như những u thịt nhỏ ở trên quầng vú. Một phụ nữ cũng có thể thấy lông mọc xung quanh quầng vú của mình, lông thường là do những thay đổi hooc môn liên quan đến tuổi. Núm vú có thể cương cứng khi gặp lạnh hay khi gặp kích thích liên quan đến sự va chạm, chẳng hạn như cọ xát với những loại vải nhất định nào đó.

Ở những phụ nữ trưởng thành, tuyến vú sản xuất ra sữa, sữa đi đến núm vú thông qua rất nhiều ống dẫn sữa. Những tuyến này chịu trách nhiệm sản xuất ra sữa để phản ứng lại với những thay đổi hooc môn sau khi sinh em bé. Tuy nhiên, dịch tiết của núm vú có thể xuất hiện bất kỳ thời gian nào.

Kích cỡ của bộ ngực ở các phụ nữ khác nhau là khác nhau, nó phụ thuộc vào số lượng mô mỡ ở xung quanh tuyến vú. Mặc dù những người có bộ ngực lớn trông có thể hấp dẫn đối với một số người, nhưng về mặt chức năng thì hầu như không có gì khác biệt giữa ngực lớn và ngực nhỏ. Kích cỡ bộ ngực không có liên quan gì đến dục tình và cũng không có liên quan gì đến lượng sữa mà người phụ nữ sản xuất ra.

Số lượng và kích cỡ mô tuyến của một phụ nữ có thể khác nhau ở những thời điểm khác nhau trong cuộc đời của cô ta. Tuyến vú đặc biệt nhạy cảm với những thay đổi hooc môn, chẳng hạn như những hooc môn xuất hiện trong thời kỳ kinh nguyệt hay mang thai, hay khi người phụ nữ dùng thuốc tránh thai. Bộ ngực của một phụ nữ có thể to lên gần gấp hai lần so với kích cỡ bình thường khi cô ta mang thai.

Sự tiết sữa và Nuôi con bằng sữa

Sự sản xuất ra sữa của ngực được gọi là sự tiết sữa. Tuyến vú sản xuất ra sữa từ những chất tuần hoàn trong máu của phụ nữ. Khi mang thai, các thay đổi của tuyến tạo điều kiện cần thiết cho việc tiết sữa. Nhau thai (thông qua nhau thai, các chất dinh dưỡng và chất thải sẽ được trao đổi giữa mẹ và em bé) sản xuất ra nhiều hooc môn progesterone và estrogen hơn, điều này khiến cho các ống và tuyến sữa phát triển. Hooc môn tiết sữa của tuyến yên kích thích việc sản xuất ra sữa, tuy nhiên mức độ cao hơn bình thường của hooc môn progesterone và estrogen cũng ngăn cản hoạt động này. Mức độ cao của những hooc môn này làm cho nhau thai rơi khỏi tử cung sau khi sinh. Trong vòng vài ngày sau khi sinh, thay vì sản xuất ra sữa, ngực giải phóng sữa non, một chất lỏng giống sữa, giàu kháng thể chống nhiễm trùng. Sau khi vùng đồi dưới nhận được các tín hiệu thần kinh từ núm vú khi đứa trẻ bú; vùng đồi dưới chỉ đạo tuyến yên tiết ra hooc môn oxytocin, hooc môn này kích thích tuyến sữa co thắt và tiết ra sữa. Khi đứa trẻ được cai sữa và sữa không còn được tiết ra trên cơ sở thường xuyên, vùng đồi dưới chỉ đạo tuyến yên dừng việc tiết sữa của hooc môn prolactin.

Khả năng sinh sản trong thời gian nuôi con bằng sữa

Trong hầu hết các trường hợp, việc nuôi con bằng sữa tạm thời ngăn cản sự rụng trứng để đáp lại việc tăng lượng hooc môn prolactin, hooc môn này ngăn cản việc tiết ra LH. Tần số và cường độ của việc nuôi con bằng sữa giữ cho hooc môn prolactin luôn ở mức độ cao. Nhưng khi mức độ này giảm cùng với việc nuôi con bằng sữa ít đi, người phụ nữ lại có khả năng sinh sản. Mặc dù việc xuất hiện lại của chu kỳ kinh nguyệt là dấu hiệu cho thấy khả năng sinh sản đã quay trở lại nhưng sự rụng trứng có thể bắt đầu trong thời kỳ tiết sữa và trước khi kinh nguyệt quay trở lại. Bởi thế, để cẩn thận những phụ nữ đang cho con bú và không muốn có thai nên sử dụng các biện pháp tránh thai không liên quan đến hooc môn (không uống thuốc tránh thai) khi có quan hệ tình dục.

Đọc tiếp

Giải Phẫu Tình Dục và Sinh Lý Của Phụ Nữ

George D. Zgourides, Bác Sĩ.

Christie S. Zgourides, Thạc Sĩ.

Dịch viên: Nguyễn Hồng Trang

KHÁM PHỤ KHOA

Những nguy cơ gây bệnh nghiêm trọng thường được chữa trị dễ dàng hơn nếu như được phát hiện sớm. Đây chính là lý do tại sao phụ nữ nên đi khám phụ khoa định kỳ - kiểm tra y tế gắn liền với những rối loạn liên quan đến sinh sản của phụ nữ. Các kiểm tra nên được bắt đầu từ khoảng 18 tuổi hay khi người phụ nữ bắt đầu có quan hệ tình dục, tuỳ điều kiện nào xảy ra trước. Khám phụ khoa định kỳ hàng năm là phổ biến nhất, tuy nhiên, độ tuổi, lịch sử bệnh án, và việc sử dụng các biện pháp tránh thai là các yếu tố quyết định mức độ thường xuyên của việc khám phụ khoa. Một số phụ nữ ngại đi khám phụ khoa vì lo lắng hay sợ đau, tuy nhiên khám phụ khoa là bước đi đầu tiên rất quan trọng để nhận biết nguy cơ bệnh tật và các vấn đề có liên quan. Một cuộc khám phụ khoa tiêu biểu bao gồm các bước: kiểm tra và xem xét lịch sử khám chữa bệnh chung, kiểm tra vùng dưới,thử nghiệm Pap smear. Một số phụ nữ còn phải chụp X quang tuyến vú.

Kiểm tra xem xét lịch sử khám chữa bệnh

Cung cấp cho các bác sỹ phụ khoa (bác sỹ chuyên khoa điều trị những rối loạn liên quan đến sinh sản ở phụ nữ) hay các bác sỹ hành nghề chăm sóc sức khỏe chi tiết lịch sử khám chữa bệnh và lịch sử xã hội là một phần rất quan trọng đối với việc khám phụ khoa. Bác sỹ sẽ có được một bức tranh rõ ràng hơn về tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân, chi tiết về những căn bệnh, những điều kiện và các vấn đề trước đây cũng như hiện tại, lịch sử bệnh án gia đình; các thuốc đã sử dụng, và lịch sử tình dục. Nhiều phụ nữ cũng tranh thủ thời gian này để trao đổi với các bác sỹ phụ khoa những vấn đề có liên quan đến tình dục chẳng hạn như lợi thế và bất lợi của từng biện pháp tránh thai cụ thể.

Việc kiểm tra y tế toàn bộ thường bao gồm các bước sau: nghe tim, phổi bằng ống nghe, kiểm tra mạch, huyết áp, cân năng; thử máu và nước tiểu; ở một số trường hợp còn tiến hành cả việc kiểm tra xem có mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục hay không. Bác sỹ phụ khoa căn cứ vào lịch sử bệnh án của bệnh nhân để xem xét xem có điều gì bất thường, và có thể yêu cầu bệnh nhân làm thêm một số xét nghiệm.

Kiểm tra vùng Xương chậu

Một đặc điểm nổi bật của khám phụ khoa là kiểm tra vùng xương chậu, kiểm tra này bao gồm 4 phần. Đó là: (1) kiểm tra bằng mắt phần bên ngoài bộ phận sinh dục, (2) kiểm tra bằng mắt các bộ phận bên trong nếu có thể, (3) kiểm tra bằng hai tay các cấu trúc bên trong, và trong một số trường hợp (4) kiểm tra trực tràng âm đạo.

Bệnh nhân nằm trên bàn kiểm tra, hai chân mở rộng đặt ở trên "bàn đạp", bác sỹ đeo găng tay y tế, đầu tiên tiến hành kiểm tra phần bên ngoài của bộ phận sinh dục xem có đau, rát, sưng và có dấu hiệu nhiễm trùng nào không. Tiếp theo, bác sỹ sử dụng phễu soi mỏ vịt (một sụng cụ bằng nhựa hoặc bằng thép) để mở rộng thành âm đạo, kiểm tra âm đạo và cổ tử cung. Sau khi bỏ phễu soi mỏ vịt ra, bác sỹ thực hiện việc kiểm tra với hai tay bằng cách đút hai ngón tay đeo găng vào trong âm đạo và bắt mạch (ấn), xem xét các phần khác nhau của bụng dưới. Bác sỹ chú ý đến bất kỳ sự mềm và không đều nào trong kích cỡ và hình dạng của các cơ quan thuộc vùng xương chậu.

Trong một số trường hợp, bác sỹ cũng thực hiện kiểm tra trực tràng âm đạo. Bác sỹ đặt một ngón tay vào trực tràng và một ngón tay khác vào âm đạo rồi kiểm tra các cơ quan thuộc vùng xương chậu, trực tràng và hậu môn của bệnh nhân xem có gì bất thường không.

Thử nghiệm Pap Smear

Có lẽ phần quan trọng nhất trong khám phụ khoa là thử nghiệm Pap smear, một thử nghiệm dùng để phát hiện sự có mặt của các tế bào dị thường liên quan đến sự phát triển của các chỗ sưng, viêm, u lành tính hay tiền ác tính, và/hoặc ung thư. Thử nghiệm giúp cứu sống người này phát hiện có hiệu quả căn bệnh ung thư cổ tử cung ở giai đoạn đầu tuy mức độ chắc chắn không phải lúc nào cũng đạt 100%. Sau khi mở căng thành âm đạo bằng phễu mỏ vịt, bác sỹ dùng gạc và que trộn lấy một số tế bào ở cổ tử cung, phòng xét nghiệm chuẩn bị một bản kính mang vật và kiểm tra các tế bào này bằng kính hiển vi. Nếu có tế bào dị thường thì nó sẽ được nhìn thấy, nó trông khác so với các tế bào bình thường khác.

Chụp X quang tuyến vú

Chụp X quang tuyến vú là một kiểm tra sử dụng tia X để phát hiện những cục nhỏ ở trong vú trước khi chúng có thể được phát hiện bằng tay. Hiệp hội Ung thư Mỹ, cũng như hầu hết các bác sỹ và y tá khuyên phụ nữ nên chụp X quang tuyến vú trước 40 tuổi; chụp hàng năm hoặc hai năm một lần từ tuổi 40, chụp hàng năm từ tuổi 50 trở đi. Chụp X quang tuyến vú là một công cụ chuẩn đoán hiệu quả. Tuy nhiên, kiểm tra này vẫn còn gây tranh cãi. Một số chuyên gia cho rằng chụp X quang tuyến vú quá nhiều làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư ở phụ nữ. Kết hợp giữa việc chụp X quang tuyến vú định kỳ, khám bác sỹ và tự kiểm tra ngực hàng tháng có vẻ là cách tin cậy và an toàn nhất nhằm phát hiện các khối u ở ngực.

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH

1. Các nhà giải phẫu học sử dụng những thuật ngữ về hướng chính xác để miêu tả các vị trí giải phẫu, hay vị trí của các cấu trúc khác nhau trong cơ thể.

2. Các cấu trúc sinh dục bên ngoài của phụ nữ hay âm hộ, nó bao gồm một số cấu trúc khác nhau. Các cấu trúc đó là gò vệ nữ, môi ngoài, môi trong, tiền đình, âm vật,đáy chậu. Gò vệ nữ là từ dùng để chỉ vùng mô thịt đệm giữa xương mu và da. Môi ngoài là những nếp gấp phía bên ngoài của âm hộ; Môi trong là những nếp gấp bên trong. Môi trong bắt đầu từ chỗ da trùm đầu âm vật nối với môi ngoài gần đáy chậu. Tiền đình là bộ phận nằm ở giữa môi trong mà từ đó niệu đạo và âm đạo mở ra ngoài. Hai tuyến Bartholin cũng mở thông với tiền đình. 's glands also open into the vestibule. Âm vật là một cơ quan của mô cương cứng, tương đồng với đầu dương vật nam. Nằm ở giữa lỗ âm đạo và lỗ hậu môn là một vùng da trơn, nhạy cảm, đó chính là đáy chậu.

3. Các cấu trúc sinh dục bên trong của phụ nữ gồm có buồng trứng, vòi fallope, tử cungâm đạo. Hai buồng trứng là các cấu trúc sinh sản của phụ nữ, chịu trách nhiệm sản xuất và giải phóng trứng và nó cũng tiết ra các hooc môn sinh dục. Việc giải phóng trứng từ buồng trứng gọi là sự rụng trứng, rụng trứng bắt đầu từ tuổi dậy thì và kết thúc vào lúc mãn kinh. Vòi fallope là một cặp ống giúp cho sự di chuyển của trứng được giải phóng đến tử cung. Tử cung là cơ quan sinh sản của phụ nữ chịu trách nhiệm nhận và nuôi dưỡng trứng đã được thụ tinh. Phần hẹp, bên ngoài của tử cung, mở thông với âm đạo là cổ tử cung. Âm đạo là kênh ống, cơ nối tử cung và lỗ âm đạo.

4. Có một số tuyến và hooc môn sinh dục rất quan trọng đối với chức năng sinh sản và tình dục của phụ nữ. Vùng đồi dưới phóng thích hooc môn giải phóng kích tố sinh dục (gonadotropin-releasing hormone), mà hooc môn này kích thích tuyến yên giải phóng hooc môn kích thích nang (follicle-stimulating Hormone)(kích thích các nang trứng chín) và hooc môn Lutein (luteinizing hormone)(kích thích sự rụng trứng). Sự tiết ra hai hooc môn này của tuyến yên cũng kích thích buồng trứng sản sinh ra hooc môn estrogen (chịu trách nhiệm phát triển các cơ quan sinh sản của phụ nữ và các đặc tính giới cấp độ hai), và hooc mônprogesterone (chịu trách nhiệm chuẩn bị cho sự mang thai của phụ nữ). Thể xốp (được hình thành từ nang Graafia rỗng) là nguồn cơ bản của hooc môn progesterone.

5. Chu kỳ sinh sản 28 ngày của phụ nữ, hay chu kỳ kinh nguyệt, là chu kỳ được kiểm soát bởi hooc môn, và bao gồm 3 giai đoạn: kinh nguyệt, tăng sinh,kích thích bài tiết. Kinh nguyệt là từ dùng để chỉ việc ra máu và mô dạ con từ âm đạo hàng tháng.

6. Nhiều phụ nữ phải chịu sự đau đớn, không thoải mái hay các vấn khác liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng của mình. Những vấn đề liên quan đến kinh nguyệt phổ biến nhất là vô kinh (không có kinh), Thống kinh (đau khi có kinh), lạc nội mạc tử cung (sự phát triển gây đau của mô dạ con, phát triển ra ngoài tử cung),hội chứng tiền kinh nguyệt hay PMS (những khó chịu về mặt thể chất, hành vi và tình cảm trước khi thấy kinh). Hội chứng sốc nhiễm độc(chất độc nhiễm vào máy) là một tình trạng nghiêm trọng gây ra bởi việc sử dụng quá lâu hay sử dụng sai băng vệ sinh, đặc biệt là các loại siêu thấm.

7. Bộ ngực là cấu trúc sinh sản thứ yếu, nó sản xuất và tiết ra sữa để nuôi em bé. Tuyến vú sản xuất ra sữa, sữa đi đến núm vú thông qua rất nhiều ống dẫn sữa. Việc sản xuất ra sữa của bộ ngực thuật ngữ gọi là lactation (sự tiết sữa). Tuyến yên tiết ra prolactin (hooc môn này kích thích việc sản xuất ra sữa) và oxytocin (hooc môn này kích thích tuyến sữa co thắt và tiết ra sữa).

8. Tất cả phụ nữ đều nên đi khám phụ khoa định kỳ. Một cuộc khám phụ khoa tiêu biểu bao gồm các bước: kiểm tra và xem xét lịch sử khám chữa bệnh chung, kiểm tra vùng dưới,thử nghiệm Pap smear và trong một số trường hợp còn phải chụp X quang tuyến vú. Phụ nữ trưởng thành cũng nên tự kiểm tra ngực hàng tháng.


 

Chương 5

Giải Phẫu Tình Dục và Sinh Lý Của Nam Giới

George D. Zgourides, Bác Sĩ.

Christie S. Zgourides, Thạc Sĩ.

Dịch viên: Nguyễn Hồng Trang

Mục đích của chương này là cung cấp một số thông tin cơ bản về cấu tạo và hoạt động của các cơ quan sinh dục nam, cũng như cơ hội suy ngẫm về những vấn đề khác nhau có liên quan.

CÁC CẤU TRÚC SINH DỤC BÊN NGOÀI CỦA NAMGIỚI

Các cấu trúc sinh dục bên ngoài của nam giới bao gồm hai cấu trúc chính, đó là dương vậtbìu dái.

Dương vật

Dương vật là cơ quan của nam giới thuộc bộ phận bài tiết và sinh dục. Chức năng của nó là chuyển nước tiểu và tinh dịch từ niệu đạo ra ngoài cơ thể. Là phần nhô ra của thành dưới bụng, dương vật bao gồm đầu, thân,gốc. Sự cương cứng là quá trình mà dương vật dài ra và trở nên cứng. Sự xuất tinh là quá trình mà tinh dịch bắn ra khỏi dương vật. Sự xuất tinh thường xuất hiện khi dương vật dựng lên, và việc đi tiểu xảy ra khi dương vật mềm, không cương.

Kích cỡ và hình dáng của dương vật giữa những người đàn ông khác nhau là khác nhau. Chiều dài trung bình của dương vật khi mềm là từ 3 đến 4 in xơ; chiều dài trung bình của dương vật khi cương lên là từ 5 đến 7 in xơ. Nhiều người đàn ông và phụ nữ cho rằng chiều dài của dương vật đóng một phần rất quan trọng trong sinh hoạt tình dục. Dương vật "lớn hơn luôn luôn tốt hơn", cách nghĩ như vậy đã gây nên những lo lắng không cần thiết đối với một số nam giới. Kích thước của một dương vật khi cương cứng nhìn chung không quan trọng cả về mặt thể chất hay tâm lý khi nó dùng để kích thích cơ quan sinh dục của phụ nữ trong quá trình quan hệ tình dục. Kích cỡ của dương vật không có vài trò gì trong dục tình cũng như cường độ của sự cực khoái.

Các cấu trúc bên ngoài của dương vật. Các cấu trúc bên ngoài của dương vật bao gồm đầu, thângốc. Đầu (glans hay head) là một phần mềm, nhạy cảm nằm cuối dương vật, là cửa mở của niệu đạo. Lỗ niệu đạo (urethral orifice hay meatus) nằm ở giữa đỉnh đầu của dương vật. Phần da gần đầu dương vật nhất là bao quy đầu (foreskin, hay prepuce). Ở nam giới không cắt bao quy đầu, thì da quy đầu chính là chính là phần vỏ bọc bên ngoài mỏng của da, che phủ gần như hoàn toàn đầu dương vật. Ở nam giới đã cắt bao quy đầu thì da quy đầu đã được bỏ đi nhờ việc phẫu thuật, đầu dương vật lộ ra ngoài.

Mặc dù toàn bộ dương vật là phần rất nhạy cảm với việc đụng chạm, nhưng đầu của dương vật là nơi tập trung nhiều dây thần kinh và là vùng nhạy cảm nhất, tương đương với âm vật của phụ nữ. Có hai phần thuộc đầu dương vật đặc biệt nhạy cảm khi sờ vào đó là vòng tròn ở đầu (coronal ridge, hay corona) nó nằm ở nơi nối giữa thân và đầu dương vật, và hãm (frenulum), nằm ở mặt dưới của vòng tròn đầu dương vật.

Thân của dương vật là phần lớn nhất của nó. Thân dương vật được tạo thành từ ba hình trụ của mô cương cứng, mà mô này chứa đầy máu khi dương vật cương lên. Bao quanh thân dương vật là phần da lỏng lẻo giúp cho dương vật to lên.

Gốc dương vật nối thân dương vật và mặt dưới của bụng. Phía trên gốc dương vật là các hình trụ cương lên ở trong dương vật, hẹp dần để tạo thành crura (những đầu nhỏ, dạng thức số ít là crus) gắn với xương mu.

Sự cắt bao quy đầu. Khi sinh ra, bao quy đầu còn nguyên cà nó bao phủ gần hết đầu của dương vật. Cắt bao quy đầu là phẫu thuật loại bỏ phần vỏ bọc bên ngoài mỏng của da.

Tại sao lại phải cắt bao quy đầu? Có nhiều lý do khiến cho nam giới đi cắt bao quy đầu. Từ nhiều thế kỷ trước và ở các xã hội khác nhau, các nghi lễ tôn giáo và/hay nghi lễ chuyển giao bao gồm việc cắt bao quy đầu. Nghi thức này hiện vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi trên thế giới (ví dụ như ở những người theo Đạo Hồi và đạo Do Thái)

Ở nhiều nước Phương Tây, việc cắt bao quy đầu ở trẻ em mới sinh ra đã trở thành một việc làm thường lệ. Ngày nay, khoảng 60% nam giới ở Mỹ đã cắt bao quy đầu, một số người cắt vì lý do tôn giáo, nhưng phần lớn họ cắt vì lý do vệ sinh. Nhiều chuyên gia về chăm sóc sức khỏe tin rằng cắt da quy đầu giúp bảo vệ chống lại sự lây nhiễm và thậm chí cả bệnh ung thư dương vật, vì cắt bao quy đầu khiến cho việc vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục của nam giới, đặc biệt là vùng xung quanh và vùng dưới bao quy đầu trở nên dễ dàng hơn, sạch không có bựa sinh dục. Họ cũng tin rằng cắt bao quy đầu có thể ngăn chặn sự lây truyền vi khuẩn từ âm đạo của bạn tình, làm giảm nguy cơ ung thư cổ tử cung và tử cung của bạn gái.

Có một điều kiện thường đòi hỏi phải cắt bao quy đầu, đó là một số nam giới bị hẹp bao quy đầu, da quy đầu quá khít đến nỗi khi cương cứng gây đau đớn. Nói chung, cắt bao quy đầu sẽ loại bỏ được vấn đề này. Ngoài chứng hẹp bao quy đầu ra, không có lý do nào có cơ sở vững chắc về mặt sức khỏe để phải cắt bao quy đầu? Theo như Hiệp hội Nhi khoa Mỹ, việc cắt bao quy đầu vừa có lợi về mặt y tế nhưng cũng vừa có các nguy cơ tiềm năng. Tuy nhiên, theo phong trào chống lại việc cắt bao quy đầu đang phát triển mạnh thì rủi ro của việc làm này lớn hơn nhiều lần lợi ích của nó. Các rủi ro ở đây bao gồm các tai nạn gây thương tật cho dương vật khi tiến hành cắt, nhiễm trùng và thậm chí tê liệt với các kích thích tình dục. Những người chống lại hành động này một mặt phản đối việc các bao quy đầu vì các lý do tôn giáo hay mỹ học, mặt khác phản đối cả các lý do được cho là có liên quan đến sức khỏe.

Suy nghĩ Cá nhân

Thử tưởng tượng vào một lúc nào đó bạn rất tự hào được làm cha mẹ của một bé trai. Bác sỹ của bạn tiến lại gần và hỏi bạn xem bạn có muốn cắt bao quy đầu của em bé mới sinh không. Bạn sẽ trả lời như thế nào? Và tại sao?

Các cấu trúc Bên trong của Dương vật. Đầu và thân của dương vật gồm có ba cột hay ba hình trụ của mô cương cứng. Hai hình trụ lớn hơn được gọi là cavernous bodies (thân khoang). Hình trụ nhỏ hơn mà niệu đạo đi qua được gọi là spongy body (thân xốp). Thân hang và thân xốp kéo dài chiều dài của thân dương vật, và đỉnh của thân xốp tạo thành đầu dương vật. Tất cả ba trục này chứa các khoang mạch - những ổ nhỏ, trông giống như bọt biển, chúng chứa đầy máu và khiến cho dương vật trở nên cứng hơn. Thân xốp là phần nhô cao nhất của các hình trụ khi dương vật cương cứng.

Trong suốt quá trình hưng phấn tình dục, các xung lực từ hệ thống thần kinh làm tăng lượng máu chảy đến thân hang và thân xốp bằng cách báo hiệu cho các mạch máu trong dương vật giãn ra. Khi dương vật chứa đầy máu, các tĩnh mạch khiến máu di chuyển ra ngoài khỏi dương vật siết lại khiến cho lượng máu giữ lại trong dương vật nhiều hơn lượng máu đi ra. Điều này khiến cho dương vật cương cứng. Khi các xung thân kinh giảm đi, lượng máu đi ra và vào dương vật trở lại bình thường, và dương vật quay trở lại trạng thái mềm của nó. Điều này hoàn toàn đối lập lại với những chuyện hoang đường, sự cương cứng của dương vật không liên quan gì đến bất kỳ một loại xương thuộc dương vật nào, cho dù có một từ phổ biến được dùng để chỉ sự cương cứng đó là "cái xương".

Sự cương cứng không phải là một hiện tượng hoặc được cả hoặc mất hết (hoặc cương hoàn toàn, hoặc mềm oặt). Dương vật có thể mềm, cương lên một phần, hoặc cương cứng hoàn toàn. Mức độ cương cứng là khác nhau tuỳ thuộc vào sự hưng phấn và kích thích cũng như bất kỳ nhân tố nào khác chẳng hạn như sức khỏe chung, tuổi tác, thuốc uống, lượng rượu, bệnh tiểu đường, suy nhược thần kinh thể tim mạch, sự lo lắng, bệnh trầm cảm. Đàn ông có thể trải nghiệm các mức độ khác nhau của sự cương cứng trong suốt thời gian sinh hoạt tình dục. Tuy nhiên, dương vật của người đàn ông trở nên dài và cương cứng nhất vào lúc trước khi xuất tinh.

Góc và độ cong của một dương vật cương cứng hoàn toàn là khác nhau giữa những người đàn ông khác nhau - từ hướng thẳng lên phía mặt người đó cho đến hướng ra ngoài thân thể, hoặc hướng sang bên phải, hoặc hướng sang bên trái. Góc này có thể thay đổi trong cuộc đởi của một người đàn ông.

Cương cứng không đơn thuần là một hiện tượng sinh lý mà nó còn liên quan tới cả các yếu tố tâm lý và xã hội. Nói chung, khi một kích thích tình dục trong môi trường khơi gợi những suy nghĩ và nhận thức liên quan đến tình dục, bộ não và hệ thống thần kinh ra tin hiệu cho dương vật cương cứng. Vuốt ve và nắn bóp dương vật sẽ kích thích thêm trung ương thần kinh ở tủy sống, duy trì sự cương cứng và làm tăng các cảm giác, suy nghĩ liên quan đến tình dục. Hành vi của nam giới cũng có thể ảnh hưởng đến kích thích tình dục, tăng thêm sự vuốt ve và những suy nghĩ tình dục. Chừng nào các kích thích tình dục còn, chu kỳ này còn tiếp tục. Khi kích thích tình dục mất đi - hay khi sự sợ hãi hoặc các nhân tố cản trở khác xuất hiện - chu kỳ này dừng lại và cơ thể người đàn ông quay trở lại trạng thái hết hưng phấn.

CÁC CẤU TRÚC SINH DỤC BÊN TRONG CỦA NAMGIỚI

Các cấu trúc sinh dục bên trong của nam giới bao gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh, túi tinhtuyến tiền liệt.

Tinh hoàn

Tinh hoàn (testicles, hay testes (dạng thức số ít là testis), là tuyến sinh dục của nam giới, sản xuất ra tinh trùng và hooc môn testosterone. Ở nam giới trưởng thành, mỗi một tinh hoàn có hình ovan, có đường kính 1 in xơ và dài khoảng 2 in xơ. Trong mỗi tinh hoàn là các thùy chứa tiểu quản sinh tinhtế bào khe (tế bào Leydig).

Cho đến tận tháng thứ 7 phát triển của thai nhi, tinh hoàn vẫn nằm trong khoang mạc bụng. Ở nửa cuối tháng thứ 7, chúng mới xuống bìu dái. Tình trạng tinh hoàn ẩn (Cryptorchidism) là việc tinh hoàn không xuống được bìu dái. Tình trạng này xuất hiện ở khoảng 30% trẻ đẻ non và 3% trẻ đẻ đủ tháng. Trong nhiều trường hợp, tinh hoàn tự động xuống bìu dái ở năm đầu tiên sau khi sinh. Còn không, các bác sỹ sẽ phải phẫu thuật hay tiêm kích thích tố màng đệm (chorionic gonadotropin) (HCG) để chữa trị chứng này.

Tinh trùng và việc Sản xuất hooc môn Testosterone. Tinh trùng (Sperm, hay spermatozoa) là các tế bào sinh dục nam. Một tinh trùng trưởng thành bao gồm đầu, thânđuôi. Trong đầu tinh trùng là các vật chất di truyền và một cực đầu (acrosome), mà cực này giải phóng enzim nhằm giúp tinh trùng thâm nhập vào trứng của phụ nữ. Trong thân của tinh trùng là mitochondria, nó sản xuất ra năng lượng mà đuôi tinh trùng cần để đẩy tinh trùng bơi đến chỗ trứng.

Sự tạo tinh trùng-việc sản xuất ra tinh trùng- xảy ra trong tiểu quản sinh tinh của tinh hoàn. Có khoảng 1.000 các ống nhỏ xoắn này nằm trong mỗi tinh hoàn. Tế bào Sertoli ở trong các tiểu quản sinh tinh phân tiết mà chất này nuôi dưỡng sự phát triển của tinh trùng. Một nam giới khỏe mạnh sản xuất khoảng 300 triệu tinh trùng mỗi ngày. Sự tạo tinh trùng bắt đầu ở tuổi dậy thì và tiếp diễn cho đến khi chết, tuy nhiên tuổi càng cao quá trình sản xuất ra tinh trùng càng giảm.

Sự tạo tinh trùng đòi hỏi một môi trường ổn định khoảng 30C (5,50F) thấp hơn thân nhiệt bình thường của một người. Nhiệt độ bên trong bìu dái luôn ổn định vì có sự co giãn của cơ bìu. Khi nhiệt độ bên ngoài tăng lên và tinh hoàn ấm lên, cơ bìu giãn ra, và tinh hoàn chuyển ra xa cơ thể (làm lạnh chúng). Tương tự như vậy, khi nhiệt độ bên ngoài giảm, cơ bìu co lại, tinh hoàn chuyển đến gần cơ thể hơn (làm ấm chúng).

Tinh trùng rời khỏi tiểu quản sinh tinh đến mào tinh hoàn, một cấu trúc xoắn ruột gà nằm dọc mặt sau của mỗi tinh hoàn. Tinh trùng hoàn toàn trưởng thành có thể được cất trữ đến 6 tuần trong mào tinh hoàn. Sau đó, nếu không được xuất tinh, chúng sẽ phân hủy và được cơ thể hấp thu.

Tế bào khe (Tế bào Leydig) (Interstitial Cells of Leydig), các tế bào này nằm giữa các tiểu quản sinh tinh, chúng chịu trách nhiệm trong việc sản xuất và tiết ra hooc môn testosterone. Hooc môn nam này dễ dàng chuyển vào máu, nhờ sự gần gũi của các tế bào này với mạch máu ở tinh hoàn.

Ống dẫn tinh

Tinh trùng được chứa trong mào tinh hoàn cuối cùng cũng di chuyển đến ống dẫn tinh (vas deferens, hay seminal duct) - một ống nhỏ nằm trong thừng tinh, mà thừng tinh này đưa tinh trùng đến niệu đạo. Ở đáy bàng quang, ống dẫn tinh nối với ống của túi tinh tạo thành ống phóng tinh dịch. Hai ống phóng tinh mở thống với niệu đạo bên trong tuyến tiền liệt. Khi cương cứng, các cơ thắt đóng lối dẫn vào bàng quang, ngăn không cho tinh trùng vào bàng quang và nước tiểu vào niệu đạo trong quá trình xuất tinh.

Các tuyến Sinh dục phụ

Các tuyến sinh dục phụ tiết ra những chất lòng, cùng với tinh trùng, tạo thành tinh dịch (semen, hay seminal fluid) - một loại chất lỏng dính, sền sệt trông giống sữa. Chất lỏng từ các tuyến này nuôi dưỡng tinh trùng, hoạt hóa khả năng di động của tinh trùng (khả năng di chuyển tự do), và trung hòa môi trường axít ở niệu đạo nam giới và âm đạo nữ giới (môi trường axít làm chết tinh trùng).

Khối lượng trung bình của tinh dịch bắn ra là từ 2,5 đến 5 ml (0,5 đến 1 thìa cà phê). Tinh trùng chiếm khoảng 1% tống khối lượng của tinh dịch, số lượng trung bình của tinh trùng bắn ra là khỏang 50 triệu đến 500 triệu con trên một ml. Do đó, một lần xuất tinh có thể có đến 500 triệu con tinh trùng. Một người đàn ông được xem là có khả năng sinh sản (có khả năng thụ tinh trứng của một người phụ nữ), thì tinh dịch của ạnh ta phải chứa ít nhất 20 triệu con tinh trùng trên một ml.

Túi tinh. Một cặp túi tinh là các cấu trúc hình túi, chúng nằm sau và ở dưới đáy bàng quang. Chúng tiết ra một chất lỏng làm trung hòa axít, giàu fructuza giúp tinh trùng khi chúng di chuyển. Chất tiết ra này chiếm khoảng 60% khối lượng tinh dịch.

Tuyến tiền liệt. Trong ống phóng tinh dịch có tinh trùng và chất lỏng từ túi tinh trộn lẫn với chất lỏng tiết ra từ tuyến tiền liệt - một tuyến đơn, có hình cái bánh rán, có kích cỡ bằng hạt dẻ nằm dưới bàng quang. Chất lỏng do tuyến tiền liệt tiết ra chiếm khoảng 30% khối lượng tinh dịch, chất lỏng này cũng làm tăng khả năng di chuyển của tinh trùng, trung hòa axít ở niệu đạo và âm đạo.

Ở trẻ em, tuyến tiền liệt nhỏ, nhưng nó đạt đến kích thước tối đa khi ở tuổi thanh niên. Nó có thể bắt đầu phát triển lại sau 50 tuổi, và ở một số trường hợp nó có thể ép niệu đạo khiến cho việc thoát nước tiểu trở nên khó khăn hoặc không thể thực hiện được. Cách chữa trị tuyến tiền liệt phình to là cắt tuyến tiền liệt (prostatectomy), một thủ thuật liên quan đến việc phẫu thuật cắt bỏ một phần hay toàn phần tiền liệt tuyến. Một cách chữa trị khác, đặc biệt sử dụng cho những trường hợp phình tuyến tiền liệt không nghiêm trọng là cắt qua niệu đạo (transurethral resection), một thủ thuật liên quan đến việc phẫu thuật cắt bỏ các phần mô tuyến tiền liệt qua niệu đạo.

Tuyến Cowper. Nằm ở dưới và phía trước tuyến tiền liệt, nằm phía bên này hoặc bên kia niệu đạo, là cặp tuyến Cowper. Trước khi xuất tinh, tuyến sinh dục phụ có hình hạt đậu này tiết ra một lượng nhỏ chất lỏng làm trung hòa nước tiểu còn sót lại trong niệu đạo. Chất lỏng tiết ra từ tuyến Cowper đôi khi xuất hiện dưới dạng một vài giọt trong, dính ở đầu dương vật trước khi xuất tinh. Những giọt này không phải tinh dịch, tuy nhiên chất lỏng Cowper này có thể chứa tinh trùng sống. Vì lý do này, việc rút dương vật ra khỏi âm đạo trước khi xuất tinh ("giao hợp gián đoạn") không phải là phương pháp tránh thai có hiệu quả.

Câu hỏi cá nhân

Trên phương diện nào thì bộ phận sinh dục của nam giới và phụ nữ giống và khác nhau?

CÁC TUYẾN VÀ HOOC MÔN SINH DỤC

Các hooc môn và tuyến sinh dục khác nhau đóng vai trò quan trong trong đời sống tình dục và khả năng sinh sản của nam giới. Như đã giải thích ở chương 4, một tuyến là cơ quan tiết ra hooc môn, và hooc môn là một chất hóa học có sức mạnh, nó kích thích hoạt động của tế bào trong cơ thể. Tuyến tiết hooc môn trực tiếp vào máu được gọi là tuyến nội tiết. Các tuyến nội tiết chịu trách nhiệm tiết ra các hooc môn sinh dục nam.

Vùng đồi dưới

Vùng đối dưới của não kiểm soát các vấn đề thuộc hooc môn liên quan đến khả năng sinh sản và tình dục của nam giới. Vùng đồi dưới chỉ huy tuyến yên.

Tuyến yên, Hooc môn Giải phóng kích thích tố Sinh dục, Hooc môn Kích thích Nang, và Hooc môn Kích thích Tế bào khe

Vùng đồi dưới của nam giới giải phóng hooc môn giải phóng kích thích tố sinh dục ( gonadotropin-releasing hormone) (GnRH), hooc môn này kích thích tuyến yến giải phóng hai kích tố sinh dục (gonadotropins) (hooc môn ảnh hưởng đến tuyến sinh dục) là hooc môn kích thích nang ( follicle-stimulating hormone) (FSH) và hooc môn kích thích tế bào khe (interstitial cell-stimulating hormone) (ICSH). FSH khiến cho tinh hoàn sản xuất ra các tế bào tinh trùng; ICSH là hooc môn có thành phần hóa học giống vớihooc môn lutein của phụ nữ, nó khiến cho tế bào khe (nằm ở mô giữa các ống sinh tinh của tinh hoàn) sản xuất ra testosterone. Mức độ FSH và ICSH là tương đối ổn định ở nam giới trưởng thành.

Tinh hoàn, Testosterone, và Việc sản xuất Tinh trùng

Hooc môn FSH và ICSH do tuyến yên tiết ra kích thích tinh hoàn sản xuất ra testosterone và tinh trùng. Testosterone là hooc môn sinh dục nam, chịu trách nhiệm làm cho tinh trùng trưởng thành, hoàn thiện các cấu trúc sinh dục, và phát triển các đặc điểm sinh dục thứ yếu, chẳng hạn như lông mặt, vỡ giọng. Nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích dục năng và sự phát chung của cơ thể, bao gồm cả sự phát triển của xương và cơ. Việc sản sinh ra hooc môn này bắt đầu ở tuổi dậy thì (trung bình là từ 11 đến 13 tuổi) và nó tiếp diễn cho đến hết cuộc đời của một người đàn ông. Sự hồi tiếp liên quan đến mức độ testosterone trong máu phục vụ cho việc điều hòa lượng ICSH được giải phóng từ tuyến yên. Namgiới sản xuất số lượng testosterone lớn hơn nhiều so với phụ nữ - khoảng 7ml một ngày so với 0,5 ml một ngày của phụ nữ.

FSH khởi đầu việc tạo tinh trùng. Sự tạo tinh trùng này xuất hiện trong tiểu quản sinh tinh của tinh hoàn. ICSH và testosterone hỗ trợ việc sản xuất ra tinh trùng bằng cách kích thích các tế bào Sertoli của tiểu quản sinh tinh sản xuất ra các chất tiết để nuôi dưỡng sự phát triển của tinh trùng. Tế bào Sertoli cũng kiểm soát tốc độ tạo tinh trùng bằng cách phóng thích hooc môn inhibin, hooc môn này hạn chế sự giải phóng FSH của tuyến yên.

CÁC KIỂM TRA Y TẾ

Tất cả nam giới và phụ nữ đều nên kiểm tra y tế định kỳ. Trong khi phụ nữ có thể khám bác sỹ phụ khoa (bác sỹ chuyên khoa phụ nữ), thì nam giới có thể đến gặp bác sỹ chăm sóc sức khỏe ban đầu hay bác sỹ chuyên khoa niệu (bác sỹ chuyên điều trị những rối loạn liên quan đến đường tiết niệu và hệ thống sinh sản). Bác sỹ tiết niệu đánh giá và chữa trị các vấn đề như đái dầm và bí đái, đau khi đi tiểu hay xuất tinh, các rối loạn tình dục liên quan đến sinh lý và chứng vô sinh.

Xem xét tiểu sử bệnh án trước đây và thực hiện việc kiểm tra sức khỏe chung là việc làm tiêu biểu của công tác khám sức khỏe định kỳ. Xem xét tiểu sử bệnh án toàn diện bao gồm hỏi những câu hỏi về tình trạng sức khỏe và các bệnh đã mắc phải trước đây hoặc hiện nay, tiểu sử bệnh án gia đình, các thuốc đã dùng, và lịch sử tình dục. Việc kiểm tra sức khỏe toàn bộ bao gồm kiểm tra các bộ phận bên trong cũng như bên ngoài càng nhiều càng tốt, nghe tim, phổi bằng ống nghe, kiểm tra mạch, huyết áp, cân năng; thử máu và nước tiểu; ở một số trường hợp còn tiến hành cả việc kiểm tra xem có mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục hay không.

Một phần của việc khám sức khỏe định kỳ là bác sỹ kiểm tra kỹ cơ quan sinh dục của nam giới xem có điều gì bất thường không. Đeo găng tay y tế, bác sỹ sờ và kiểm tra dương vật, bìu dái và vùng hậu môn. Bác sỹ mở niệu đạo xem xét việc đi tiểu, xờ xem ở tinh hoàn có các u cục hay có sự phát triển bất thường nào không. Kiểm tra hậu môn và đáy chậu xem có đau hay sưng tấy không.

Có lẽ phần quan trọng nhất của việc kiểm tra sức khỏe nam giới là khám trực tràng của tuyến tiền liệt. sau khi yêu cầu bệnh nhân cúi xuống hay nằm xuống, mở rộng hai đầu gối, bác sỹ đưa một ngón tay có đeo găng đã được bôi trơn vào trong trực tràng của bệnh nhân. Bác sỹ có thể chạm tới tuyến tiền liệt thông qua thành trực tràng và xem xét tình trạng của nó. Nếu tuyến tiền liệt "cứng như đá" hoặc quá mềm, có thể nó có vấn đề, chẳng hạn như trĩ, biếu thịt, hay u.

Khám trực tràng tuyến tiền liệt có thể bao gồm việc xoa bóp tuyến tiền liệt. Trong quá trình này, bác sỹ vuốt ve tuyết tiền liệt khi khám để giải thoát chất lỏng ở tuyến tiền liệt xuống niệu đạo. Sau đó bác sỹ lấy chất lỏng đó đặt lên bản kính mang vật và kiểm tra bằng kính hiển vi. Nếu tìm thấy mủ trong chất lỏng đó thì có nghĩa là có sự nhiễm trùng. Bác sỹ có thể mát xa tuyến tiền liệt để làm giảm sự sung huyết chậu.

Nếu nghi có u xuất hiện ở tuyến tiền liệt thì bác sỹ có thể lấy mẫu mô tuyến tiền liệt bằng cách chọc kim tiêm thẳng vào tuyến thông qua trực tràng, sử dụng chụp siêu âm (thủ thuật phát hiện u bằng cách dồn ép các sóng âm ở tuyến tiền liệt). Bác sỹ cũng có thể kiểm tra mức độ kháng nguyên cụ thể của tiền liệt tuyến (PSA) ở trong máu.

Tất cả nam giới nên thực hiện việc tự kiểm tra tinh hoàn hàng tháng. Nếu thấy bất kỳ điều gì bất thường thì phải báo cáo ngay cho bác sỹ của mình.

CÁC ĐIỂM CHÍNH

1. Các cấu trúc sinh dục bên ngoài của nam giới bao gồm dương vậtbìu dái. Dương vật là cơ quan của nam giới thuộc bộ phận bài tiết và sinh dục. Các cấu trúc bên ngoài của nó là đầu, thân,gốc. Các cấu trúc bên trong là ba hình trụ của mô cương cứng: hai thân khoang và một thân xốp. Khi khoang mạch ứ đầy máu, dương vật cương lên. Dưới dương vật là một túi da lỏng được gọi là bìu dái, bìu dái chứa hai tuyến sinh dục nam, đó là tinh hoàn. Đáy chậu là vùng da trơn, rất nhạy cảm nằm giữa bìu dái và hậu môn.

2. Các cấu trúc sinh dục bên trong của nam giới bao gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh, túi tinh, tuyến tiền liệt,tuyến Cowper. Tinh hoàn là tuyến sinh dục của nam giới, sản xuất ra tinh trùng và hooc môn testosterone. Trong mỗi tinh hoàn là các thùy chứa tiểu quản sinh tinhtế bào khe (tế bào Leydig). Tinh trùng hoàn toàn trưởng thành có thể được cất trữ đến 6 tuần trong mào tinh hoàn. Ống dẫn tinh là một ống nhỏ nằm trong thừng tinh, mà thừng tinh này đưa tinh trùng đến niệu đạo. Ở đáy bàng quang, ống dẫn tinh nối với ống của túi tinh tạo thành ống phóng tinh dịch. Hai ống phóng tinh mở thống với niệu đạo bên trong tuyến tiền liệt.

3. Tinh dịch bao gồm tinh trùng và các dịch tiết ra của các tuyến sinh dục phụ. Chất lỏng từ túi tinh nuôi dưỡng tinh trùng. Chất lỏng từ tuyến tiền liệt kích hoạt sự di chuyển của tinh trùng và trung hoà môi trường axít của niệu đạo và âm đạo. Chất lỏng từ tuyến Cowper trung hòa nước tiểu còn xót lại trong niệu đạo.

4. Các hooc môn và tuyến sinh dục khác nhau đóng vai trò quan trong trong đời sống tình dục và khả năng sinh sản của nam giới. Vùng đối dưới của não giải phóng hooc môn giải phóng kích thích tố sinh dục (gonadotropin-releasing hormone) hooc môn này kích thích tuyến yến giải phóng hooc môn kích thích nang (follicle-stimulating hormone) (kích thích tinh hoàn sản xuất ra các tế bào tinh trùng) và hooc môn kích thích tế bào khe (interstitial cell-stimulating hormone) (kích thích tế bào khe của tinh hoàn sản xuất ra testosterone)

5. Testosterone là hooc môn sinh dục nam, chịu trách nhiệm làm cho tinh trùng trưởng thành, hoàn thiện các cấu trúc sinh dục, và phát triển các đặc điểm sinh dục thứ yếu. Nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích dục năng và sự phát chung của cơ thể.

6. Tất cả nam giới nên đi kiểm tra sức khỏe định kỳ với bác sỹ chăm sóc sức khỏe ban đầu hoặc bác sỹ tiết niệu. Khám trực tràng là việc đánh giá tình trạng tuyến tiền liệt, đây là một phần quan trọng trong việc khám sức khỏe nam giới. Tất cả nam giới nên thực hiện việc tự kiểm tra tinh hoàn hàng tháng.

Hưng Phấn Tình Dục và Phản Ứng

George D. Zgourides, Bác Sĩ.

Christie S. Zgourides, Thạc Sĩ.

Dịch viên: Nguyễn Hồng Trang

Các chủ đề về hưng phấn tình dụcphản ứng tình dục thường gợi lên sự quan tâm và nhiệt tình của mọi người. Tăng sự hấp dẫn tình dục, tăng sự lãng mạn khi quan hệ tình dục, thân mật hơn với bạn tình, hiểu xem cơ thể phản ứng như thế nào với các kích thích tình dục và tăng cường sự hưởng ứng tình dục là điều mà mọi người quan tâm. Tại sao lại thế? Vì mọi người hưởng thụ và đánh giá cao quan hệ tình dục, một cách tự nhiên, họ muốn biết nhiều để làm tăng chất lượng những trải nghiệm tình dục của họ.

HƯNG PHẤN TÌNH DỤC

Giống như cần ăn khi đói, và cần uống khi khát, các hành vi tình dục là những phản ứng đối với dục tình, một trạng thái căng thẳng do sự thiếu hụt, trạng thái này thúc đẩy cá nhân làm gì đó để giảm căng thẳng. Những dục tình cơ bản giống như đói và khát, đảm bảo sự tồn tại của cơ thể, thì tình dục đảm bảo sự tồn tại của các loài.

Ở con người, cả kích thích bên trong cũng như bên ngoài đều có ảnh hưởng đến dục tình cơ bản. Ví dụ, kích thích bên ngoài (một câu chuyện khiêu dâm) khuấy động động cơ hay dục tình (sự thôi thúc về tình dục), rồi đến lượt mình dục tình thúc đẩy hành vi hướng đích (các quan hệ tình dục). Hưng phấn tình dục là sự phấn kích liên quan đến dục tình (sexual drive, hay libido) của một cá nhân.

Rõ ràng là con người trở nên hưng phấn với các vấn đề có liên quan đến tình dục. Nhưng tại sao lại như vậy và như thế là phản ứng lại với điều gì? Để trả lời cho những câu hỏi này, chúng ta cần xem xét nguồn gốc sinh học, tâm lý học và xã hội khác nhau liên quan đến hưng phấn tình dục.

Nguồn gốc Sinh học về Hưng phấn tình dục

Các quá trình sinh học - bao gồm hệ thống thần kinh, hoạt động của bộ não, hooc môn, những kích thích vật lý lên cảm giác, và một số loại thuốc, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hưng phấn tình dục của con người. Ở khía cạnh này, hưng phấn tình dục của con người cũng giống các loài khác. Nhưng vì các quá trình của con người và động vật là khác nhau nên một số câu hỏi kích thích trí tò mò đã nảy sinh. Yếu tố sinh học nào của con người khiến cho hoạt động tình dục của họ khác biệt mà động vật không có? Ảnh hưởng sinh học nào tác động lên ham muốn tình dục ở con người. Liệu sinh học có phải là yếu tố duy nhất chịu trách nhiệm đối với các phản ứng tình dục ở con người hay còn có các yếu tố khác nữa?

Hệ thống thần kinh và Bộ não.

Hoạt đông của hệ thống thần kinh và bộ não cung cấp cơ sở cho ham muốn và hưng phấn tình dục ở con người. Trung tâm ảnh hưởng của bộ não lên dục tình, hưng phấn tình dục và phản ứng nằm ở hệ thống limbic, một bộ các cơ cấu đóng vai trò trong việc ghi nhớ, học tập và các phản ứng tình cảm, bao gồm cả hành vi tình dục. Mặc dù nhiều khía cạnh thuộc thần kinh liên quan đến hoạt động tình dục vẫn chưa được khám phá nhưng các nhà sinh lý học tin rằng những dấu hiệu được gửi đến và đi từ các trung tâm tình dục trong tuỷ sống và não kiểm soát chức năng tình dục. Nhận thức, ký ức, những điều liên quan đến tình dục và kích thích thuộc xúc giác lên cơ quan sinh dục thúc đẩy bộ não gửi các xung thần kinh đến "trung tâm cương cứng" ở phần dưới tuỷ sống, đến lượt mình tuỷ sống gửi các xung lực đến cơ, điều chỉnh sự cương cứng của âm đạo và dương vật. Ví dụ, các xung thần kinh khiến cho các cơ xung quanh huyết mạch của dương vật giãn ra, cho phép lượng máu chảy vào thân dương vật tăng lên. Khi tĩnh mạch của dương vật bị ép, lượng máu chảy ra khỏi dương vật ít đi và xuất hiện sự cương cứng. Một quá trình thần kinh tương tự cũng xuất hiện đối với sự xuất tinh. Các xung thần kinh từ "trung tâm xuất tinh" của tuỷ sống khiến cho các cơ của các cơ quan sinh sản khác nhau co lại, điều này khởi động cả hai giai đoạn xuất tinhtống ra của việc xuất tinh (sẽ được mô tả cụ thể trong chương này).

Suy nghĩ Cá nhân

Với số lượng thông tin còn hạn chế được trình bày cho đến đây, bạn sẽ trả lời như thế nào với câu hỏi " Có phải não là cơ quan tình dục quan trọng nhất trong cơ thể con người?"

Hooc môn.Như đã được đề cập ở hai chương trước, hooc môn hay các chất hoạt hóa có ảnh hưởng to lớn đến dục tình và hưng phấn ở con người. Ví dụ hooc môn testosterone ảnh hưởng đến dục tình của cả nam giới lẫn phụ nữ, trong khi estrogen có thể có ảnh hưởng có thể không. Nam giới sản xuất ra lượng hooc môn testosterone nhiều hơn phụ nữ, nam giới sản xuất ra khoảng 7 ml gram một ngày trong khi đó phụ nữ chỉ sản xuất ra 0.5 ml gram một ngày. Nói chung lượng testosterone thấp hơn liên quan đến sự giảm hứng thú đối với hoạt động tình dục; lượng testosterone cao hơn làm tăng hứng thú hơn. Namgiới có lượng testosterone thấp hơn mức bình thường gặp khó khăn trong việc đạt và duy trì sự cương cứng để sinh hoạt tình dục.Khi người nam giới này điều trị bằng liệu pháp thay thế hooc môn, ở liệu pháp này bác sỹ cung cấp testosterone lên đến mức thích hợp, thì các hưng phấn và hoạt động tình dục bình thường sẽ quay trở lại. Tuy nhiên, mức độ hooc môn không nhất thiết là có ảnh hưởng đến dục tình, vì một số người có mức testosterone thấp vẫn tràn đầy sinh lực và duy trì cuộc sống tình dục năng động. Ví dụ một số hoạn quan (đàn ông bị thiến, những người bị cắt hay hỏng tinh hoàn) vẫn có khả năng cương cứng và tham gia vào việc sinh hoạt tình dục. Những thuốc làm giảm lượng testosterone luân chuyển có thể làm giảm dục tình ở một số cá nhân chứ không phải tất cả. Kết luận được đưa ra là mặc dù hooc môn có vai trò quan trọng đối với ham muốn và hưng phấn tình dục nhưng các quá trình sinh học và tâm lý cũng có vai trò quan trọng không kém.

Kích thích Vật lý lên các Cảm giác.Tất cả những thông tin về thế giới bên ngoài được truyền lên bộ não thông qua các thụ thể cảm giác. Những tế bào đặc biệt này nằm ở những cơ quan nhất định trong cơ thể - các cơ quan cảm giác (ví dụ: tai và mắt) - chúng nhận thông tin từ môi trường dưới dạng năng lượng vật lý (ánh sáng và sóng âm thanh) rồi chuyển năng lượng này thành các xung thần kinh mà hệ thống thần kinh và bộ não có thể hiểu được. Trên thực tế, bộ não không có khả năng phản ứng trực tiếp với các năng lượng vật lý của môi trường. Thay vào đó, nó xử lý thông tin cảm giác từ hệ thống thần kinh và cảm giác, rồi chỉ đạo các hệ thống khác nhau trong cơ thể phản ứng một cách tương ứng.

Đầu tiên và trước nhất là da, da là cơ quan cảm giác lớn nhất, và nó chứa rất nhiều loại thụ thể đặc biệt, mà những thụ thể này nhạy cảm với áp lực, với nóng, lạnh và đau đớn. Các vùng dục cảm là những vùng da rất giàu những thụ thể cảm giác này. Các vùng dục cảm cơ bản đặc biệt tập trung rất nhiều đầu cuối của dây thần kinh, rất nhạy cảm khi đụng vào và thường gợi các khoái cảm tình dục. Các vùng dục cảm cơ bản phổ biến nhất là miệng, tai, cổ, ngực, hai bên sườn, lòng bàn tay, bộ phận sinh dục, đáy chậu, hậu môn, mông đít, phần đùi phía trong, lòng bàn chân. Các vùng dục cảm thứ yếu gần như có thể ở bất kỳ chỗ nào trên cơ thể, nó gợi khoái cảm tình dục nếu như trước đây chỗ đó đã được khơi gợi. Ví dụ, vai của người phụ nữ có thể trở thành vùng dục cảm thứ yếu sau khi chồng của cô ta liên tục hôn vào đó.

Một dạng đặc biệt của sự động chạm, có giá trị gợi tình đối với nhiều xã hội khác nhau, là hôn. Các thành viên của những nhóm người nhất định có thể hôn để bày tỏ sự yêu mến hay chào hỏi (ví dụ người Hi Lạp và người Ý) nhưng các thành viên thuộc các nhóm người khác lại có thể không làm thế (những người thuộc nền văn hóa Châu Á). Ở Mỹ và các nước Tây Âu khác, nụ hôn chủ yếu là dành cho những cặp đôi lãng mạn.

Suy nghĩ Cá nhân

Bạn nghĩ việc động chạm không liên quan đến tình dục trong một mối quan hệ có vai trò quan trọng như thế nào?Bạn sẽ nói với người bạn đời của mình về việc bạn mong muốn được động chạm, vuốt ve hay ôm ấp một cách thường xuyên hơn như thế nào?

Nghiên cứu chỉ ra rằng những chất có mùi tự nhiên nhất định, thuật ngữ gọi là pheromones, rất có ảnh hưởng đối với hành vi tình dục của côn trùng, động vật và có thể cả con người. Nhiều con cái có lẽ đã hấp dẫn con đực bằng cách tiết ra chất copulins, hay chất có mùi thuộc âm đạo, những chất này được coi như chất hấp dẫn tình dục đối với con đực ở một số loài. Thế còn con người thì sao? Liệu mùi copulins có kích thích hai người có quan hệ tình dục một cách điên cuồng không? Có thể có nhưng cũng có thể không.Con người, giống như các loài linh trưởng và vô số động vật khác, tiết ra chất pheromones- ở phụ nữ gọi là copulins, và ở nam giới gọi là exaltolide. Ở một số cặp, nhưng không phải tất cả, những chất tiết ra này kích thích hưng phấn tình dục. (Thật thú vị, ngành công nghiệp nước hoa khổng lồ của xã hội Phương Tây đã dựa vào giả định cho rằng đàn ông và phụ nữ có thể có hưng phấn tình dục với chất pheromone nhân tạo - có mùi thơm). Nghiên cứu về chất pheromones thường cho những kết quả mâu thuẫn nhau, điều này khiến cho các nhà khoa học còn có nhiều việc phải làm để biết được mối quan hệ giữa mùi hương và sự hấp dẫn tình dục ở con người.

Một số người thấy hưng phấn tình dục khi xem, đọc hay nghe những bộ phim, cuốn sách, tạp chí, cuộn băng nói về tình dục, và nghe "1-900" dịch vụ điện thoại tình dục. Những người khác hưng phấn khi nghe nhạc, đọc to những bài thơ hay nói chuyện về tình dục với bạn tình của mình.

Aphrodisiacs và Anaphrodisiacs (Chất kích thích tình dục và Chất làm mất tình dục).Mọi người đều đã từng nghe đến tên này - aphrodisiacs (tên vị thần tình yêu của người Hi Lạp, Aphrodite), nó là tên dùng để chỉ những loại thuốc hay thực phẩm thần diệu được coi là đem đến cho người sử dụng khao khát tình dục không thể thoả mãn được. Những loại thuốc hay thực phẩm được cho là các chất làm tăng tình yêu này là một nguồn quyến rũ, chúng được ghi nhận qua các thời kỳ lịch sử. Từ việc ăn những loại thực phẩm có hình giống dương vật hay hình giống tinh hoàn như chuối hay con hàu, cho đến việc ăn sừng tê giác được nghiền thành bột, để làm tăng sinh lực và khả năng quan hệ tình dục, có thể thấy con người đã không ngừng tìm kiếm những thứ hỗ trợ cho hoạt động tình dục tối thượng. Nhưng việc tìm kiếm này có lẽ là vô ích. Ví dụ, loại kích thích tình dục được khẳng định là có tác dụng nhưng chưa được chứng minh như ruồi Tây Ba Nha hay chất cantharidin, trên thực thế là những thứ rất độc.

Có hai loại thuốc có thể có tác dụng làm tăng hoạt động tình dục ở con người là cafêin và bupropion hydrochloride. Những kết quả nghiên cứu sơ bộ chỉ ra rằng các hợp chất này có thể cải thiện chức năng tình dục và làm tăng khả năng quan hệ tình dục. Những chất khác cũng được cho là làm tăng ham muốn tình dục và sinh lực bao gồm cần sa, côcain, thuốc tạo ảo giác, thuốc có tác dụng kích thích ("gây cảm giác vui vẻ quá độ"), amyl nitrate, yohimbine, và các loại thực phẩm hỗn hợp. Nhiều chất trong số những chất này rất nguy hiểm, chúng gây nghiện và có tác dụng phụ gây hậu quả nghiêm trọng. Ví dụ, một số người đã bị hoảng loạn cực độ khi sử dụng yohimbine. Đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa chứng minh được sự tồn tại của thuốc hay thực phẩm nào thực sự có tác dụng kích thích tình dục. Bất kỳ ảnh hưởng tích cực nào được báo cáo là có liên quan đến việc sử dụng có chừng mực những chất nào đó có thể thực sự là do những tác dụng được dự đoán; có nghĩa là nhận thức của người sử dụng là nhân tố tăng cường khả năng tình dục chứ không phải bản thân chất đó.

Có một số loại thuốc, thuật ngữ gọi là anaphrodisiacs (thuốc làm mất khả năng tình dục) dường như gây cản trở đến chức năng tình dục. Những loại phổ biến nhất là rượu, thuốc an thần, ma tuý, thuốc chống tăng huyết áp, thuốc chống trầm cảm, và thuốc chữa bệnh thần kinh. Loại chất nổi tiếng nhất gây mất khả năng tình dục là kali nitrat ("xanpét" - bột trắng mặn dùng để bảo quản thức ăn hoặc làm thuốc chữa bệnh), nhưng thực ra chúng không trực tiếp làm giảm sinh lực.

Có một số nhầm lẫn vẫn còn tồn tại liên quan đến việc rượu có làm sinh lực tình dục hay không. Thậm chí một số người chứng thực thuộc tính kích thích tình dục của rượu, nó làm dịu hệ thống thần kinh chứ không phải là chất kích thích. Có lẽ một lý do khiến nhiều người tin rằng rượu kích thích khả năng tình dục của họ là vì với một lượng vừa phải, rượu giúp hạ những ức chế tình dục của họ. Tuy nhiên, say rượu lại làm hỏng hoạt động tình dục.

Suy nghĩ Cá nhân

Nếu bạn đọc được ở đâu về một loại thuốc mới được thông báo làm tăng sinh lực cho người sử dụng, bạn có hỏi ý kiến bác sỹ của mình cho phép bạn thử dùng không? Tại sao có, tại sao không?

NGUỒN GỐC TÂM LÝ HỌC VỀ HƯNG PHẤN TÌNH DỤC

Mặc dù mọi người chú ý rất nhiều đến các quá trình sinh học nằm dưới hưng phấn tình dục, nhưng các quá trình tâm lý học cũng đóng vai trò hình thành nên hoạt động tình dục của một người. Như Masters và Johnson đã ghi nhận, phụ nữ và nam giới phản ứng một cách thống nhất đối với các kích thích tình dục có hiệu quả, dù cho đó là kích thích vật lý hay tâm lý - vị thế tâm sinh lý học xã hội cơ bản. Cách suy nghĩ, nhận thức, đánh giá, và cảm giác giải thích cho những khác biệt lớn trong hành vi tình dục của các cá nhân khác nhau, của các nền văn hóa và giai đoạn lịch sử khác nhau.

Vai trò của Nhận thức

Nói về mặt tâm lý học, những mác nhận thức của con người hay những đánh giá và diễn giải của họ về các sự kiện bên trong và bên ngoài quyết định rất nhiều đến cái gì, nếu hay khi nào thì kích thích tình dục trở thành hưng phấn tình dục. Cho dù kinh nghiệm sống, môi trường xã hội, sự nuôi dưỡng giáo dục và thái độ là giống nhau, nhưng hai cá nhân có thể giải thích cùng một kích thích tình dục khác nhau. Phần nào đó, các nhà nghiên cứu sử dụng học thuyết nhận thức để giải thích tại sao một số người có thể coi những hành vi nhất định là "làm tình" hay "lãng mạn" trong khi những người khác có thể coi đó là "tình dục". Hơn nữa, các kịch bản tình dục ­- các mác nhận thức mà những mác này định hướng cho các giải thích liên quan đến tình dục, đến việc đưa ra quyết định và hành vi - giúp các cá nhân, ví dụ, phân biệt giữa đụng chạm khi mát xa trị liệu với đụng chạm khi sinh hoạt tình dục.

Bản chất suy nghĩ của con người quyết định rất nhiều đến việc họ sẽ phản ứng tình dục như thế nào. Những suy nghĩ không có tội và chấp nhận có xu hướng nâng cao các trải nghiệm tình dục. Thật không may, có quá nhiều người gặp sự ngăn cản tình dục, hay có những kỳ vọng vô lý, phi thực tế mà những điều này gây cản trở đến chức năng và giao tiếp tình dục. Susan Walen (1985)14 đã miêu tả một số ngăn cản tình dục đặc trưng mà mọi người có thể có:

  • Tôi không thể kiểm soát được.
  • Tôi không thể yêu cầu chuyện đó!
  • Miễn là anh ấy hạnh phúc thì tôi cũng hạnh phúc.
  • Làm như thế chẳng hay chút nào.
  • Anh ấy sẽ nghĩ sao nhỉ?
  • Làm như thế không quý phái chút nào.
  • Lạy Chúa, tôi vừa mới nằm đây như a piece of lox.
  • Tôi thở giống như một con chó động đực vậy.
  • Tôi biết là mình không gây ra nhiều tiếng ồn như tôi tưởng.
  • Tôi cá là tôi đang làm sai.
  • Tôi không biết là mình có làm tốt bằng người tình trước của cô ấy không.

Bạn có thấy câu nói nào ở trên nghe quen thuộc không? Nhận thức và những ngăn cản tình dục là điều rất phổ biến, nó gây cản trở đến việc một người thấy có thể chấp nhận và do đó gây cản trở đến hưng phấn tình dục.

Một điểm cuối cùng cũng liên quan đến vai trò của nhận thức mà ta cần biết đó là kiến thức trước kia. Hầu hết mọi người đều quen thuộc, có trải nghiệm với kích thích tình dục nhất định. Đối với một người, bộ phận sinh dục thật đẹp; đối với người khác, chúng thật ghê tởm. Có người mong muốn được vuốt ve, mơn trớn, còn người khác lại mong muốn được nói những chuyện liên quan đến tình dục. Phần lớn những điều mà một người cho là gây hưng phấn tình dục là những điều liên quan đến chương trình trong não, chúng hình thành từ những huấn thị (những thông điệp ban đầu) nhận được từ thời thơ ấu từ bố mẹ, họ hàng, thầy cô, hàng xóm, những nhân vật có ảnh hưởng, và xã hội. Điều này có thể có lợi nếu như môi trường xã hội của một cá nhân khuyến khích những thái độ lành mạnh về tình dục, sự quan tâm tích cực vô điều kiện và tình yêu. Nhưng thế còn những người nhận được những thông điệp khác thì sao? Những thông điệp tiêu cực từ thời thơ ấu (hay bất kỳ lúc nào) ảnh hưởng đến mọi người bằng cách củng cố thêm những khuôn mẫu cư xử tiêu cực. Hãy xem một người phụ nữ đã có chồng khi còn bé được dạy rằng ham muốn và hoạt động tình dục là điều "bẩn thỉu". Cô ta có thể sẽ lớn lên với cảm giác tội lỗi về những cảm xúc tình dục của mình. Cô ta có thể gặp vấn đề trong việc "hưng phấn" và "buông thả" trong khi sinh hoạt tình dục, không bao giờ lên đến đỉnh, thấy ghê sợ khi chồng nhìn, và phải chịu đựng sự lo lắng, trầm cảm. Nói tóm lại, những suy nghĩ và trải nghiệm tình dục tiêu cực của cô ta có thể gây cản trở đến khả năng hưng phấn tình dục và sự đáp lại của cô ta. Chúng có thể khiến cô cảm thấy sinh hoạt tình dục không có gì là thú vị, buồn chán và thậm chí còn đáng ghê tởm.

Những tưởng tượng về Tình dục

Như các nhà khoa học được biết, con người là động vật duy nhất có khả năng tự tạo ra những hình ảnh về tình dục, thuật ngữ gọi là sexual fantasies (những tưởng tượng về tình dục). Mặc dù, mọi người có khả năng tưởng tượng về nhiều chủ đề khác nhau, chẳng hạn như giàu sang, có quyền lực, nhưng tưởng tượng về tình dục là một trong những chủ đề phổ biến nhất. Tần suất và cường độ mà mọi người suy nghĩ về tình dục là khác nhau giữa những người khác nhau.

Một số cá nhân bày tỏ sự quan tâm đến tưởng tượng về tình dục, họ tin rằng những tưởng tượng gây lúng túng có thể sẽ trở thành hiện thực theo cách này hay cách khác. May thay, những tưởng tượng về việc có quan hệ tình dục với ai đó và thực sự có chuyện đó với người đó lại rất khác.

Liệu những tưởng tượng về tình dục của nam giới và phụ nữ có khác nhau không? Theo rất nhiều nhà nghiên cứu thì câu trả lời là có. Những tưởng tượng của nam giới về tình dục thường liên quan đến xu hướng thị giác và các hoạt động tình dục, trong khi những tưởng tượng của phụ nữ về tình dục thường lãng mạn và thụ động hơn.

CÁC NGUỒN GỐC XÃ HỘI VỀ HƯNG PHẤN TÌNH DỤC

Hầu hết mọi người đều đồng ý rằng có một người tình hấp dẫn, luôn sẵn lòng và đằm thắm trong một môi trường xã hội sắp đặt đúng đắn tạo nên sự lãng mạn chất lượng. Nhưng sự hấp dẫn của bạn tình là tương đối, và tiêu chuẩn đối với sự hấp dẫn là khác nhau giữa các nền văn hóa khác nhau. Sự sắp đặt đúng cũng là tương đối. Cái có thể được coi là sự sắp đặt gợi tình đối với người này, chẳng hạn như quan hệ tình dục khi tất cả các ngọn đèn được bật, có thể không gây hưng phấn đối với người khác. Hơn nữa, điều mà một người nhận thức, coi là sự gợi tình có thể rất khác nhau tuỳ từng trường hợp. Ví dụ, một cơ thể không mặc quần áo có thể là điều rất bình thường khi đi khám sức khỏe, nhưng khi cơ thể đó ở trong phòng ngủ thì nó lại mang những ý nghĩa gợi tình hoàn toàn khác. Sự khác biệt ở đây nằm trong nhãn mác nhận thức mà con người gắn cho các sự kiện và đối tượng tình dục.

Suy nghĩ Cá nhân

Những trải nghiệm trong quá khứ nào hình thành nên thái độ của bạn dối với phản ứug tình dục?Hiện tại chúng ảnh hưởng đến bạn như thế nào?

MÔ HÌNH BỐN GIAI ĐOẠN VỀ PHẢN ỨNG TÌNH DỤC CỦA MASTERS VÀ JOHNSON

Có thể mô hình được biết đến nhiều nhất về phản ứng tình dục của con người, hay sự phản ứng của cơ thể con người đối với kích thích tình dục là mô hình của Masters và Johnson, những người tiên phong trong nghiên cứu quan sát về tình dục học. Trong 12 năm, những nhà nghiên cứu này đã nghiên cứu phản ứng tình dục của con người bằng cách quan sát, theo dõi và ghi hình 312 nam và 382 nữ tình nguyện viên, những người tham gia vào hơn 10.000 hành vi tình dục riêng biệt. Masters và Johnson thấy rằng cả nam giới và phụ nữ đều trải qua 4 giai đoạn khác nhau liên quan đến hưng phấn và phản ứng tình dục: Sự kích thích, Sự bình ổn, Sự cực khoái,Sự phân giải.

Giai đoạn Kích thích

Hầu hết những thông tin được trình bày trong chương này là về những dự đoán và hưng phấn tình dục liên quan đến giai đoạn đầu tiên của phản ứng tình dục, giai đoạn kích thích. Cả hai giới đều trải nghiệm myotonia (tăng sự căng của cơ); pelvic vasocongestion (xung huyết mạch vùng chậu) (tăng lượng máy chảy vào bộ phận sinh dục và các vùng xung quanh); tăng sự hô hấp, nhịp tim và huyết áp; và khởi đầu sexual flush (sự đỏ bửng tình dục) (những nốt đỏ trên da). Ở phụ nữ, âm vật to lên, môi âm hộ sưng lên, một lượng nhỏ chất lỏng bôi trơn xuất hiện trong âm đạo, bộ ngực tăng kích thước, núm vú cương cứng. Ở nam giới, dương vật bắt đầu cương lên và tinh hoàn nâng lên gần thành bụng. Đàn ông cũng có thể thấy núm vú của mình cương cứng. Giai đoạn phản ứng tình dục này thường kéo dài từ vài phút cho đến vài giờ, tùy thuộc vào hoàn cảnh, mức độ hưng phấn và sự khác biệt của từng người.

Giai đoạn Bình ổn

Trong suốt giai đoạn bình ổn, cá nhân trải nghiệm sự kích thích và khoái lạc tình dục mãnh liệt. Sự căng cơ và xung huyết mạch vùng chậu tăng lên, gây ra vô số thay đổi ở cả hai giới. Ở phụ nữ, môi âm hộ tiếp tục sưng và có màu đậm hơn, âm vật thụt vào dưới da trùm đầu âm vật, phần trong của âm đạo mở rộng, tử cung nâng lên, ngực tiếp tục tăng kích thước, quầng xung quanh vú rộng ra, và sự đỏ bửng tình dục vẫn tiếp tục phát triển. Phần ngoài thứ ba của âm đạo cũng thu hẹp tạo thành thềm cực khoá. Ở nam giới, dương vật tiếp tục ứ máu và có màu đậm, bìu dái sẫm lại, tinh hoàn gia tăng kích cỡ và nâng lên cao đến cực điểm, tuyến tiền liệt to lên. Trước khi đạt đến giai đoạn cực khoái, tuyến Cowper có kích cỡ bằng 2 hạt đậu tiết ra một ít chất lỏng có tác dụng trung hòa nước tiểu vào niệu đạo. Đến cuối giai đoạn bình ổn, cảm giác của sự cực khoái thường lướt qua đối với cả hai giới. Giống như giai đoạn kích thích, khoảng thời gian tồn tại của giai đoạn bình ổn là khác nhau tuỳ thuộc vào từng cá nhân và hoàn cảnh.

Giai đoạn Cực khoái

Trong suốt giai đoạn cực khoái, sự tích tụ của độ căng tình dục được giải phóng. Sự cực khoái đối với cả hai giới đều có liên quan đến khoảng thời gian ngắn chờ đợi, sự co rút của vô số cơ (thường là ở bộ phận sinh dục nhưng đôi khi cũng ở những vùng khác của cơ thể, chẳng hạn như bụng hay tay chân), các cảm giác ấm nóng của khoái cảm tình dục rất mạnh, và sự thay đổi vị trí hướng vào trong của sự tập trung. Ở phụ nữ, sự co rút nhịp nhàng xuất hiện ở thềm cực khoái, tử cung và cơ vòng trực tràng co thắt. Kích cỡ của bộ ngực và sự đỏ bửng tình dục lên đến cực điểm. Ở một số phụ nữ có sự "xuất tinh" - tinh dịch ở đây là chất lỏng. Ở nam giới, sự cực khoái thường đi kèm với việc phóng tinh, nó bao gồm xuất tinh và trục xuất. Khi xuất tinh, các tuyến sinh dục phụ co lại, tinh dịch được giải phóng xuống niệu đạo. Khi trục xuất, dương vật và niệu đạo co thắt đưa tinh dịch di chuyển dọc niệu đạo và đẩy ra ngoài cơ thể thông qua lỗ niệu đạo. Đối với hầu hết mọi người, bản thân sự cực khoái chỉ kéo dài trong khoảnh khắc, tuy nhiên có một số bằng chứng cho thấy rằng một vài người có thể kéo dài giai đoạn cực khoái của họ bằng cách luyện tập một số bài tập khác nhau dành cho cơ vùng chậu.

Suy nghĩ Cá nhân

Bạn có nghĩ rằng đạt được cực khoái khi sinh hoạt tình dục là một dấu hiệu chắc chắn cho thấy sự thân mật giữa hai người?Tại sao có? Tại sao không?

Giai đoạn Phân giải

Ở cả hai giới, bộ phận sinh dục và toàn bộ cơ thể dần dần quay trở về trạng thái không hứng phấn trong giai đoạn phân giải.Các cơ giãn ra, nhịp tim và nhịp thở trở lại trạng thái bình thường, bộ phận sinh dục trở lại kích cỡ và hình dáng bình thường của nó. Thỏa mãn và thư giãn là các cảm giác thường thấy. Giai đoạn phân giải ở nam giới và phụ nữ là khác nhau. Đa số nam giới đi đến giai đoạn trơ ì ngay sau khi xuất tinh, có nghĩa là một thời gian nhất định phải qua (từ vài phút cho đến hàng giờ hay vài ngày, tùy thuộc vào từng người) trước khi lại có thể có sự hưng phấn và đạt đến cực khoái lần nữa. Ngược lại, phụ nữ thường không trải qua giai đoạn trơ ì, và ở một số trường hợp, phụ nữ còn có thể đạt cực khoái nhiều lần, hay nhiều hơn một lần cực khoái trong một lần sinh hoạt tình dục. Sự phân giải của phụ nữ thường diễn ra chậm và ít mạnh mẽ hơn so với nam giới. Một số nam giới cũng có thể có hai hoặc nhiều hơn hai lần cực khoái trước khi dương vật hết cương cứng.

MÔ HÌNH BA GIAI ĐOẠN VỀ PHẢN ỨNG TÌNH DỤC CỦA KAPLAN

Kaplan đã đưa ra mô hình về phản ứng tình dục bao gồm ba giai đoạn khác nhau: (1) ham muốn tình dục, (2) kích thích, và (3) cực khoái. Mô hình của Kaplan được suy ra từ mô hình "hai giai đoạn" mà mô hình này đầu tiên chỉ bao gồm giai đoạn kích thích và giai đoạn cực khoái (có nghĩa là sinh học), nhưng sau này nó còn bao gồm cả giai đoạn ham muốn (tâm lý học và xã hội). Chính giai đoạn ham muốn là giai đoạn khiến cho mô hình của Kaplan khác với mô hình của Masters và Johnson. Kaplan đã áp dụng thành công mô hình "ba giai đoạn" của bà để giúp những cá nhân và những cặp vợ chồng vượt qua những rối loạn liên quan đến tình dục, chẳng hạn như những rối loạn liên quan đến ham muốn tình dục.

MÔ HÌNH NĂM GIAI ĐOẠN VỀ PHẢN ỨNG TÌNH DỤC CỦA ZILBERGELD VÀ ELLISON

Mô hình năm giai đoạn về phản ứng tình dục của Zilbergeld và Ellison đầu tiên được phát triển từ những quan tâm của các nhà trị liệu này, những quan tâm mà mô hình của Masters và Johnson không chú ý. Mô hình của Masters và Johnson chỉ chú trọng đến chức năng sinh lý chứ không chú ý nhiều đến sự nhận thức, tình cảm và trải nghiệm chủ quan. Các giai đoạn phản ứng tình dục của Zilbergeld và Ellison bao gồm (1) hứng thú, (2) hưng phấn, (3) sự sẵn sàng về mặt sinh lý, (4) cực khoái, và (5) thỏa mãn. Giống như mô hình của Kaplan, mô hình của Zilbergeld và Ellison dễ dàng phục vụ việc chữa trị những rối loạn tình dục liên quan đến một hay nhiều giai đoạn phản ứng.

MÔ HÌNH NHẬN THỨC-HÀNH VI LIÊN QUAN ĐẾN PHẢN ỨNG TÌNH DỤC CỦA WALEN VÀ ROTH

Một mô hình nữa thừa nhận vai trò của nhận thức đối với phản ứng tình dục là mô hình của Walen và Roth. Những nhà nghiên cứu này cho rằng hành vi tình dục là sự tiếp sau của đánh giá tích cực về nhận thức hưng phấn tình dục, mà nhận thức hưng phấn tình dục là sự tiếp sau của đánh giá tích cực về nhận thức kích thích tình dục. Hơn nữa, những đánh giá tích cực về nhận thức hành vi tình dục là rất cần thiết trong việc duy trì hưng phấn và hành vi tình dục. Nói cách khác, bất kể có chuyện gì xảy ra về mặt sinh lý thì những suy nghĩ và đánh giá về sự kiện tình dục của một người là vô cùng quan trọng.

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH

1. Giống như cần ăn khi đói, và cần uống khi khát, các hành vi tình dục là những phản ứng đối với dục tình, một trạng thái căng thẳng do sự thiếu hụt, trạng thái này thúc đẩy cá nhân làm gì đó để giảm căng thẳng. Hưng phấn tình dục là sự phấn kích liên quan đến dục tình (sexual drive, hay libido) của một cá nhân.

2. Ba nguồn gốc về hưng phấn tình dục bao gồm sinh học, tâm lý học và xã hội. Nguồn gốc sinh học bao gồm hệ thống thần kinh và não, hooc môn, kích thích vật lý lên các cảm giác và có thể có một số loại thuốc nhất định. Nguồn gốc tâm lý học bao gồm các quá trình nhận thức và những tưởng tượng về tình dục. Nguồn gốc xã hội bao gồm sự sắp đặt, hấp dẫn, và sự sẵn sàng của bạn tình.

3.Các nhà nghiên cứu tin rằng cấu trúc của bộ não trong hệ thống limbic đóng một vai trò quan trọng trong các quá trình tình dục. Hooc môn testosterone có ảnh hưởng lớn lên dục tình của cả nam giới lẫn phụ nữ. Các cơ quan cảm giác, bao gồm các tế bào thụ thể cảm giác đặc biệt là một yếu tố sinh học khác của liên quan đến hưng phấn tình dục. Các dạng phổ biến nhất của kích thích cảm giác bao gồm đụng chạm, ngửi, nghe và nhìn.

4. Những suy nghĩ, nhận thức, đánh giá và cảm giác hình thành nên hoạt động tình dục của một cá nhân. Việc giải thích được gọi là những mác nhận thức, chúng xây dựng nên các kịch bản tình dục, mà những kịch bản này định hướng cho việc đưa ra quyết định và hành vi tình dục. Sự ngăn cản tình dục là những kỳ vọng phi thực tế và vô lý gây cản trở đến chức năng và sự giao tiếp tình dục. Con người là động vật duy nhất có khả năng tự tạo ra các hình ảnh về tình dục, thuật ngữ gọi là những tưởng tượng về tình dục.

5. Mô hình được biết đến nhiều nhất về phản ứng tình dục của con người là mô hình của Masters và Johnson, những người tiên phong trong nghiên cứu quan sát. Masters và Johnson thấy rằng cả phụ nữ lẫn nam giới đều trải qua 4 giai đoạn liên quan đến hưng phấn và phản ứng tình dục: giai đoạn kích thích, bình ổn, cực khoáiphân giải. Các chu kỳ phản ứng tình dục của nam giới và phụ nữ có những điểm giống và khác nhau.

6. Các tài liệu chuyên ngành thường trích dẫn ba mô hình về phản ứng tình dục khác, đó là: Mô hình ba giai đoạn của Kaplan, mô hình năm giai đoạn của Zilbergeld và Ellison, và mô hình nhận thức- hành vi của Walen và Roth.

Chương 7

Thiên Hướng Tình Dục

George D. Zgourides, Bác Sĩ.

Christie S. Zgourides, Thạc Sĩ.

Dịch viên: Nguyễn Hồng Trang

Không còn nghi ngờ gì nữa, thiên hướng tình dục - đặc biệt khi chúng ta nói về đồng tính luyến ái và ái nam ái nữ - là chủ đề được thảo luận sôi nổi ngày nay. Phong trào đòi Quyền cho người Đồng tính Nam. Giải phóng người Đồng tính Nam. Lòng tự trọng của những người Đồng tính nam. Lực Lượng Đặc Nhiệm Đồng Tính Namvà Đồng Tính Nữ Quốc Gia. Câu lạc bộ và quán bar giành cho những người Đồng tính nữ. "Lộ diện" hay "Che giấu". Luật pháp "quyền bình đẳng" cho những người Đồng tính nam. Đồng tính luyến ái trong quân đội. Cha mẹ Đồng tính Nam. Các ấn phẩm như Cái Thang, Người ủng Hộ, Người Sinh ở New York, Ở Ngoài và thậm chí cả Tập San Của Những Người Đồng Tính Luyến Ái. Những khía cạnh về lối sống của người đồng tính nam - và nhiều điều nữa - là những thứ gây tranh cãi trong con mắt của rất nhiều người Mỹ. Do vậy, chúng tôi giành toàn bộ chương này để khám phá những vấn đề phức tạp như các nguyên nhân của xu hướng tình dục và ảnh hưởng của sự đồng tính luyến ái hay ái nam ái nữ lên các cá nhân và xã hội.


THIÊN HƯỚNG TÌNH DỤC LÀ GÌ?


Thiên hướng tình dục là từ dùng để chỉ sự hấp dẫn về tình cảm, sự lãng mạn, trìu mến và hấp dẫn về tình dục của một người đối với những người cùng giới, khác giới hay đối với cả hai. Một người bị hấp dẫn bởi những người khác giới được gọi là heterosexual (người có thiên hướng tình dục với người khác giới) (bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp heteros có nghĩa là "khác"). Nhiều người sử dụng từ straight (thẳng) đểchỉ những nam giới hay phụ nữ có thiên hướng tình dục với người khác giới. Một người bị hấp dẫn bởi những người cùng giới được gọi là homosexual (đồng tính luyến ái) (bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp homos có nghĩa là "cùng"). Nhiều người sử dụng từ gay (đồng tính nam) để chỉ những nam giới bị đồng tính luyến ái, vàlesbian (đồng tính nữ) để chỉ những nữ giới bị đồng tính luyến ái. Không được nhầm lẫn giữa đồng tính luyến ái với luyến ái giả trang (transsvestites) (những người mặc trang phục của người khác giới nhằm mục đích có được sự thoả mãn giới) hay người chuyển đổi giới tính (transsexuals) (những người bị rối loạn nhận dạng giới, mong muốn "phẫu thuật để chuyển đổi giới tính"). Một người bị hấp dẫn bởi cả hai giới được gọi là bisexual (ái nam ái nữ hay lưỡng tính) (bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp bi có nghĩa là "hai").


Những cuộc thảo luận ngày nay xung quanh khái niệm sở thích tình dục (sexual preference), hay đối tượng ham muốn tình dục của một người. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều nhà tình dục học và các chuyên gia khác chọn cụm từ thiên hướng tình dục (sexual orientation) thay vì sở thích tình dục, vì sở thích tình dục cho thấy rằng sự hấp dẫn tình dục luôn là vấn đề của sự lựa chọn. Nhà tình dục học John Money (1987)15 đã viết:


"Sở thích tình dục là một thuật ngữ mang tính đạo đức và chính trị. Về mặt khái niệm, nó dùng để chỉ sự lựa chọn tự nguyện, có nghĩa là một người chọn hoặc thích trở thành người đồng tính luyến ái thay vì là người có thiên hướng tình dục với người khác giới hay là người ái nam ái nữ và ngược lại. Về mặt chính trị, sở thích tình dục là một thuật ngữ nguy hiểm vì nó ám chỉ rằng nếu người đồng tính luyến ái chọn được sở thích của mình thì họ có thể bị pháp luật ép buộc, dưới sự đe doạ của việc sẽ bị trừng phạt, để phải chọn trở thành người có thiên hướng tình dục với người khác giới. Ở đây có thể thấy khái niệm về sự lựa chọn tình nguyện là sai, và cũng là sai khi áp dụng nó để nói về sự lựa chọn của người có khuynh hướng chỉ dùng một tay hay sự lựa chọn tiếng mẹ đẻ. Bạn không thể chọn tiếng mẹ đẻ của mình, cho dù bạn sinh ra chưa có nó." (trang 385)


Vào những năm 1940 và 1950, Alfred Kinsey và các đồng nghiệp của ông đã đưa ra ý kiến rằng thiên hướng tình dục tồn tại dọc một thể liên tục. Trước nghiên cứu của Kinsey về thói quen tình dục của người Mỹ, các chuyên gia (cũng như công chúng) nói chung tin rằng hầu hết mọi người hoặc là người đồng tính luyến ái hoặc là người có xu hướng tình dục với người khác giới. Kinsey đoán rằng các loại thiên hướng tình dục không hề rõ ràng như mọi người vẫn tưởng. Trong thang 7 điểm của Kinsey dùng để đo thiên hướng tình dục (0 điểm có nghĩa là một người hoàn toàn có thiên hướng tình dục với người khác giới, 6 điểm có nghĩa là một người hoàn toàn đồng tính luyến ái), những người trong thử nghiệm mẫu của ông đều từng ít nhất đã bị hấp dẫn một chút với những người cùng giới, tuy nhiên hầu hết những người đó đều không thể hiện khao khát đó của mình.


Giống với trường hợp của nhiều nghiên cứu khoa học xã hội, các kết luận của Kinsey về tình trạng ái nam ái nữ bị nghi ngờ. Ví dụ, hai nhà tâm lý học Robert Carson và James Butcher (1992)16 đã viết:


"Trên quan điểm của chúng tôi, nhiều con số mà Kinsey và các đồng nghiệp đưa ra không khẳng định được tính phổ quát của tình trạng ái nam ái nữ như một số loại trung lập dục tính cơ bản. Điều mà họ nêu là nhiều đàn ông từ chối không quan hệ tình dục với phụ nữ có thể và có "sự thỏa mãn tối đa" bằng cách quan hệ tình dục với người đàn ông khác, là do nghiên cứu của họ, giờ thì ai cũng biết, được thực hiện trên những người tù, hoặc tương tự." (trang 375)


Điều quan trọng là cần phải nhớ rằng tình dục hướng giới tính khác cũng là vấn đề thuộc thiên hướng tình dục, giống như đồng tính luyến ái hay ái nam ái nữ. Mặc dù nhiều người cho rằng có thể chuyển đổi thiên hướng tình dục của một người, thường là những người có thiên hướng tình dục với người khác giới nói về những người đồng tính luyến ái, thì câu nói đó (dù đúng hay sai) cũng cần phải được áp dụng một cách công bằng cho tất cả mọi người thuộc tất cả các thiên hướng tình dục. Như sẽ được thảo luận ở phần sau, việc thay đổi thiên hướng tình dục thông qua liệu pháp tâm lý dường như là điều vô cùng khó khăn, nếu như không muốn nói là không thể.


Chúng ta cũng cần phân biệt giữa thiên hướng tình dục (hay sự hấp dẫn) với hành vi tình dục (hay sự thể hiện). Một người có thể có hoặc có thể không lựa chọn việc thể hiện thiên hướng tình dục của mình thông qua các hành vi. Nói cách khác, anh ta hay cô ta có thể có thiên hướng tình dục của người đồng tính luyến ái nhưng lại chọn cách không thể hiện điều đó với bạn tình. Tất nhiên, nguyên tắc này cũng được áp dụng đối với những người có thiên hướng tình dục với người khác giới và người ái nam ái nữ.


Suy Nghĩ Cá Nhân


Đâu là những vấn đề có liên quan đến việc định nghĩa tình dục hướng giới tính khác, đồng tính luyến ái, và ái nam ái nữ?Bạn hãy chú ý đến những lý lẽ tán thành và phản đối liên quan đến việc định nghĩa thiên hướng tình dục như sự tồn tại dọc theo thể liên tục.


HÀNH VI ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI PHỔ BIẾN NHƯ THẾ NÀO?


Lúc này hay lúc khác, những suy nghĩ liên quan đến đồng tính luyến ái có thể xuất hiện thoáng qua trong đầu của hầu hết mọi người. Nhưng các hành vi đồng tình luyến ái phổ biến như thế nào trong dân số nói chung? Và có bao nhiêu người Mỹ hoàn toàn là người đồng tình luyến ái?


Cho dù thiên hướng tình dục tồn tại dọc theo thể liên tục, nhưng việc tìm kiếm những ví dụ tiêu biểu để khảo sát là rất khó, nhiều người còn do dự trong việc trả lời đầy đủ hoặc trung thực các câu hỏi khảo sát, việc có được con số phần trăm chính xác là rất khó khăn. Theo ước tính hiện tại thì có khoảng 4% nam giới và từ 1% đến 2% phụ nữ ở Mỹ là những người hoàn toàn đồng tính luyến ái. Số liệu này chỉ ra rằng con số phổ biến cho rằng 10% dân số là những người đồng tính luyến ái có thể là ước tính quá cao. Không có gì ngạc nhiên khi số người đồng tính luyến ái được ước tình cao hơn mức trung bình toàn quốc vì việc ước tính được thực hiện trong những môi trường nhất định chẳng hạn như nhà tù, nơi mà đồng tính luyến ái mang tính hoàn cảnh (hành vi đồng tính luyến ái xảy ra là do không có sự hiển diện của những người bạn tình khác giới.)


Những thông tin về tình trạng ái nam ái nữ thậm chí còn ít hơn những thông tin về đồng tính luyến ái, lý do là bởi vì mọi người nghĩ rằng ái nam ái nữ là tiểu nhóm của đồng tính luyến ái. Một khó khăn khác trong việc có được thông tin chính xác về tình trạng ái nam ái nữ là nhiều người gặp gỡ những người cùng giới với mình nhưng lại không nghĩ bản thân là người ái nam ái nữ. Một ví dụ minh họa cho điều này là những người bạn ở chung tù, có quan hệ với những người đàn ông khác trong khi bị tống giam, nhưng họ vẫn cho rằng bản thân mình là người có thiên hướng tình dục với người khác giới. Một khó khăn nữa là nhiều người đồng tính nam kết hôn, nuôi con, coi đó như "vỏ bọc xã hội", và họ nghĩ bản thân mình là người đồng tính chứ không phải là người ái nam ái nữ.


Nhiều người đôi khi cho rằng ái nam ái nữ là "tốt nhất cho cả hai thế giới" tuy nhiên những người ái nam ái nữ không đồng tình với quan điểm này. Họ thường cảm thấy bị cô lập và xa lánh từ cả những người đồng tính luyến ái lẫn những người có thiên hướng tình dục với người khác giới. Những người ái nam ái nữ củng cố sự tồn tại của các nhóm và cộng đồng nhưng họ chiếm thiểu số so với những nhóm đồng tính luyến ái. Không còn nghi ngờ gì nữa, khi mọi người thoải mái đối với những người "xuất đầu lộ diện" thì số người này trong tương lai chắc chắn sẽ tăng lên.


Suy Nghĩ Cá Nhân


Bạn sẽ phản ứng như thế nào nếu một người bạn thân cùng giới với bạn tiết lộ cho bạn biết rằng anh ta hay cô ta là người đồng tính nam, đồng tính nữ, hay ái nam ái nữ ? Bạn sẽ phản ứng thế nào nếu một người bạn thân khác giới cũng nói với bạn như vậy?


CÁC HỌC THUYẾT VỀ ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI


Những nguyên nhân chính xác gây ra hiện tượng đồng tính luyến ái, cũng như nguyên nhân thiên hướng tình dục hướng người khác giới và thiên hướng tình dục nói chung vẫn tiếp tục là thách thức đối với các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, cũng có một số học thuyết được đưa ra. Những học thuyết này chia thành các nhóm về sinh học, tâm lý học,học thuyết tương tác.


Các Học Thuyết về Sinh Học


Đến nay, những nỗ lực nhằm nhận biết chính xác các nguyên nhân sinh lý gây ra hiện tượng đồng tính luyến ái vẫn chưa có kết quả. Các học thuyết sinh học truyền thống thì cho rằng đó là do có quá ít hooc môn testosterone ở nam giới, quá nhiều hooc môn testosterone ở nữ giới, sự mất cân bằng hooc môn, và những lỗi sinh học trước khi sinh ra do căng thẳng ở người mẹ. Những học thuyết gần đây hơn còn bao gồm cả nguyên nhân di truyền và gien, các khi nhiễm sắc thể, và những dị thường ở phía trước vùng đồi dưới não (nghĩa là nhân tế bào khe thứ ba).


Những phát hiện từ các nghiên cứu tập trung vào nguyên nhân sinh học cần phải được giải thích một cách thận trọng. Đầu tiên, hầu hết các đối tượng được lấy làm ví dụ không phải là đại diện cho dân số nói chung, vì tất cả những đối tượng đó đều là nam giới. (Điều này không có gì là mới. Đa số các nghiên cứu về đồng tính luyến ái thường được thực hiện trên nam giới nhiều hơn phụ nữ). Thứ hai, hầu hết các phát hiện đều mới chỉ nói đến các kết hợp tương quan của những biến số chứ không phải là nguyên nhân. Ví dụ, có phải liệu một phần nhỏ dị thường ở vùng đồi dưới gây ra tình trạng đồng tính luyến ái hay ngược lại? Hay liệu bất kỳ nguyên nhân nào gây ra sự dị thường ở một phần nhỏ vùng đồi dưới cũng gây ra hiện tượng đồng tính luyến ái? Cần có nhiều nghiên cứu cụ thể hơn nữa trước khi đưa ra các kết luận hợp lý về ảnh hưởng của các yếu tố sinh học khác nhau lên việc hình thành thiên hướng tình dục.


Ghi Chép Cá Nhân (Alex, 34 tuổi)


Từ khi có thể nhớ được, tôi đã bị hấp dẫn bởi những người đàn ông. Quay trở về thời bé, có lẽ lúc đó tôi học lớp 1 hay lớp 2 gì đó, tôi còn nhớ một chuyện mà bọn con trai thường hay nói với nhau ở trong nhà vệ sinh của trường. Bọn chúng nói chúng rất muốn được nhìn thấy bọn con gái không mặc gì trên người vì chúng bảo bạn luôn luôn có thể nhìn thấy bản thân trần truồng nếu như bạn muốn nhìn một bộ phận nào trên cơ thể con trai. Lúc đó, tôi đã nghĩ tới bản thân mình, tôi chỉ thấy sung sướng khi nhìn thấy cơ thể con trai. Thậm chí tôi còn biết rằng tôi không thể nói về cảm giác này của mình với bất kỳ đứa bạn nào của tôi được. (Tư liệu của Bác sĩ Zgourides)


Các Học Thuyết Về Tâm Lý Học Và Xã Hội


Tuổi thơ có vẻ như là một giai đoạn rất quan trọng đối với việc hình thành thiên hướng tình dục, sự học hỏi, kiến thức đóng vai trò trong việc phát triển tình trạng đồng tính luyến ái. Học thuyết của Freud cho rằng đồng tính luyến ái được bắt rễ từ những xung đột từ thời thơ ấu, đặc biệt trong suốt giai đoạn thuộc phức cảm Ơđíp(Oedipal stage) của sự phát triển tâm sinh dục. Những người theo học thuyết của Freud tin rằng đồng tính luyến ái phát triển để phản ứng với một người cha thụ động và một người mẹ quá thương yêu và chi phối, các mối quan hệ gia đình có vấn đề, và/hoặc gia đình mất cha/mẹ hay cả hai. Những quan điểm này không thể giải thích tại sao đồng tính luyến ái cũng phát triển ở những cá nhân không có hoàn cảnh gia đình như thế.


Gần đây, các nhà nghiên cứu đã đưa ra vô số những nhân tố nhận thức-xã hội, mà những nhân tố này phải chịu trách nhiệm đối với tình trạng đồng tính luyến ái, những nhân tố này thậm chí có lẽ còn nhiều hơn cả những yếu tố sinh học. Có thể đồng tính luyến ái phát triển khi dục tình của một đứa trẻ hay một thiếu niên xuất hiện trong giai đoạn đầu của tình bạn cùng giới. Hay có thể có điều gì đó từ những hành vi khác giới ban đầu (liên quan đến các khuôn mẫu cư xử của giới khác). Giống như các học thuyết sinh học về thiên hướng tình dục, những học thuyết này và vô số những học thuyết tâm lý, xã hội khác đều mới chỉ nói đến các sự kết hợp tương quan chứ chưa đưa ra được những kết hợp mang tính nguyên nhân.


Học Thuyết Tương Tác


Dường như cả những nhân tố sinh học lẫn những sự kiện cụ thể từ thời thơ ấu đều không phải là những nhân tố duy nhất phải chịu trách nhiệm cho sự phát triển của tình trạng đồng tính luyến ái. Học thuyết Tương tác về đồng tính luyến ái chỉ ra rằng thiên hướng tình dục phát triển nhằm phản ứng lại với sự tương tác phức tạp của các nhân tố sinh học, tâm lý học và xã hội - một phối cảnh tâm sinh lý xã hội cơ bản. Trọng lượng tương đối của những nhân tố khác nhau này trong việc quyết định thiên hướng tình dục ở một cá nhân cụ thể hiện vẫn chưa được xác định.


Có lẽ học thuyết tương tác được chấp nhận rộng rãi nhất là học thuyết của John Money. John Money đã giải thích sự phát triển của đồng tính luyến ái theo một quá trình gồm hai bước. Theo Money, các hooc môn trước khi sinh đầu tiên ảnh hưởng đến bộ não của phôi thai hay bào thai, tạo nên bẩm chất sinh học đối với một thiên hướng tình dục cụ thể. Sau khi sinh ra, trong suốt thời kỳ thơ ấu ban đầu các yếu tố xã hội-kiến thức trong môi trường ảnh hưởng đến đứa trẻ, ngăn cản hoặc tạo điều kiện cho bẩm chất. Cuối cùng thiên hướng tình dục hình thành được củng cố thêm nhờ cực khoái tình dục, điều này khiến cho việc định hướng lại thiên hướng tình dục càng trở nên khó khăn khi thời gian qua đi.


SỰ ĐIỀU CHỈNH TÌNH TRẠNG ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI


Các quan điểm đầu tiên về đồng tính luyến ái là quan điểm thần học.Từ những kết án của người Do Thái cổ về hành vi đồng tính luyến ái, đến sự ám chỉ của Thánh Thomas Aquinas coi đó là "hành vi thú tính trái với tự nhiên", các xã hội Do Thái - Thiên Chúa Giáo truyền thống đều coi hành vi đồng tính luyến ái là tội lỗi. Bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, cộng đồng bác sĩ về sức khỏe tinh thần, đặc biệt là những người bị ảnh hưởng bởi học thuyết của Freud, bắt đầu coi đồng tính luyến ái là bệnh tinh thần hay là những rối loạn liên quan đến tinh thần.


Tuy nhiên, do có nhiều bằng chứng cho thấy những điều ngược lại, và do các quan điểm thoáng hơn về tình dục gia tăng ở Mỹ nên năm 1973, Hiệp hội Tâm thần Mỹ đã bỏ phiếu tán thành việc loại bỏ đồng tính luyến ái coi đó như một dạng bệnh tâm thần ra khỏi Triệu Chứng Và Sách Chỉ Dẫn Thống Kê Về Các Rối Loạn Tinh Thần (DMS). Trong cuốn DMS-III (1980) chỉ có duy nhất một tham chiếu dành cho đồng tính luyến ái, đó là Đồng Tính Luyến Ái Bản Ngã - Dystonic, chuẩn đoán này được đưa ra cho người cảm thấy không thỏai mái đối với thiên hướng đồng tính luyến ái của anh ta hay cô ta. Hiệp hội Tâm Thần Mỹ thậm chí cuối cùng cũng đã loại bỏ danh mục này ở cuốn DSM-III-R (1987) và DSM-IV (1994) và thay vào đó bằng Chứng Rối Loạn Tình Dục Mà Chứng Này Không Được Mô Tả Cụ Thể ở Các Chứng Rối Loạn Tình Dục Khác (Sexual Disorder Not Otherwise Specified), đây là sự phân loại chung dành cho các chứng rối loạn tình dục mà các chứng này không phù hợp với tiêu chí thông thường. Năm 1975 Hiệp Hội Tâm Lý Học Mỹ đã tán thành quyết định mang tính bước ngoặt của Hiệp hội Tâm thần Mỹ về việc loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các bệnh liên quan đến rối loạn tinh thần.


Quyết định coi hay không coi đồng tính luyến ái như là một căn bệnh liên quan đến rối loạn tinh thần hay sự bất thường nhằm ngụ ý xem việc chữa trị một số loại liên quan đến đồng tính luyến ái là thích hợp hay không. Có thể thay đổi thiên hướng tình dục không? Có nên chữa trị cho những người đồng tính luyến ái không? Liệu các chuyên gia về sức khỏe tinh thần có nên giúp những người đồng tính luyến ái trở thành những người có thiên hướng tình dục khác không? Đây thực sự là những câu hỏi khó.


Nói về mặt logic, nếu một mặt đồng tính luyến ái không phải là một rối loạn thì phải chữa trị cái gì đây? Các nhà nghiên cứu cho rằng những người đồng tính luyến ái là những người khỏe mạnh và có thể điều chỉnh về mặt tâm lý như bất kỳ ai khác. Họ có sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần giống như những người có xu hướng tình dục hướng giới tính khác, bất kể thiên hướng tình dục hay sở thích tình dục nào. Từ quan điểm này, người đồng tính luyến ái có thể đi gặp tư vấn để giải quyết những vấn đề thứ yếu liên quan đến thiên hướng tình dục của họ chẳng hạn như những lo lắng về việc nếu gia đình biết chuyện, quấy rối tình dục ở công sở, hay sự phân biệt đối xử về nhà cửa - nhưng không cần phải điều trị thiên hướng của họ như thể nó là một căn bệnh rối loạn về tinh thần. Nếu mặt khác, coi đồng tính luyến ái là một rối loạn thì các phương pháp trị liệu chuyển đổi có hiệu quả không? Lúc này, có vẻ như không tồn tại liệu pháp sinh học hay tâm lý mà những liệu pháp này có ảnh hưởng toàn diện và hiệu quả đến việc chuyển đổi thiên hướng tình dục, mặc dù không phải tất cả các chuyên gia đều đồng ý với điều này.


Hầu hết các nhà tình dục học đều biện luận rằng không có một lý do gì, ít nhất là trên phương diện sức khỏe tinh thần để phải cố gắng sửa lại thiên hướng tình dục của người đồng tính luyến ái. Nhưng vấn đề không đơn giản như vậy. Còn những người đồng tính nam và đồng tính nữ, những người muốn thay đổi thiên hướng tình dục của mình thì sao, chẳng hạn như vì lý do tôn giáo? Liệu các nhà trị liệu có bắt buộc phải đưa ra những dịch vụ chữa trị nếu có thể hay không? Một số bác sĩ phản đối việc dùng liệu pháp chuyển đổi thiên hướng tình dục cho các khách hàng đồng tính luyến ái bởi vì những liệu pháp chữa trị này có thể khuyến khích định kiến của xã hội chống lại những cá nhân đó. Ngược lại, một số người khác lại lập luận rằng cần chữa trị cho những người có yêu cầu chính đáng bất kể quan điểm của bác sĩ coi đồng tính luyến ái là sự bất thường. Từ chối khách hàng, những người yêu cầu được chữa trị bằng liệu pháp chuyển đổi thiên hướng là vi phạm "quyền được chữa trị" cơ bản của họ. Tất nhiên, bác sĩ trị liệu phải có nghĩa vụ thông báo cho khách hàng về tính hiệu quả tương đối của liệu pháp chuyển đổi.


Một số bác sĩ hành nghề, các nhóm tôn giáo và khách hàng đã nói thành công với liệu pháp chuyển đổi lại thiên hướng tình dục. Tuy nhiên, hầu hết những báo cáo của họ về những thành công này đều chỉ là những câu chuyện, chưa được xác minh một cách khoa học; không có đủ bằng chứng khoa học để đưa ra những đánh giá chính xác về khả năng thành công của nó. Những câu hỏi như "Liệu có thể thay đổi thiên hướng tình dục?" và "Có nên chữa trị cho những người đồng tính luyến ái không?" đôi khi vẫn sẽ là những câu hỏi chưa có câu trả lời.


Ghi Chép Cá Nhân (Sam, 31 tuổi )


Cho mãi đến tận năm cuối trung học tôi mới phát hiện ra rằng mình không có một chút hấp dẫn tình dục nào với phụ nữ cả.Từ đó trở đi, tôi hoàn toàn bị thu hút bởi những người đàn ông. Nhưng do nền tảng, địa vị của mình, tôi không bao giờ có thể chấp nhận mình là người đồng tính luyến ái. Bởi thế tôi đi gặp một bác sĩ tâm lý để "thay đổi" thiên hướng tình dục của mình. Thực sự, tôi cũng khá hài lòng với sự tiến triển của chúng tôi (tôi và bác sĩ của mình). Trải qua 13 năm, từ chỗ không có hứng thú tình dục với phụ nữ tôi đã có thiên hướng hấp dẫn tình dục với người khác giới. Tuy nhiên tôi phải thừa nhận rằng chúng tôi không bao giờ có thể loại bỏ được hoàn toàn phần đồng tính nam trong con người tôi. Nó vẫn còn ở đó, đôi khi leo nheo tôi. Nhưng tôi có thể giải quyết được nó. Tôi đoán rằng những điều mà chúng tôi đã làm khi trị liệu đã làm tăng thêm vốn mục tình dục của tôi lên đến điểm khiến tôi có thể thể hiện một cách thoải mái như một người có thiên hướng tình dục hướng người khác giới (Tư liệu của Bác sĩ Zgourides)


LỐI SỐNG CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI


Những người đồng tính luyến ái rất khác biệt nhau từ học vấn và lối sống. Trên thực tế, chẳng có cái gì được gọi là lối sống của người đồng tính luyến ái; cũng giống như không có cái gì được gọi là lối sống của những người có thiên hướng tình dục với người khác giới. Tuy nhiên, có thể đưa ra một vài quan sát nhận xét. Ba khía cạnh quan trọng trong lối sống của người đồng tính luyến ái là: xuất đầu lộ diện, các mối quan hệ và con cái,hành vi tình dục.


Xuất Đầu Lộ Diện


Những người đồng tính nam và nữ có thể cởi mở đến mức độ nào về sự hấp dẫn tình dục của họ? Các bằng chứng cho thấy rằng có lẽ khoảng 10% những người đồng tính luyến ái ở Mỹ thực sự "bước ra khỏi cái tủ", kể cho gia đình và bạn bè biết rằng họ là người đồng tính nam hoặc nữ. Số còn lại, những người "ở trong cái tủ" là giả vờ ("giả vờ" bản thân là người có thiên hướng tình dục hướng người khác giới). Như một khách hàng đã nói:


Ghi Chép Cá Nhân (June, 29 tuổi)


Tôi đã thể hiện mình là người đồng tính luyến ái đối với hầu hết bạn bè của mình, nhưng tôi vẫn phải cố gắng lấy hết can đảm để nói với những người thân của mình. Điều này thực sự khó, và tôi biết họ sẽ không chấp nhận, nhưng chừng nào tôi chưa làm việc đó thì tôi còn cảm thấy mình đang sống giả dối. Hầu hết các bạn của tôi đều thực sự ủng hộ tôi. (Tư liệu của Bác sĩ Zgourides)


Suy Nghĩ Cá Nhân


Đâu là những vấn đề chủ yếu mà một người đồng tính luyến ái và ái nam ái nữ phải đối mặt khi họ "xuất đầu lộ diện" với bạn bè và gia đình mình? Bạn có thể nghĩ ra phương pháp nào mà người đồng tính luyến ái có thể sử dụng để làm giảm đến mức độ tối thiểu những căng thẳng liên quan đến việc nói cho người khác biết thiên hướng tình dục của cô ấy hay anh ấy?


Tại sao nhiều người đồng tính luyến ái không muốn xuất đầu lộ diện? Xem nào, đâu là nguy cơ tiềm ẩn nếu như thông báo cho thế giới biết mình là người đồng tính luyến ái. Gia đình chối bỏ. Mất việc. Bị đuổi ra khỏi nhà. Là vết nhơ của xã hội. Bị những người chống đối việc đồng tính luyến ái hành hung. Tuy nhiên, đối với những người đồng tính muốn xuất đầu lộ diện, thì cũng có những nhóm trợ giúp. Ngoài ra còn có cả một Ngày Xuất Đầu Lộ Diện Quốc Gia, đó là ngày 11 tháng Mười hàng năm, vào ngày đó có một chiến dịch nhằm giúp những người đồng tính luyến ái nói với gia đình và bạn bè của họ về thiên hướng tình dục của mình.


Các Mối Quan Hệ và Con Cái


Nghiên cứu chỉ ra rằng có khoảng 40% đến 60% những người đồng tính nam và nữ có liên quan đến một số dạng quan hệ gắn bó. Nhiều cặp đồng tính luyến ái đôi khi sống chung cùng nhau còn lâu hơn những người có thiên hướng tình dục với người khác giới. Cũng giống như những người có thiên hướng tình dục với người khác giới, những người đồng tính luyến ái có thể có và có thể không thỏa mãn với mối quan hệ của mình.


Những mối quan hệ của người đồng tính luyến ái là như thế nào? Người đồng tính luyến ái và người ái nam ái nữ - cũng giống như người có thiên hướng tình dục khác giới - có thể sống chung với nhau, sống một mình, sống cùng gia đình hay bạn bè, hoặc sống với bạn chung phòng. Họ cũng có thể đến từ những tầng lớp xã hội khác nhau, với điều kiện kinh tế và học vấn khác nhau. Thật khó có thể đưa ra được sự khái quát chung về mối quan hệ của những người đồng tính luyến ái hay những người ái nam ái nữ - sự lãng mạn, về mặt xã hội, nghề nghiệp hay những cái khác - điều này cũng khó như việc đưa ra sự khái quát chung về mối quan hệ của những người có thiên hướng tình dục hướng giới tính khác.


Các cặp đồng tính luyến ái có thể quyết định nuôi con. Những nhà nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ em được những người đồng tính luyến ái nuôi dưỡng không có gì khác so với trẻ em được các cặp khác nuôi dưỡng ở những điểm quan trọng như sự điều chỉnh cuộc sống chung, nhận dạng giới, vai trò về giới, và sự thông minh. Họ cũng chỉ ra rằng trẻ em được những cặp đồng tính luyến ái nuôi dưỡng không có nhiều khả năng sẽ trở thành người đồng tính luyến ái hơn những trẻ em được nuôi dưỡng bởi những cặp có thiên hướng tình dục hướng giới tính khác.


Hành Vi Tình Dục


Đồng tính luyến ái, tình dục hướng giới tính khác và ái nam ái nữ, tất cả những thiên hướng tình dục này đều trải qua cùng các giai đoạn liên quan đến hưng phấn tình dục và phản ứng. Có nghĩa là những người đồng tính nam và những người đồng tính nữ phản ứng với các kích thích tình dục và tham gia vào các hành vi tình dục giống với người có thiên hướng tình dục hướng tới giới khác và người ái nam ái nữ. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những người đồng tính luyến ái như một nhóm có xu hướng ít gặp khó khăn trong hoạt động tình dục hơn so với người có thiên hướng tình dục hướng tới giới khác.


Đọc tiếp

Thiên Hướng Tình Dục


 

George D. Zgourides, Bác Sĩ.


 

Christie S. Zgourides, Thạc Sĩ.


 

Dịch viên: Nguyễn Hồng Trang

ÁM ẢNH ĐỒNG TÍNH


Những người đồng tính nam và nữ đã thể hiện mình là người đồng tính thường phải đối mặt với những công kích bằng lời nói, hành động và sự hành hung tình dục của những cá nhân bị ám ảnh bởi sự đồng tính. Ám ảnh đồng tính (Homophobia) là từ không những chỉ sự sợ hãi vô lý của những người sợ bị người khác coi là người đồng tính luyến ái, mà nó còn là từ chỉ sự kinh bỉ dai dẳng và căm ghét những người đồng tính luyến ái.


Ám ảnh đồng tính luyến ái khiến một số người đánh những kẻ đồng tính nam hoặc chửi rủa và/hoặc đối xử tàn ác đối với những người đồng tính luyến ái hoặc cả người có thiên hướng tình dục hướng giới khác nhưng bị nhầm là người đồng tính. Tại sao mọi người lại tham gia vào những cuộc bạo lực chống lại người đồng tính? Lý do là có một số người cho rằng có sự liên hệ giữa đồng tính luyến ái với bệnh AIDS. Những người khác đoán rằng thái độ tiêu cực với bệnh AIDS chẳng qua chỉ là sự giải thích cho những quan điểm chống lại người đồng tính, mà quan điểm này vẫn còn tồn tại. Cho dù có là nguyên nhân gì đi nữa thì những cuộc bạo lực chống lại người đồng tính dường như vẫn đang tăng lên ở Mỹ. Khoảng 25% những người đồng tính nam và nữ là nạn nhân của những vụ hành hung liên quan đến thiên hướng tình dục.


Nhiều ví dụ liên quan đến ám ảnh đồng tính bắt nguồn từ sự kết án của xã hội đối với các hành động đồng tính, đặc biệt là việc quan hệ tình dục ở lỗ hậu môn. Những người Phương Tây coi chủ đề quan hệ tình dục ở lỗ hậu môn - có thể nhiều hơn bất kỳ hành động tình dục nào khác (kể cả thủ dâm) - là việc làm đáng bị phản đối, lên án, đáng ghê tởm và căm phẫn. Tuy nhiên điều này không nhất thiết bị phản đối ở những nơi khác trên thế giới. Ví dụ, một số nam giới và phụ nữ Mangai ở Nam Thái Bình thường quan hệ tình dục ở lỗ hậu môn khi người phụ nữ có kinh. Namthanh niên và đàn ông ở vùng Siwan thuộc Nam Phi, và Kiraki thuộc New Guineacũng quan hệ kiểu này. Và cả một số cặp đồng tính luyến ái Mỹ cũng có quan hệ tình dục ở vùng trực tràng hậu môn.


Tại sao nhiều người Mỹ lại căm ghét tình dục đồng giới? Cũng giống với nhiều khía cạnh của tình dục, nhiều quan điểm văn hóa của chúng ta bắt nguồn từ những tập tục và giá trị Thiên Chúa giáo. Trong Kinh Cựu Ước (ví dụ như Malachi 2:1-3), phân (cứt) mang ý nghĩa vô cùng xấu, do đó không có gì ngạc nhiên khi nó lại được gắn với sự đồng tính luyến ái, hành vi quan hệ tình dục ở lỗ hậu môn, và kẻ ngoại đạo. Căn cứ vào nhiều giải thích nghiêm khắc các đoạn trong Kinh Thánh liên quan đến các hành vi tình dục đồng giới đáng lên án, không còn nghi ngờ gì nữa người Mỹ cũng kịch liệt phản đối tình dục đồng giới. Dưới đây là giải thích của nhà nghiên cứu tình dục Alfred Kinsey và các đồng nghiệp của ông trong nghiên cứu cổ điển, Hành Vi Tình Dục ở Phụ Nữ (1953)18:


"Sự kết án chung về tình dục đồng giới trong nền văn hóa của chúng ta dường như bắt nguồn từ hàng loạt các bối cảnh lịch sử mà các bối cảnh đó rất ít khi bảo vệ các cá nhân hay duy trì tổ chức xã hội lúc đó. Trong bộ luật thời kỳ Hittite, Chaldean, và đầu Do Thái, không có sự kết án chung nào đối với những hành vi tình dục đồng giới, tuy nhiên có mức hình phạt dành cho các hoạt động đồng tính luyến ái xảy ra giữa những người có địa vị xã hội cụ thể hay tình dục đồng giới giữa những người có quan hệ huyết thống, dưới những hoàn cảnh cụ thể, đặc biệt khi có sự tham gia của hành động cưỡng bức. Sự kết án chung đối với những quan hệ đồng tính (đặc biệt là đồng tính nam) bắt nguồn từ lịch sử người Do Thái vào khoảng thế kỷ thứ 7, trước Công nguyên, sau sự quay về từ cuộc đày ải Babylon... Nhiều sự kết án Talmudic được xây dựng từ sự kiện rằng những hành động đó đại diện cho cách của Canaanite, cách của Chaldean, cách của kẻ ngoại giáo, và chúng bị kết án dưới dạng sùng bái hơn là mội tội lỗi liên quan đến tình dục. Đến thời đại trung cổ, đồng tính luyến ái gắn liền với dị giáo. Tuy nhiên, với sự cải cách tục lệ (tập tục), đồng tính luyến ái đã trở thành một vấn đề liên quan đến đạo đức và cuối cùng đồng tính luyến ái là hành động liên quan đến luật hình sự." (Trang 481-482).


Trong cuốn sách có tựa đề Hãy Hỏi Tôi Bất Kỳ Điều Gì (1992)19, Marty Klein đã bổ sung:


"Sự quảng cáo của người Mỹ cũng góp phần vào chuyện này. Vì có quá nhiều quảng cáo dựa vào việc để mọi người đặt câu hỏi về khả năng tình dục của họ (để họ có thể bán được sản phẩm giúp giải tỏa những lo lắng đó), họ đã gieo những vấn đề vào trong tiềm thức của con người: Tôi có thực sự là đàn ông không? Có thực sự là phụ nữ không? Điều này khiến cho những người đồng tính luyến ái lo sợ vì nó làm suy yếu sự tự tin của con người về thiên hướng tình dục hướng tới người khác giới của họ. Khi giác quan của một người có thiên hướng tình dục khác giới về nhận dạng tình dục là yếu ớt, dễ vỡ, đồng tình luyến ái có thể gây ra những xáo trộn kinh khủng về tình cảm. Có thể dễ dàng đổ lỗi cho những người đồng tính nam về việc này. Bên cạnh đó, mặc dù mọi người đều biết và đã từng nhìn thấy những người đồng tính luyến ái, nhưng hầu hết mọi người lại không biết về nó. Điều này khiến cho chúng ta dễ nhìn những người đồng tính như là "họ" chứ không phải "chúng ta", là điều gì đó khác chứ không phải con người. Và nó gây nên sự căm ghét." (trang 232)


CHỦ NGHĨA CHÍNH TRỊ TÍCH CỰC VỀ ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI


Những người đồng tính nam và đồng tính nữ đang tích cực tìm kiếm sự giúp đỡ để chấm dứt những thành kiến và sự phân biệt chống lại họ do thiên hướng tình dục của họ gây ra. Họ làm việc với tất cả các cấp xã hội để nhằm thay đổi luật pháp, chống lại sự phân biệt đối xử trong công việc, sự quấy rối tình dục, loại bỏ sự ám ảnh đồng tính và đánh những người đồng tính nam, vận động gây quỹ phòng chống AIDS, giáo dục công chúng về tình dục đồng giới và đồng tính luyến ái. Mặc dù nhiều người đồng tính nam và đồng tính nữ tin rằng họ đang đi trên con đường hướng tới mục đích của mình, nhưng những người khác tin rằng họ vẫn còn rất nhiều việc phải làm để đạt đến mục tiêu "giải phóng tình dục đồng giới" thực sự.


Phong Trào Đòi Quyền Cho Người Đồng Tính, phong trào này ngày nay được rất nhiều người biết đến, bắt đầu phát triển rầm rộ với cuộc nổi loạn Stonewall năm 1969. Cảnh sát New Yorkđã chú ý một thời gian dài những quán bar của người đồng tính luyến ái nam nhằm chống lại sự quấy rối và tiến hành bắt bớ. Vào tháng 6 năm 1969, họ đã tấn công và vây bắt quán Stonewall Inn, một quán bar dành cho người đồng tính nam ở vùng Greenwichthuộc NewYork. Khi những người bảo trợ quán bar chống đối lại, một cuộc bạo loạn đã nổ ra và kéo dài đến tận ngày hôm sau. Vụ việc này thúc đẩy sự ra đời của vô số những nhóm đòi quyền cho người đồng tính, các cuộc tuần hành, biểu tình, các hoạt động kỷ niệm và diễu hành tổ chức hàng năm, bao gồm cả Tuần Lễ Kiêu Hãnh của Người Đồng Tính Nam.


Nhiều người đã nhầm khi cho rằng, phong trào đòi quyền cho người đồng tính nam bắt đầu từ cuộc bạo loạn Stonewall, nhưng trên thực tế có hơn 40 tổ chức của người đồng tính nam và đồng tính nữ đã tập trung ở đây thời gian đó. Hai trong số những nhóm đồng tính rõ ràng ở những năm 50 và 60 là Mattachine Society và Daughters of Bilitis. Sau cuộc bạo loạn Stonewall, những người đồng tính nam và đồng tính nữ tập hợp vào các nhóm chính trị và các cơ quan phục vụ như Hành Động, Mặt Trận Giải Phóng Người Đồng Tính Nam, Liên Minh Những Người Hoạt Động Xã Hội ủng Hộ Đồng Tính Nam, Những Người Ủng Hộ Và Bảo Vệ Cho Người Đồng Tính, Công Cuộc Đòi Quyền Cho Người Đồng Tính Nữ, Lực Lượng Đặc Nhiệm Đồng Tính Nam Và Nữ, Những Người Ủng Hộ Đòi Quyền Cho Người Đồng Tính Nam Quốc Gia, Quốc Gia Đồng Tính Nam, ở đây tôi mới chỉ nêu tên một vài tổ chức.


Như đã trình bày ở đầu chương này, thiên hướng tình dục - đặc biệt là đồng tính luyến ái và ái nam ái nữ - là chủ đề hiện nay được tranh luận sôi nổi. Bất kỳ cuộc đấu tranh nào cũng có mặt tích cực bất kể ý kiến của người khác thế nào. "Vấn đề đồng tính luyến ái" tạo cơ hội cho người Mỹ suy nghĩ một cách nghiêm túc về cuộc sống ở thế kỷ 21. Nó giúp cho con người học cách chung sống với những người mà có thể họ không đồng tình. Nó thúc đẩy họ phải xem xét quan điểm của mình và quyết định xem những quan điểm đó có hợp lý hay không. Đồng tính luyến ái theo con người suốt trong một thời gian dài. Người Mỹ bây giờ đã chú ý một cách đầy đủ đến vấn đề này.


Suy Nghĩ Cá Nhân


Đâu là những ý kiến đồng tình và phản đối việc làm luật "quyền bình đẳng" cho những người đồng tính?Còn việc làm luật "quyền đặc biệt" thì sao?


NHỮNG ĐIỂM CHÍNH


1. Thiên Hướng Tình Dục là từ dùng để chỉ sự hấp dẫn về tình cảm, sự lãng mạn, trìu mến và hấp dẫn về tình dục của một người đối với những người cùng giới, khác giới hay đối với cả hai. Một người bị hấp dẫn bởi những người khác giới được gọi là heterosexual (người có thiên hướng tình dục với người khác giới) Một người bị hấp dẫn bởi những người cùng giới được gọi là người homosexual (đồng tính luyến ái) hay gay (đồng tình nam) hay lesbian (đồng tính nữ). Người bị hấp dẫn bởi cả hai giới được gọi là bisexual (ái nam ái nữ).Từ thiên hướng tình dục đượcưa chuộng hơn từ sở thích tình dục, vì sở thích tình dục có ý rằng sự hấp dẫn tình dục là vấn đề của sự lựa chọn.


2. Vào những năm 1940 và 1950, Alfred Kinsey và các đồng nghiệp của ông đã đưa ra khái niệm rằng thiên hướng tình dục tồn tại dọc một thể liên tục. Chúng ta cũng cần phân biệt giữa thiên hướng tình dục với hành vi tình dục. Một người có thể có hoặc có thể không lựa chọn việc thể hiện thiên hướng tình dục của mình. Theo ước tính hiện tại thì có khoảng 4% nam giới và từ 1% đến 2% phụ nữ ở Mỹ là những người hoàn toàn đồng tính luyến ái.


3. Không ai biết chính xác đâu là các nguyên nhân gây ra hiện tượng đồng tính luyến ái. Đến nay, những cố gắng nhằm xác định cụ thể các nguyên nhân về mặt sinh học, tâm lý học và xã hội vẫn chưa mang lại kết quả. Rất có khả năng, nguyên nhân của đồng tính luyến ái là do những tương tác phức tạp của các nhân tố như sinh học, tâm lý học và xã hội. Quan điểm này được biết đến dưới tên học thuyết tương tác về đồng tính luyến ái.


4. Cộng đồng các bác sĩ chăm sóc sức khỏe tinh thần, những người bị ảnh hưởng bởi học thuyết của Freud, quan niệm một cách truyền thống cho rằng đồng tính luyến ái là một căn bệnh rối loạn tinh thần. Tuy nhiên, cùng với những bằng chứng ra tăng cho thấy điều ngược lại và thái độ thoải mái hơn về đồng tính luyến ái ở Mỹ, năm 1973, Hiệp Hội Tâm Thần Mỹ đã bỏ phiếu tán thành việc loại bỏ đồng tính luyến ái coi đó như một dạng bệnh tâm thần ra khỏi Triệu Chứng Và Sách Chỉ Dẫn Thống Kê Về Các Rối Loạn Tinh Thần (DMS). Nhiều chuyên gia về tình dục lập luận rằng không có lý do gì, ít nhất là trên lĩnh vực sức khỏe tinh thần, để phải cố gắng định hướng lại thiên hướng tình dục của người đồng tính luyến ái.


5. Nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều người đồng tính nam và đồng tính nữ có các mối quan hệ gắn bó ràng buộc, và những người đồng tính luyến ái này, giống với những người có xu hướng tình dục hướng người khác giới, đều thấy thỏa mãn với những quan hệ đó.


6. Các cặp đồng tính luyến ái có thể quyết định nuôi con. Những nhà nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ em được những người đồng tính luyến ái nuôi dưỡng không có gì khác so với trẻ em được các cặp khác nuôi dưỡng ở những điểm quan trọng như sự điều chỉnh cuộc sống chung, nhận dạng giới, vai trò về giới, và sự thông minh. Họ cũng chỉ ra rằng trẻ em được những cặp đồng tính luyến ái nuôi dưỡng không có nhiều khả năng sẽ trở thành người đồng tính luyến ái hơn những trẻ em được nuôi dưỡng bởi những cặp có thiên hướng tình dục hướng giới tính khác.


7. Đồng tính luyến ái, tình dục hướng giới tính khác và ái nam ái nữ, tất cả những thiên hướng tình dục này đều trải qua cùng các giai đoạn liên quan đến hưng phấn tình dục và phản ứng. Những người đồng tính nam và những người đồng tính nữ phản ứng với các kích thích tình dục và tham gia vào các hành vi tình dục giống với người có thiên hướng tình dục hướng tới giới khác và người ái nam ái nữ.


8. Những người đồng tính nam và nữ đã thể hiện mình là người đồng tính thường phải đối mặt với những công kích bằng lời nói, hành động và sự hành hung tình dục của những cá nhân bị ám ảnh bởi sự đồng tính. Ám ảnh đồng tính (Homophobia) là từ không những chỉ sự sợ hãi vô lý của những người sợ bị người khác coi là người đồng tính luyến ái, mà nó còn là từ chỉ sự kinh bỉ dai dẳng và căm ghét những người đồng tính luyến ái. Ám ảnh đồng tính luyến ái khiến một số người đánh những kẻ đồng tính nam hoặc chửi rủa và/hoặc đối xử tàn ác đối với những người đồng tính luyến ái hoặc cả người có thiên hướng tình dục hướng giới khác nhưng bị nhầm là người đồng tính.


9. Những người đồng tính nam và đồng tính nữ đang tích cực làm việc với tất cả các cấp xã hội để nhằm thay đổi luật pháp, chống lại sự phân biệt đối xử trong công việc, sự quấy rối tình dục, loại bỏ sự ám ảnh đồng tính và đánh những người đồng tính nam, vận động gây quỹ phòng chống AIDS, giáo dục công chúng về tình dục đồng giới và đồng tính luyến ái. Phong trào đòi quyền cho người đồng tính bắt đầu phát triển rầm rộ với cuộc nổi loạn Stonewall năm 1969. Sau cuộc bạo loạn Stonewall, những người đồng tính nam và đồng tính nữ tập hợp vào rất nhiều nhóm chẳng hạn như Lực Lượng Đặc Nhiệm Đồng Tính Nam và Nữ Quốc gia.