TIỂU SỬ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 

         An Viết Đàm sinh ngày 10 tháng  01 năm 1928 tại thôn Tam Dương, xã Khánh Dương, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, trong một gia đình có truyền thống hiếu học. Ông nội là một nhà nho, đậu Tú Tài được phong “Hà Lâm Cung Phụng”  nên thường gọi Cụ Hàn Đôi hay cụ Tú Đôi. Bà nội là con gái cụ Bá Đồng, gia đình khá giả; Cụ là người có lòng nhân hậu biết thương người nghèo, được mọi người quý trọng. Ông Bà sinh 10 người con, 5 con trai, người làm Lý trưởng, người làm Tham biện, người làm Giáo viên, ông thân sinh ra An Viết Đàm làm Chưởng ba; con gái có 5 người đều lấy chồng danh giá.

 

         Khi An Viết Đàm lên 3 tuổi thì bố mất. Nhà lại đông con (9 anh chị em) nên ông được người chú ruột là ông An Viết Chấn làm Tham biện Đoan nhận nuôi từ lúc 4 tuổi, cuộc sống phải di chuyển lúc ở Văn Lý Nam Định khi ở Hải Phòng. An Viết Đàm được chú cho đi học đến thành chung năm thứ 2. Tuy được đi học nhưng tinh thần và sinh hoạt cũng nhiều khó khăn vì sống phụ thuộc vào gia đình chú thím.

 

         Khi Nhật đảo chính Pháp, ông bỏ học về quê, đến khi Tổng khởi nghĩa năm 1945, ông là người “có học” nhất làng nên được chọn làm cán bộ thông tin tuyên truyền, đọc lời kêu gọi của Việt Minh Tổng khởi nghĩa. Sau đó ông làm cán bộ tuyên truyền xã rồi Phó Ban thông tin xã, Trưởng Ban thiếu nhi xã. Nhà nghèo nên ông vừa làm ruộng vừa tham gia công tác, cuộc sống khó khăn cực nhọc.

 

         Đến năm 1948 ông đi dự kỳ thi, được tuyển làm cán bộ Ty thông tin tỉnh Ninh Bình và điều về phòng Thông tin huyện Gia Viễn. Đầu năm 1950 ông được điều về Ban Tuyên huấn tỉnh phụ trách huyện Yên Khánh, một huyện bị Pháp chiếm đóng. Từ đó ông bắt đầu hoạt động trong địch hậu. Ban ngày nằm dưới hầm bí mật trong nhà dân, đêm lại ra hoạt động tuyên truyền vận động nhân dân, gây dựng cơ sở để chuẩn bị đánh địch. Hoạt động lúc đó rất nguy hiểm, ông bị địch bắt hụt nhiều lần. Trong một đợt Tỉnh tổ chức cuộc địch vận lớn, kêu gọi binh lính địch bỏ hàng ngũ địch về với gia đình, ông được phân công vượt sông Đáy sang huyện Ý Yên (Nam Định ) để phối hợp công tác, nhưng chưa kịp sang thì bị bọn Vệ sỹ ở Phúc Nhạc (Yên Khánh) bắt, trong người có nhiều tài liệu chưa kịp tiêu huỷ. Lúc ấy bọn Vệ sỹ ở Phúc Nhạc hễ bắt được cán bộ của ta, chúng không xét xử gì, đem luôn ra cầu Khang Thượng (Yên Khánh) bắn chết và hất xác xuống sông. Bà con ở cách cầu Khang Thượng chừng 4 km, cứ nghe tiếng súng ở cầu Khang Thượng là ra sông đón vớt xác cán bộ về chôn cất. Hôm ấy bắt được An Viết Đàm, hai tên vệ sỹ chói ngoặt tay ra sau và giải đến cầu để bắn. Có lẽ chúng đang say rượu nên trói không chặt - lợi dụng thời cơ ấy khi đi đường ông đã gỡ được tay ra nhưng vẫn giữ dây như bị trói. Đến cầu đằng nào cũng chết, ông vùng ra lao đầu vào bụng một thằng rồi đạp một thằng ngã ngửa người ra, lao xuống sông ngụp lặn, hai tên vệ sỹ vùng dậy bắn theo. Ông bị trúng đạn vào chân nhưng vẫn gắng bơi đi. Địch cho là ông chết rồi không rượt theo nữa, khi ông bơi gần đến nơi bà con thường đến vớt xác thì máu ra nhiều quá nên bị ngất. Thấy còn sống bà con đã đem về cứu chữa, lành vết thương ông trở lại tiếp tục hoạt động.

 

         Năm 1952 ông vào quân đội, tham gia đi chiến dịch Thượng Lào (1953) rồi tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) và bị thương nhiều lần.

 

         Sau khi hoà bình lập lại, đến năm 1956 ông được chuyển ngành về Ty Thông tin Ninh Bình, làm trưởng phòng Văn nghệ, được trưng dụng đi tham gia cải cách ruộng đất. Thời kỳ này ông đã viết vở kịch dài đầu tay “Nông Dân Vùng lên” và đoàn Văn công Quân khu III dàn dựng phục vụ giảm tô, cải cách ruộng đất được nhân dân hoan nghênh.

 

         Khi sửa sai cải cách ruộng đất, Tỉnh phân công ông làm đội trưởng đội sửa sai trọng điểm của Tỉnh tại xã Gia Tân (huyện Gia Viễn) là một xã bị sai lầm vào loại nặng nhất Tỉnh, cả Chủ tịch, Bí thư xã đều bị oan. Những gia đình có chồng, con bị bắn oan họ kéo nhau đến đốt nhà, hỏi tội cán bộ… ông phải xử sự rất khéo léo, bình tĩnh thuyết phục… mới dần ổn định được tình hình. Điều vinh dự cho ông là trong vòng hơn một năm sửa sai, cứ hàng tháng ông lại được cùng đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ lên họp ở Trung ương. Tất cả các cuộc họp ấy đều do Bác Hồ và đồng chí Trường Chinh chủ trì. Ông được gặp Bác Hồ liên tục, được nói chuyện với Bác, được Bác hỏi thăm sức khoẻ. Có lần họp vào đúng dịp tết dương lịch, Bác mời cả Hội nghị vào phủ Chủ tịch cùng ăn tết với Bác và Trung Ương Đảng. Đây là thời gian ông thấy vịnh dự nhất đời và cũng tiếp thu học tập được nhiều điều bổ ích trong công tác và cuộc sống.

 

         Sau sửa sai, ông lại về công tác tại Ty Văn hoá, thời gian này ông trực tiếp tuyển và thành lập đoàn Văn công của Tỉnh lấy tên đoàn “Sông Vân”, Đoàn hoạt động tốt để lại nhiều ấn tượng trong lòng nhân dân. Thời gian này ông viết vở chèo “Nàng Tiên bên núi Thuý” được tham dự hội diễn chuyên nghiệp chèo toàn quốc năm 1962, được thưởng Huy chương Bạc. Vở diễn đã để lại nhiều ấn tượng trong nhân dân và đến năm 2004 đoàn chèo Hà Nội dựng lại, trước đó đoàn chèo Kiến An đã dựng.

 

         Năm 1960 ông được Tỉnh đề bạt Phó Trưởng Ty Văn hoá tỉnh, góp nhiều công sức xây dựng ngành Văn hoá Ninh Bình. Năm 1966 ông được Tỉnh điều về huyện Gia Viễn làm Phó Bí Thư thường trực Huyện uỷ, Trưởng phòng Tổ chức Huyện uỷ. Thời gian này ông được cử đi học lớp bồi dưỡng chính sách ở Trung ương, giữa lúc địch đang bắn phá ác liệt miền Bắc. Một hôm ông đang nghe đồng chí Lê Duẩn - Tổng Bí thư giảng bài “Chủ nghĩa Mác và kinh tế Việt Nam” thì Bác đến thăm, lại một lần nữa ông được gặp Bác, nghe Bác nói chuyện và là lần cuối cùng ông được gặp Bác.

 

         Năm 1969 ông được bầu làm Phó Bí thư, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Gia Viễn, giữa lúc Mỹ đánh phá Miền Bắc rất ác liệt. Huyện Gia Viễn có khoảng 6 km quốc lộ 1 đi qua, có hai cầu Gián và cầu Khuốt, địch đánh phá hai cầu này liên tục để chặn đường tiếp viện vào miền Nam của ta. Cứ sau mỗi lần địch đánh, ông lại phải đến ngay hiện trường để chỉ huy dân quân hàn vá, sửa chữa cầu đường để thông xe. Nhiều lần bị địch đánh trở lại xuýt chết. Có một lần ông vừa kiểm tra trên cầu Gián, xuống đến chân cầu thì một quả bom nổ chậm nổ, hất ngã xuống sông.

 

         Huyện Gia Viến có hơn 60 km đê, đặc biệt là tuyến đê Hoàng Long và đê Đáy. Năm nào cũng bị lũ sông Bôi Hoà Bình đổ về đe doạ, thường xuyên phải chỉ huy đông dân công đắp đê. Đến mùa lũ, bão Chủ tịch phải liên tục ở trên đê, có nhiều đêm thức trắng, rất vất vả, nguy hiểm. Năm 1971 sau một trận bão lớn lũ đổ về đe doạ toàn tuyến đê Gia Viễn. Quãng đê ở từng hốc Gia Viễn bị rạn nứt sắp vỡ, dân công đã bỏ chạy toán loạn; ông đứng ngay trên chỗ nứt sắp vỡ kêu gọi mọi người quay lại cứu đê. Thấy vị Chủ tịch còn đứng đó họ quay lại ngay. Ông đã chỉ đạo đào đất, chặt cây trong những vườn gần để kịp thời cứu đê không bị vỡ. Trong lúc nhân dân huyện nhà phấn khởi vì quãng đê không vỡ cứu được nhà cửa, mùa màng thì ông phải đem đường, sữa đến đến thăm và xin lỗi những gia đình bị thiệt hại do hôm trước dân công đã chặt cây, đào đất vườn nhà dân để cứu đê. Một bà mẹ liệt sỹ đã ôm lấy ông khóc và nói : “Nếu dân công không làm thế, đê vỡ nhà mẹ cũng trôi hết rồi”. Sau trận chống bão lũ ấy ông được tặng Huân Chương Lao động Hạng ba.

 

         Năm 1972 Tỉnh điều ông về làm trưởng Ty Thuỷ nông rồi mấy tháng sau lại điều về làm Bí thư Thị uỷ thị xã Ninh Bình, một thị xã đang bị máy bay địch đánh phá tan tành; ngày nào ít ra cũng một vài trận, có ngày đánh tới mười trận vì đây là nơi trung chuyển hàng hoá vũ khí vào Nam. Nhân dân sơ tán đi khắp nơi, trận địa pháo chăng kín thị xã.

 

         Sau Hiệp định Pari, nhân dân trở về bắt tay xây dựng lại thị xã Ninh Bình. Ông kể rằng có một lần đồng chí Đỗ Mười lúc đó đang là Thủ Tướng về thăm, Thủ tướng nói “Đàm ơi! người ta đang thành thị hóa nông thôn thì cậu lại đang nông thôn hoá thành thị, thị xã đếch gì toàn là tranh”. Dân mới sơ tán về làm gì có tiền xây nhà; ông đem câu nói có vẻ khích tướng ấy về báo cáo với Ban Chấp hành và sau đó họp toàn  Đảng bộ thảo luận, bàn biện pháp phát động toàn dân “2 năm ngói hoá toàn bộ thị xã”. Chủ chương này được toàn dân hưởng ứng và cũng có điều kiện thực hiện, vì lúc đó có nhà máy điện được xây dựng ở núi Cánh Diều, hàng ngày có hàng chục tấn than qua lửa được đẩy ra, nhân dân lấy than qua lửa đốt vôi rồi làm gạch bi xây nhà … quả là chỉ vài năm sau thị xã đã thanh toán được tình trạng nhà tranh.

 

         Năm 1976 hợp nhất 3 tỉnh, Ninh Bình Hà Nam, Nam Định thành tỉnh Hà Nam Ninh, ông về làm Phó Giám đốc Sở Văn hoá thông tin Hà Nam Ninh. Là người say mê hoạt động nghệ thuật nên khi được điều về cái nghề yêu thích ông có điều kiện nhiều hơn để sáng tác, viết kịch bản; đưa đoàn nghệ thuật của tỉnh đi biểu diễn ở nhiều tỉnh thành trong cả nước. Kể cả những năm làm Chủ tịch huyện, Bí thư thị xã ông vẫn viết kịch, đoàn chèo Sông Vân đã dựng những vở chèo “Những người chiến thắng”, “Chuyện đôi ngan “ và nhiều vở ngắn khác. Những năm sau 1975 ông viết những vở kịch “Bài báo chức năng” được giải nhì cuộc thi kịch bản Sân khấu toàn quốc, được nhiều đoàn dàn dựng. Đặc biệt vở chèo “Những người nói thật ” được huy Chương Vàng hội diễn nghệ thuật toàn Quốc năm 1985 và nhiều đoàn dàn dựng. Vở chèo rối dài “Hoàng Đế cờ lau” được huy Chương Vàng ở hội diễn múa rối chuyên nghiệp toàn quốc; các vở “Hương bưởi ”, “Tiếng sáo quê hương”, “Tống Trân Cúc Hoa ”… và nhiều vở ngắn khác cũng từng đạt giải.

 

         Năm 1979 ông được Bộ Văn Hoá đưa đi làm chuyên gia ở Campuchia ngay sau khi Campuchia được giải phóng khỏi hoạ Pôn Pốt. Ông biết tiếng Pháp lại nhiệt tình, quan hệ tốt với bạn nên được cử làm chuyên gia Tuyên  huấn của thành phố Pnôm - Pênh đến năm 1981 mới trở về Sở Văn hóa Thông tin Hà Nam Ninh tiếp tục giữ cương vị Phó Giám đốc.

 

         Ông đã viết một số vở dài như “Những ngày nóng bỏng” (Kịch viết về Bác Hồ), “Một người bình thường” (Kịch dài), “Những tấm lòng” (kịch dài), “Tiếng hát người nghệ sỹ” (Cải lương, viết chung ) và nhiều vở ngắn, có vở “Hoa đồng nội” dự Hội diễn chèo không chuyên toàn quốc đạt Huy chương Vàng…

 

         Năm 60 tuổi (1988) ông nghỉ hưu, từ chối mọi bổng lộc, quan trường kể cả đất được cấp làm nhà ở ngay trung tâm thị xã để về quê. Vốn yêu quê hương và quen việc từ nhỏ nên ông không thể nghỉ ngơi, lại cùng vợ cày cấy ruộng đồng, lại tham gia Thường trực Mặt trận Tổ quốc xã, Chủ tịch Hội Bảo thọ (người cao tuổi) Chủ nhiệm Câu lạc bộ hưu trí… lại viết câu đối cho các đám hiếu phục vụ bà con trong xã gần xa; đồng thời ông vẫn sáng tác và cộng tác viết bài cho nhiều báo, đài.

 

         Ông rất yêu thương, tự hào về gia đình hạnh phúc của mình. Bà Nguyễn Thị Do - người vợ chung thủy, đảm đang đã gánh vác mọi việc vất vả gia đình, chăm lo nuôi dưỡng, dạy dỗ các con và là hậu cứ vững chắc giúp ông yên tâm công tác. Cả bốn người con: trai, gái tiếp nhau nối chí truyền thống gia đình đều trưởng thành là bác sĩ, kỹ sư, giáo viên công tác phục vụ xây dựng đất nước.

 

         Năm 1994 ông lại tham gia BCH Hội Văn học nghệ thuật Ninh Bình, vừa hoạt động Hội, vừa tiếp tục sáng tác; viết bài cho các báo và tạp chí, viết truyện ngắn, làm thơ, nhưng tập trung chủ yếu là viết kịch. Thời gian này ông viết vở chèo dài “Trái tim người con gái” được đoàn chèo Tổng Cục Hậu cần và Đoàn Bắc Thái dựng biểu diễn; vở kịch dài “Liệt nữ trời Nam”. Vở “Ngôi nhà trái phép” được giải xuất sắc nhất trong vở diễn chèo không chuyên toàn quốc, gây ấn tượng tốt trong nhân dân; hoạt kịch “Lễ đăng quang Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế” được đoàn nghệ thuật Ninh Bình dàn dựng và biểu diễn thường xuyên ở Lễ hội Hoa Lư hàng năm, được đài Truyền hình Việt Nam thu. Ngoài ra còn viết hàng trăm vở kịch ngắn truyền thanh cho Đài phát thanh truyền hình tỉnh và Đài tiếng nói Việt Nam.

 

         Tới năm 2002 khi tuổi cao, sức khỏe yếu ông mới chuyển về Hà Nội ở cùng với các con. Năm ấy bà – người vợ đảm đã gắn bó suốt cuộc đời với ông ra đi về cõi vĩnh hằng, một sự hẫng hụt trong đời sống, nhưng được các con trai, gái, dâu, rể, các cháu phụng dưỡng đã giúp ông nguôi ngoai, giữ gìn được sức khoẻ và tiếp tục sáng tác không phút nghỉ ngơi. Mặc dầu đã gần tám mươi tuổi ông vẫn viết nhiều: viết báo, viết sách (nghiên cứu sưu tầm), viết kịch. Ông đã viết nhiều vở kịch dài: “Lỗi lầm” (kịch dài), “Truyện nhà ông Vụ Trưởng” (kịch dài ), “Đất bằng nổi sóng” (chèo dài), chèo dài “Chuyện tình người và đất” viết chung với Ngọc Cương, vở chèo dân gian “Viên ngọc thần kỳ” và hai vở kịch dài “Những con rắn độc ” và “Nghịch lý cuộc đời”. Đặc biệt có hai vở chèo: “Trương Hán Siêu” và “Hoa đồng nội” được đoàn Ninh Bình và Hà Nam dựng dự hội diễn chèo chuyên nghiệp toàn quốc năm 2005 được đánh giá tốt.

 

         Ông viết nhiều vở ngắn cho Đài truyền thanh trung bình mỗi tháng 2 vở trong đó có vở “Tham bát bỏ mâm” được giải nhất cuộc thi kịch bản ngắn do đài phát thanh Truyền hình Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tổ chức năm 2005 – sau đó ông chuyển thể sang chèo lại được huy chương Vàng tại Hội diễn chèo không chuyên toàn quốc năm 2006.

 

         Đến nay sức tuy đã yếu nhưng ông vẫn tiếp tục viết không nghỉ ngơi, như là cái nghiệp không thể bỏ được.

 

*                       *

*

 

         50 năm sáng tác văn học nghệ thuật, từ khi viết vở kịch đầu tay, đến nay ông đã viết khoảng 50 vở kịch chèo dài và hàng trăm vở kịch ngắn – những vở dài chính hầu hết đã được các đoàn chuyên nghiệp dàn dựng và biểu diễn.

 

Những tác phẩm chính:

- Nông dân vùng lên (kịch).

- Nàng tiên bên núi Thuý (chèo).

- Những người chiến thắng (chèo).

- Chuyện đôi ngan (chèo).

- Hương bưởi (chèo).

- Hoàng Đế cờ lau (rối chèo).

- Giá đời phải trả (Cải lương viết chung).

- Những người nói thật (chèo).

- Bài báo chưa đăng (kịch).

- Một người bình thường (kịch).

- Những tấm lòng (kịch).

- Tống Trân Cúc Hoa (chèo).

- Tiếng sáo quê hương (chèo).

- Nước mắt cá sấu (rối chèo).

- Trái tim người con gái (chèo).

- Đất bằng nổi sóng (chèo).

- Những ngày nóng bỏng (kịch viết về Bác Hồ).

- Liệt nữ trời Nam (kịch).

- Trương Hán Siêu (chèo).

- Hoa đồng nội (chèo).

- Chuyện nhà ông Vụ Trưởng (kịch).

- Lỗi lầm (kịch).

- Những con rắn độc (kịch).

- Chuyện tình người và đất (chèo – viết chung).

- Nghịch lý cuộc đời (kịch).

- Viên ngọc thần kỳ (chèo).

- Lộng hành (kịch).

v. v …

 

Hàng trăm vở kịch ngắn, một số vở gây ấn tượng nhất:

- Anh đội Trưởng (kịch).

- Hương đồng nội (chèo).

- Ngôi nhà trái phép (kịch – chèo).

- Tham bát bỏ mân (kịch – chèo).

- Lễ đăng quang Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế .

- Chuyện con người Liệt sỹ.

v. v …

 

Truyện ngắn (trên 10 truyện) nhưng có 2 truyện được in nhiều lần:

- Tình yêu là như thế.

- Đêm giao thừa.

 

Sách đã xuất bản: 

- Những người nói thật (In bốn vở kịch chèo Hoa Trang)

- Bài báo chưa đăng (in vở kịch).

- Truyện hai nàng công chúa.

- Nàng tiên cá.

- Truyền thuyết Hoa Lư (in chung hai tác giả).

- Huyền thoại Thần Phù (in chung hai tác giả).

- Làm ăn đổi mới (thơ).

- Gia Viễn lịch sử và văn hoá (nhiều tác giả, AVĐ là chủ).

- Tập kịch ngắn.

 

Ông đã có hàng trăm bài báo in ở các báo, tạp chí Trung ương và địa phương.

 

Quá trình công tác, cống hiến ông đã được tặng thưởng:

- Huy chương kháng chiến Hạng Nhất.

- Huân chương kháng chiến Hạng Nhất.

- Huân chương lao động Hạng Ba.

- Huân chương Hữu nghị Campuchia.

- Huy chương vì sự nghiệp Văn hoá.

- Huy chương vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật.

- Huy chương vì sự nghiệp Tư tưởng và văn hoá.

- Kỷ niệm chương vì sự nghiệp đoàn kết dân tộc.

- Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

- Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

- Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

- Bằng khen của Tổng cục Hậu cần.

- Băng khen của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

- Nhiều bằng khen của Bộ Văn hoá và Uỷ ban nhân dân tỉnh.

- 2 huy chương Vàng Hội diễn nghệ thuật chuyên nghiệp.

- 1 huy chương Bạc Hội diễn chuyên nghiệp toàn quốc.

- Nhiều huy chương Vàng Hội diễn nghệ thuật không chuyên toàn  quốc.

- Giải nhì cuộc thi kịch bản Sân khấu toàn quốc.

- Giải nhì cuộc thi viết kịch ngắn của Trung ương Đoàn thanh niên Việt Nam.

- Hai lần giải A – B Nguyễn Khuyến của Hà Nam Ninh.

- Hai lần giải A – B giải Trương Hán Siêu của Ninh Bình.

- Nhiều giải thưởng khác …

 

*                       *

*

 

         Chuyện cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn học nghệ thuật của ông, ông đưa ra một bài thơ tự sự, như là đúc kết đời mình:

 

         Ra đi từ thưở còn thơ bé

         Lúc lớn khôn lại trở về làng

         Cũng một thời tay sách vai mang

         Cũng cày cấy mùa màng thu hái.

         Rồi lại ra đi hơn bốn chục năm trời mê mải

         Đến khắp nơi Đảng gọi, dân cần

         Ưu có nhiều nhưng khuyết kia chẳng thiếu

         Tránh khỏi sao những vụng yếu trong đời.

         Nay về hưu cũng có lúc thảnh thơi

         Ngồi nghĩ lại quãng đời trai trẻ

         Nghe lời Đảng sống cuộc đời “Sạch sẽ”

         Chẳng tham lam, không vào bé ra to.

         Ngẩng cao đầu, không luồn cúi, giương ô

         Chỉ sống bằng chính sức gột nên hồ của bàn tay khối óc

         Tuy chẳng nghèo nhưng cũng chẳng có

         Chẳng có cơ ngơi như bao vị khác cùng thời.

         Lúc về hưu cũng hai bàn tay trắng như ai

         Về quê cũ vẫn phải làm thêm, dẫu chẳng còn đâu sức dài vai rộng

         Có người bảo: không thức thời là ngu là vụng

         Dại thì nghèo còn oan uổng nỗi chi.

         Không! Rất vui vẻ tự hào đâu có oán thán gì

         Lòng thanh thản sống giữa làng quê thân thiết

         Không hề nghĩ rằng mình thua thiệt

         Vẫn giữ tròn khí tiết buổi tuần sơ.

         Ai dại ai khôn xin hãy đợi chờ

         Đời sẽ phán xét khi nước cờ lâm thế

         Chỉ biết sống như bấy nay là thú vị

         Bởi hạnh phúc con người đâu phải kể giầu sang

         Còn bao điều quý hơn bạc, hơn vàng

         Đấy chính là cuộc đời tươi vui mình đang sống.

 

                                    *                       *

                                                *

 

         Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn học nghệ thuật của ông đã chảy theo dòng lịch sử vĩ đại của dân tộc, cổ vũ lớp lớp thế hệ bền bỉ đấu tranh và xây dựng đất nước. Đến hôm nay bước vào ngưỡng tuổi 80 ông để lại khối tác phẩm đồ sộ là công sức lao động nghệ thuật gian khổ không mệt mỏi suốt nửa thế kỷ qua. Giá trị tư tưởng, nhân văn trong các tác phẩm của ông, trong từng lời thoại nhân vật là to lớn, vô cùng phong phú, làm giàu thêm kho tàng bản sắc văn hóa Việt Nam. Đó là tài sản vô giá ông để lại cho đời, cho quê hương đất nước và mãi mãi lưu truyền hậu thế.

 

         Được truyền ngọn lửa từ tư tưởng, nhân cách lớn của ông, trang web mang tên nhà soạn kịch An Viết Đàm là nghĩa cử của lớp hậu duệ kính dâng chúc thọ 79 năm ngày sinh nhà soạn kịch An Viết Đàm; góp phần truyền tải các tác phẩm – nghệ thuật chèo Việt Nam đến đông đảo bạn đọc trên toàn thế giới.