News‎ > ‎

Bất động sản công nghiệp: Nội, ngoại đua nhau tăng nguồn cung

đăng 20:20, 17 thg 9, 2019 bởi Nhà Đất Mua Bán
Các doanh nghiệp bất động sản công nghiệp ở Việt Nam đang tìm cách tăng nguồn cung để hưởng lợi từ việc dịch chuyển dòng vốn FDI vào khu vực sản xuất.

BW Industrial được thành lập thông qua liên doanh Becamex IDC và tập đoàn Warburg Pincus (Mỹ), hiện đang có trong tay quỹ đất 247 ha ở TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bắc Ninh, Hải Dương và Hải Phòng sau chưa đầy hai năm gia nhập thị trường.

Mặc dù vậy, ông C.K Tong, tổng giám đốc BW cho biết kế hoạch của công ty là tăng quỹ đất ít nhất gấp hai lần hiện nay trong vòng hai năm tới. Ông Tong từ chối tiết lộ các địa điểm công ty hướng đến vì có thể gây bất lợi cho việc đàm phán giá.



Các nhà kho xây theo yêu cầu là sản phẩm sẽ được BW đẩy mạnh vì được các doanh nghiệp sản xuất ưa thích do giúp tiết kiệm thời gian gia nhập thị trường và dễ mở rộng. Thương vụ hợp tác giữa BW, Best Inc. và Shopee Việt Nam mới đây là một ví dụ.

BW có lý do muốn tăng quỹ đất, vì theo dòng dịch chuyển sản xuất của khối FDI vào Việt Nam gia tăng trong thời gian qua. Theo Cục Đầu tư nước ngoài, tám tháng đầu năm tổng vốn FDI vào Việt Nam vượt 22,6 tỉ USD, bằng khoảng 93% so với cùng kỳ 2018, trong đó tổng vốn thực hiện 12 tỉ USD, tăng 6,3%.

Nhưng đáng chú ý là dòng vốn tiếp tục đổ vào lĩnh vực công nghiệp chế biến - chế tạo với 6,8 tỉ USD, chiếm đến 74,6% tổng vốn FDI cấp mới. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung thì trong tám tháng vốn FDI vào ngành sản xuất hơn 10,3 tỉ USD, chiếm xấp xỉ 79% tổng vốn FDI.

Cũng trong nửa đầu năm 2019, ở phía Bắc, đặc biệt khu vực Bắc Ninh và Bắc Giang, nhận nguồn vốn FDI tăng đến 79% và 52% so với cùng kỳ năm ngoái. Ở miền Nam, hai khu vực nhận vốn FDI tăng cao nhất là Đồng Nai và Bình Dương với tỷ lệ tăng 55% và 99%.

Theo công ty nghiên cứu thị trường Savills, với chi phí lao động thấp, ước tính chỉ bằng 48% so với Trung Quốc và 77% chi phí trung bình của khu vực ASEAN, là yếu tố khiến thị trường Việt Nam trở nên hấp dẫn các doanh nghiệp nước ngoài tìm đến đặt cứ điểm sản xuất.

Bên cạnh đó, theo ông John Campbel, chuyên gia tư vấn cao cấp dịch vụ công nghiệp của Savills, cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc cùng các hiệp định thương mại mới cũng tạo ra nhiều cơ hội hơn cho khu vực sản xuất của Việt Nam. 

Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định song phương và đa phương, giúp xóa bỏ rào cản thương mại giữa các nước thành viên, khuyến khích các doanh nghiệp thiết lập quy trình sản xuất tại Việt Nam để hưởng ưu đãi thuế khi xuất khẩu tới thị trường các nước thành viên.

Cụ thể, thị trường 500 triệu người dân và chiếm 13% GDP toàn cầu được tạo ra trong Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Ước tính CPTPP thúc đẩy thương mại mạnh mẽ giữa các nước thành viên, đưa kim ngạch xuất khẩu tăng hơn 6% đến 2030, đặc biệt với Việt Nam tăng khoảng 8% và thúc đẩy dịch chuyển trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Hiệp định Thương mại tư do Việt Nam – EU (EVFTA) với 99% dòng thuế hàng Việt Nam sang EU sẽ được gỡ bỏ hoặc hiệp định thắt chặt kinh tế giữa khối ASEAN và sáu quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương (RCEP) cũng đang được triển khai  tạo ra thị trường khổng lồ với 50% dân số thế giới.  

Theo VDSC, trong sáu tháng đầu năm doanh thu và lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp khu công nghiệp tăng trung bình từ 20-39% so với cùng kỳ năm ngoái. 

Với số lượng quỹ đất hiện nay, BW chỉ nhỉnh hơn công ty cổ phần Khoáng sản và Xây dựng Bình Dương (KSB) với 185 ha, công ty xếp chót bảng trong số 8 đơn vị có diện tích quỹ đất khu công nghiệp lớn nhất thị trường hiện nay.

Dẫn đầu quỹ đất trên toàn thị trường hiện nay theo số liệu của VDSC là tổng công ty Đầu tư và Phát triển công nghiệp (BCM) với gần 1.600 ha. Ở khu vực phía Nam, còn có IDC và PHG là hai đơn vị có quỹ đất thương phẩm lớn trên thị trường. Các nhà cung cấp này hiện là sở hữu các khách thuê lớn là các doanh nghiệp gỗ, các công ty trong lĩnh vực hậu cần - vận tải, linh kiện điện tử, cơ khí chính xác và hàng tiêu dùng.

Trong khi ở phía Bắc, hai đơn vị dẫn đầu là công ty Phát triển Kinh Bắc (KBC) và Viglacera (VLG) với diện tích thương phẩm lần lượt 953 ha và hơn 1.000 ha. Các quỹ đất hiện cát cứ ở các khu vực giao thông thuận lợi như Bắc Ninh, Hải Phòng nhắm đến nhu cầu đi thuê của các doanh nghiệp linh kiện điện tử.

Mặc dù sở hữu nhiều ví trí đắc địa cùng quỹ đất dồi dào, nhưng theo VDSC, thời gian giải phóng mặt bằng, đền bù kéo dài ở những nơi như khu công nghiệp Long Hậu 3 (LGH), khu công nghiệp Hựu Thạnh (IDC), việc điều chỉnh quy hoạch của khu công nghiệp KCN Tràng Duệ (KBC) hay các vấn đề sẵn sàng triển khai của các khu Tam Uyển 3 (NTC) và VSIP 3 (BCM) đang là các rào cản cho các doanh nghiệp nội mở rộng nguồn cung.
Comments