Di tích - Địa danh

1. Tượng đài Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân
Trong số những sĩ phu yêu nước trong tỉnh đứng ra chiêu mộ nghĩa quân khởi nghĩa trong thời kỳ Pháp chiếm Mỹ Tho và tỉnh Định Tường thì tiêu biểu và ảnh hưởng nhiều nhất đến nhân dân thành phố Mỹ Tho là Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975, Đảng bộ và nhân dân thành phố Mỹ Tho dựng tượng Thủ Khoa Huân tại ngã ba Vàm Sông Tiền - Bảo Định. Tượng nặng 80 tấn, cao 11 mét, được nghệ sĩ điêu khắc Nguyễn Hải sáng tác trên chất liệu đá hoa cương.



2. Tượng Đài Tết Mậu Thân
Là công trình kiến trúc lịch sử, văn hóa trong quần thể công viên giếng nước (phía đường Ấp Bắc - Tết Mậu Thân). Tượng cao gần 13 mét với phối trúc không gian ba chiều, khắc ghi hình ảnh các chiến sĩ biệt động nội thành, bộ đội giải phóng quân tiến công đánh chiếm thành phố Mỹ Tho trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân năm 1968.




3. Nhà Bia ghi danh liệt sĩ
Trong quần thể kiến trúc của công viên giếng nước, đối diện tượng Đài Tết Mậu Thân là Nhà bia ghi danh 1.442 người con của thành phố đã ngã xuống trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ. Đây là công trình văn hóa - chính trị có ý nghĩa giáo dục truyền thống "uống nước nhớ nguồn" cho mai sau.







4. Bia lưu niệm căn cứ Thành ủy Mỹ Tho

Được dựng tại ấp 3A - xã Đạo Thạnh, nơi đây trong kháng chiến chống Mỹ, Thành ủy đã bám trụ xây dựng cơ sở chỉ đạo các lực lượng vũ trang "bám thắt lưng địch mà đánh" và cũng chính tại nơi đây, các vị lãnh đạo cách mạng khu 8, Trung ương Cục lưu lại chỉ đạo các chiến dịch có ý nghĩa bước ngoặt về quân sự. Đặc biệt trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nơi đây là xuất phát điểm tiến công giải phóng thành phố Mỹ Tho.





5. Bia lưu niệm căn cứ Thành Đội Mỹ Tho


Được xây dựng tại ấp 5 - xã Đạo Thạnh, Ban chỉ huy Thành Đội Mỹ Tho xây dựng căn cứ "trong lòng dân" được nhân dân đùm bọc, che chở và đã lập nên những chiến công vang dội, góp phần xây dựng đội du kích xã Đạo Thạnh và quân dân thành phố Mỹ Tho được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Khu du lịch Thới Sơn


Từ thành phố Mỹ Tho, chỉ cần 45 phút trên sông , du khách đã có thể đến một cù lao rộng 1.100ha mang tên Thới Sơn. Khách đến Thới Sơn có thể xuống đò chèo xuôi theo những con rạch ngoằn ngoèo giữa hai hàng dừa nước, thủy liễu ven sông luôn nghiêng mình đón chào. Hay tản bộ dưới những tán cây xanh um, mát rượi, tự tay hái trái ngon, thưởng thức món ăn đậm đà chất Nam bộ và ngắm một đêm Thới Sơn thanh bình, huyền diệu với trăng sao soi mình trên sóng nước lung linh, cùng bạn bè ngồi đối ẩm, lắng nghe giọng ca ngọt ngào của các cô thôn nữ qua các điệu đàn điêu luyện của các nghệ nhân đờn ca tài tử

Cù lao Thới Sơn thuộc TP. Mỹ Tho, Tiền Giang là điểm du lịch sông nước nổi tiếng ở đồng bằng sông Cửu Long. Du khách có thể thăm những vườn cây trái trĩu quả, trại nuôi o­ng, lò kẹo dừa... đặc trưng của người Nam Bộ.

Cù lao Thới Sơn thuộc Tp. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, như một hòn đảo giữa sông Tiền với diện tích 1.200 ha.

Đây là điểm đến trong tour Hà Nội - TPHCM - Mỹ Tho - Bến Tre - Cần Thơ - Châu Đốc - Hà Tiên 

Giữa cù lao là những kênh rạch chằng chịt.

Nhiều du khách trong và ngoài nước thích ngồi trên ghe, len lỏi giữa rừng dừa nước xanh mát.


Trên cù lao Thới Sơn, du khách còn được thăm những lò làm bánh tráng của người dân...

..hay tập làm kẹo dừa tại những lò sản xuất kẹo dừa.


Chợ nổi Cái Bè


Chợ nổi Cái Bè xuất hiện trong sự hình thành một thị trấn nhỏ bên dòng sông Tiền lộng gió. Đến vàm Cái bè, trên một khúc sông rộng, du khách sẽ được tận mắt nhìn thấy cảnh buôn bán tấp nập. Hàng ngày, có khoảng 400 đến 500 thuyền đầy ắp các loại trái cây neo dọc hai bên sông chờ thương lái đến cất hàng. Ghe xuồng như mắc cửi, tiếng nói cười rộn rã, huyên náo - cái huyên náo không dễ lẫn mà chỉ riêng miền sông nước Cửu Long mới có, mang một nét quyến rũ đặc biệt. Nằm về phía hữu ngạn chợ nổi Cái Bè là cù lao Tân Phong, xưa là Cồn Cù, thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ, được hợp thành bởi 6 hòn đảo xinh xắn có tổng diện tích 2.430ha. Tân Phong như hòn ngọc xanh giữa dòng sông Tiền trĩu nặng phù sa, nổi tiếng với những vườn chôm chôm quả to và ngọt. Đây còn là hình ảnh thu nhỏ của miền Tây Nam bộ hấp dẫn du khách đến với văn minh miệt vườn.

Khu du lịch biển Tân Thành


Từ thành phố Mỹ Tho đi thêm 50km theo quốc lộ 50, du khách sẽ đến biển . Khu du lịch biển Tân Thành, thuộc huyện Gò Công Đông. Nơi đây có bãi cát dài 7km, nhìn ra biển là khu du lịch Cồn Ngang cách bờ khoảng 1 giờ đi đò máy. Cồn Ngang có hình vòng cung với hai đầu là hai bãi cát lớn, hiện đang được đầu tư trở thành khu du lịch với nhiều dịch vụ: nghỉ biển, tắm nắng, thể thao trên nước,...

Trại rắn Đồng Tâm

Trại rắn Đồng Tâm
Cách Mỹ Tho 12km là trại rắn Đồng Tâm - một trung tâm nuôi rắn lấy nọc xuất khẩu, kết hợp trồng nhiều loại cây dược liệu và nghiên cứu điều trị rắn cắn cho nhân dân vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh đó, nơi đây còn là một khu vườn thật đẹp - tổ ấm cho đủ các loại chim và động vật quý tại Nam bộ.

Vùng Đồng Tháp Mười

Nông trường khóm Tân Lập ở vùng Đồng Tháp Mười chính là thành quả lao động của những người nông dân cần mẫn trên mãnh đất chua phèn. Đến đây, du khách sẽ được hưởng hương vị đậm đà của sản vật Đồng Tháp Mười, thấy cảnh hoang sơ của những cánh rừng - địa danh đã đi vào lịch sử Việt Nam qua bao cuộc đấu tranh giữ nước.

Những làng nghề

Nghề làm mắm tôm chà ở Gò Công: được mệnh danh là món Tứ Cung, một trong 52 món cung đình được chúa Nguyễn chuyên dùng. Món này được làm từ tôm bạc nghệ xay nhuyễn, ướp gia vị rồi phới nắng, mang một hương vị đặc trưng của quê biển Gò Công.
Làng nghề thủ công mỹ nghệ: chủ yếu là nghề đóng tủ thờ ở Gò Công, được làm bằng gổ quý, trãi qua 3 công đoạn chính: khắc, lộng, chạm trổ. Nghề này đòi hỏi tay nghề cao, khéo léo của những người thợ trong từng đường cưa mũi đục. Sản phẩm mang trong mình cả một niềm tâm huyết và giá trị nghệ thuật độc đáo 

BỐN CÙ LAO 
“LONG LÂN QUI PHỤNG”

  

Vào những năm đầu 1910, vùng sông cửa Tiểu và cửa Đại nầy, giữa hai bên bờ Mỹ Tho và Bến Tre chỉ có hai cù lao (cồn) mà thôi. Đó là cồn Thới Sơn (sau có người gọi là Lân) và cồn Rồng (sau có người gọi là Long). Trong khi đó cồn Nổi (cồn Phụng) mới hình thành. Riềng về cồn Cát (cồn Qui) mãi đến những năm 1950 mới nổi lên.

Đia danh chỉ bốn cồn “Long, Lân, Qui, Phụng” nói ra đây để cho dễ nhận  thôi. Thật sự là thời nầy chưa có đủ bốn cồn như đã nói, còn hai cồn có trước đó cũng không mang tên cồn Lân mà là cồn Thới Sơn và cồn kia là cồn Rồng chớ chưa có tên Long. Vậy “Long, Lân, Qui,Phụng” từ đâu mà có?

Vào những năm đầu của thập niên 1950, ông Nguyễn Thành Nam, một cư dân xã Phước Thạnh, Bến Tre, du học Pháp, có bằng cử nhân Hóa, dân gian gọi là “Đạo Dừa” chiếm cồn Nổi sau nầy ông đặt tên là cồn Phụng, để xây dựng thành một nơi hành đạo cho một giáo phái mà ông sáng tạo.

Ông nầy lại lấy hứng từ cồn Rồng bên phía Mỹ Tho đổi ra thành Long, cũng như từ cồn Cát mới thành hình, về hướng đông của cồn Phụng, mới nhô lên nên chỉ trông thấy khi nước ròng sát, trông giống như con rùa để ông đặt tên là Qui. Cũng từ đà cảm hứng đó ông đặt cho cồn Thới sơn là Lân để hoàn tất việc đặt cho bốn cù lao với bốn tên trong tứ linh: Long, Lân, Qui, Phụng.

Vậy các hướng dẫn viên du lịch khi thuyết trình với du khách, bảo là ông bà ta đặt tên như vậy là bóp méo lịch sử về mặt thời gian. Chúng ta sẽ thảo luận sau về “Cồn Phụng với ông Đạo Dừa”.

Vậy thủy trình qua lại hai bên cầu bắc Rạch Miễu thoạt đầu chỉ tránh hai cồn Thới Sơn và cồn Rồng mà thôi, về sau vì có sự hình thành hai cồn mới nên đường bắc chạy có phần quanh co hơn và nhiều nguy hiểm hơn.

 

LE LE và NGỔNG THẦN

Vào mùa gió chướng từ tháng giêng đến tháng ba âm lịch, khi con nước ròng sát, sóng to từ hạ nguồn cửa Tiểu và cửa Đại dâng lên khiến cho bắc từ Mỹ Tho qua, đến đoạn nầy vô cùng nguy hiểm. Người lái bắc phải cho bắc chạy thật xa xuống mạn xuôi tức là hướng đông, để tránh sóng lưỡi búa cao hằng hai ba mét, và chờ cho đến đoạn tương đối êm, mới dám lái bắc rẻ sang để xuôi sóng về bến.

Giữa cảnh sóng to gió lớn như vậy, vẫn có một cảnh tượng làm cho khách sang sông có được những phút thư giản. Đó là cảnh hàng ngàn con le le từ ngoài biển theo gió chướng bay về vùng nước nầy, nhởn nhơ vùng vẩy trên ngọn sóng bạc đầu để tìm thức ăn. Khi có một tiếng động nào đó, chúng đồng loạt bay lên đảo một vòng rồi lại đáp xuống trên ngọn sóng ba đào.

Thuở ấy, chúng tôi thường kháo với nhau là trong những lúc sóng to gió lớn như vậy, nơi khúc sông nầy có một đôi ngổng trắng thần, bay lượn đùa giỡn với ngọn sóng, dưới ánh nắng chói chang của mặt trời đứng bóng. Huyền thoại nầy vô hình chung càng ghi đậm trong tâm hồn trẻ thơ của chúng tôi, một niềm tôn thờ vào con sông thiêng liêng thêm phần mãnh liệt.

Trên những chuyến bắc đầy sóng gió nầy, xe cộ đều được cột ràng lại,  sợ sóng đánh, bắc nghiêng sẽ kéo xe đổ theo. Mỗi lần bắc hứng một lượn sóng lớn, mũi bắc như chúi xuống để nước ập vào như thác đổ, trút lên mình hành khách và xe cộ, khiến cho tất cả đều ướt sủng nước sông. Trên boong bắc nước do sóng đánh vào, chảy thoát ra sông theo các lổ thông dọc theo hai bên hông.

Cảm giác của khách đi bắc trong một chuyến qua sông đầy sóng gió như vậy, giờ đây để lại trong tôi không phải những cảm giác sợ hãi nữa, mà là những kỷ niệm đầy xúc động, nghĩ rằng mình chỉ lo sợ cho mình thôi. Còn nó, chiếc bắc kia, trách nhiệm nặng nhọc với cái thân già tơi tả mà vẫn âm thầm, miệt mài chịu thương chịu khó trải qua hằng ngàn hằng triệu chuyến sang ngang nguy hiểm, để phục vụ cho đời mà không hề gây ra tai nạn.

Viết đến đây, nhân danh một cư dân vùng Rạch Miễu (Bến Tre), nhân danh một người cùng chiếc bắc đã từng nặng nợ keo sơn, gắn bó trong suốt cuộc đời, xin tuyên dương “anh hùng bắc Rạch Miễu” trong gần tròn thế kỷ, phục vụ cho khách hai bên bờ sông Tiền, không hề sai phạm một lỗi lầm quan trọng nào.

 

CỒN RỒNG (LONG)

Ai từng sang bắc Rạch Miễu (Bến Tre) đều có dịp ngắm và tìm hiểu bốn cù lao - còn gọi là cồn, vì trong sông từ cồn thường dùng nhiều hơn từ cù lao, từ cù lao thường nói ngoài biển - trong tầm mắt của khách sang sông.

Cồn Rồng, sau được ông Đạo Dừa đặt là Long để cùng với ba cù lao khác họp thành quần thể đảo: Long, Lân. Qui, Phụng. Cồn Rồng sau 1975, được nâng lên từ một phường của thành phố Mỹ Tho để trở nên phường Tân Long vẫn còn mang từ Long đi kèm.

Giai thọai về cồn Rồng rất nhiều. Không những người dân Mỹ Tho, mà tất cả người dân Việt Nam nào khi nhắc đến cồn Rồng đều tưởng nhớ đến vị anh hùng dân tộc chống Pháp Thủ Khoa Huân. Trong ngày cuối đời, Ông bị giặc Pháp giải đi bằng ghe từ vàm sông Bảo Định, Mỹ Tho (hiện nay nơi đây có tượng của Ông), nhìn qua bên kia sông Cửa Tiểu là cồn Rồng, về nguyên quán là thôn Tịnh Hà để xử trảm.

Ông có để lại bài thơ tuyệt mạng mà sử gia Trần Huy Liệu đã dịch ra như sau:

 

Bài thơ tuyệt mang.

Ruổi dong vó ngựa báo thù chung

Binh bãi cho nên mạng sớm cùng

Tiết nghĩa vẫn lưu trong vũ trụ

Hơn thua chi kể với anh hùng

Nổi xung mất vía quân hồ lỗ

Quyết thác không hàng rạng núi sông

Tho thủy ngày nay pha máu đỏ

Đảo Rồng hiu hắt ngọn thu phong.

(Bản dịch của Trần Huy Liệu).

 

Tác giả xin đắc tội với tiền nhân để được phép sử dụng quốc ngữ cho hai địa danh trong hai câu cuối, sao cho gần gũi hơn với người dân đất Mỹ Tho:

Dòng nước Mỹ Tho pha máu đỏ

Cồn Rồng hiu hắt ngọn thu phong.

 

Khi người Pháp đến Mỹ Tho, cồn Rồng chỉ là một cồn hoang vu, chỉ có loại thủy thực vật ven sông như dừa nước, bần, cóc kèng, ô rô, lục bình, sậy lác… trên bờ vẫn còn ẩm ướt lưa thưa cây cối hoang vu. Người Pháp đến và xây cất nơi đuôi cồn ngang với vàm Kỳ Hôn, một khu nhà đầu tiên dùng làm trại nuôi những người  bịnh phong gọi là trại cùi. Trong thời điểm nầy, người bịnh phong còn phải được cách ly. Trại cùi nầy hoạt động đến khoảng năm 1940 thì được dời về trại cùi Bến Sắn, Đồng Nai.

Vào những năm 1939-1945, người Nhậtt chiếm đóng Việt Nam với sự bất lực của chính quyền Pháp, tức nhiên quân đội Nhật cũng có mặt tại Mỹ Tho. Những năm cuối của thế chiến thứ hai, quân đội Đồng Minh đã lấy lại thế thượng phong ở Thái Bình Dương nên không lực Đồng Minh thường đưa phi cơ chiến đấu vào sâu trong nội địa để đánh phá quân Nhật.

Phi cơ Đồng Minh thường thả thủy lôi trên các sông của miền Nam nhất là trên sông Tiền để đánh tàu chiến của Nhật. Một lần người Nhật vớt được một trái thủy lôi, không biết là họ chưa có phương pháp gở ngòi hay sao, mà họ lại đem trái thủy lôi đó đặt trên mõm cồn Rồng, ngang với cầu bắc Rạch Miễu (Bến Tre) phía Mỹ Tho, để cho một số lính xuống cầu bắc nằm nhắm bắn vào trái thủy lôi để phá hủy.

Gần đây vào năm 1983, nhà hải dương học nổi tiếng quốc tế, ông Jacques-Yves Cousteau, người Pháp trong chuyến thám hiểm sông Mékong, có cho đậu chiếc tàu chuyên dùng của ông mang tên Calypso bên cạnh cồn Rồng đối diện với công viên Lạc Hồng Mỹ Tho.

 

CỒN THỚI SƠN (LÂN)

Cồn Thới Sơn là cồn lớn nhất và hình thành trước nhất trong quần thể bốn cồn ở giang phận nầy, đã được thành lập thành làng Thới Sơn, từ rất lâu bây giờ là xã Thới Sơn, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, nên làng nầy có được một ngôi đình có sắc phong Thần như các làng quan trọng khác.

Thới Sơn, một địa danh mang tên núi đặt cho một cù lao giữa hai dòng thủy vận của sông Tiền, trong một vùng hoàn toàn là đồng bằng, đủ cho ta thấy tầm quan trọng  của giang đảo nầy về mặt kinh tế, văn hóa và….quân sự.

Thật vậy, ngược dòng lịch sử, Thới Sơn nằm ngay trong điểm quân sự chiến lược của trận Rạch Gầm Xoài Mút, mà anh hùng Quang Trung Nguyễn Huệ đã phá tan hai vạn quân Xiêm. Mõm trên của cù lao Thới Sơn hẳn là thế ỷ dốc của nhà quân sự đại tài Nguyễn Huệ, để dụ cho chiến thuyền địch lọt vào cửa Tiểu rơi vào ổ phục kích của quân Tây Sơn, nếu không chúng có thể thoát qua cửa Đại để một là tiến đánh Sài Gòn, hai là tìm cách thoát ra biển tìm đường tẩu thoát về Xiêm.

 

CỒN NỔI  (PHỤNG).

Cồn Nổi bắt đầu nổi lên và chỉ cho người ta thấy một bãi cát khi nước ròng sát, vào những năm cuối của 1910. Cồn trong sông thoạt đầu chỉ là một đụn cát do phù sa kết tụ, do sự chuyển động của lòng sông và nổi lên nơi nào mà thiên nhiên cần đến để ngăn bớt dòng thủy triều quá mạnh. Cồn nổi lên một cách tự nhiên, để rồi hệ thủy thực vật mọc lên, mà rể của chúng sẽ giữ lại chất phù sa. Chất phù sa nầy càng ngày càng bồi đắp để biến vùng đất cồn nầy thành ruộng rẩy, vườn tược và khu dân cư.

Do vậy, khi cồn nầy mới nổi lên, đứng từ cầu bắc bên Rạch Miễu (Bến Tre), người ta nhìn thấy lúc nước ròng một dãy cát dài, người ta gọi ngay nó là cồn nổi để thành tên cồn Nổi. Đơn giản vậy thôi. Cồn hình thanh rất nhanh nhờ vào lượng phù sa vô tận của sông Cửu Long, nên chỉ đến khoảng năm 1936 là cây cối mọc xanh um nhất là bần.

Vào những năm nầy bần mọc bạt ngàn tạo cho cồn một màu xanh tươi mát, hòa hợp với mặt sông khi nước lớn đầy, vẽ nên một cảnh quang vô cùng xinh đẹp. Trái bần dốt hoặc chín dùng ăn với cơm nguội và mắm sặt là món ăn thông thường của người dân sông nước. Trái lại mấy cô gái lại thích ăn bần chín chấm với nước mắm đường. Bần cũng có nhiều loại: bần ổi, bần bánh xe, bần dĩa. Cũng có loại bần chua lè, cũng có loại không chua lắm, chớ không có bần ngọt như người ta đồn, có loại hột to, có loại hột nhỏ v.v…

Tuy nhiên công dụng của cây bần không phải là trái bần, cũng không phải là thân cây để làm củi, mà chính là rễ bần có công dụng giữ đất phù sa. Thiên nhiên đã ban cho ta phù sa và thiên nhiên cũng cho ta cây bần (và một số thủy thực vật khác) để giữ chất phù sa, nếu không, phù sa sẽ trôi ra biển cả.

Nói đến cồn Nổi phải nói đến dơi quạ. Dơi quạ là cư dân đầu tiên và đông đảo của cồn Nổi thời bấy giờ. Đến cồn vào ban ngày, nhìn lên toàn thể rặng bần không biết cơ man nào là dơi quạ. Chúng đeo nhau từng chùm đen nghịt trên cành bần đầu trút xuống, mắt láu liêng. Ban ngày chúng không bao giờ bay ra, chỉ trừ bị bắn phá hay đánh đuổi. Nhưng chiều lại, khi trời vừa chạng vạng thì chúng nhất loạt rã bầy bay thành đàn như một đám mây đen, đi tìm trái cây. Như được hướng dẫn bởi một bản năng thiên phú, chúng nhắm vào hướng các vườn cây có trái chín, nhứt là vườn nhản đang mùa, nơi có thể cách chúng trú ngụ hàng mấy chục cây số, và quay về trước khi trời sáng.

Dân Nam bộ ta ngày nay có được một giang sơn cẩm tú, màu mỡ thịnh vượng, gạo trắng nước trong, ta phải cám ơn hệ thủy thực vật như bần, dừa nước, cóc kèng, ô rô, mái dầm, sậy lác, lục bình, mướp sát, cây cám, cây chiết, cây cách…và về phía hạ nguồn gần biển nước mặn, lại có một hệ thủy thực vật khác, sống được với nước biển thay thế, là những cây vẹt, cây đước… Những “ân nhân” nầy đã đời nầy qua đời khác giữ lại, bồi đấp, kết tụ cho vùng đất nửa biển nửa đất, vùng nước nửa ngọt nửa mặn nầy trở thành một đồng bằng phì nhiêu nhất thế giới.

Cồn Nổi nầy đến năm 1950, đã là một ấp của xã Tân Thạch mang tên là ấp Tân Vinh, ông Nguyễn Thành Nam tức ông Đạo Dừa về chiếm ngụ, xây dựng cơ sở và lập một giáo phái của riêng ông và đặt tên là cồn Phụng. Nay di tích vẫn còn. Cồn Phụng hiện giờ vẫn là ấp Tân Vinh, một ấp trù phú giàu có của xã Tân Thạch, và cầu Rạch Miễu trước khi bỏ chân lên xã An Khánh, cũng đã có điểm dừng chân trên cồn Phụng nầy.

Vào năm 1960, Raymond Cartier, một phóng viên quốc tế nổi tiếng của tạp chí Pháp Paris Match, có đến cồn Phụng để thực hiện một thiên phóng sự lớn.

 

CỒN CÁT (QUI)

Đây là cồn sanh sau đẻ muộn trong bốn cồn Long, Lân, Qui, Phụng. Cũng như cồn Nổi, cồn nầy mang tên cồn Cát cũng đơn giản như vậy. Vào những năm 1950, phía dưới cốn Nổi (Phụng) khoảng hơn 1km, một dãy cát bắt đầu nổi lên, người ta biết là sẽ có một cái cồn mới nổi. Nhưng vừa đây đã có một cái cồn mới nổi được đặt tên là cồn Nổi, vậy bây giờ để tránh trùng lập thì cồn nầy được gọi là cồn Cát. Cũng đơn giản theo bản chất đơn giản của người dân Nam.

Cồn Cát nhanh chóng trở nên một cù lao phì nhiêu, sung túc. Chỉ trong vòng mười lăm năm sau đất cồn đã đủ cao để trở nên một khu vườn trù mật, cây trái sum sê. Nghe đâu, khi cồn vừa nổi đã có một nông dân gốc Rạch Miễu,  thấy xa hiểu rộng, nên đã âm thầm đến trồng từ bụi lác, từ cây dừa nước, cấy thêm bần… để giữ đất phù sa. Nhờ vậy mà không mấy chốc, nông dân nầy đã trở nên chủ đất hợp pháp của vùng đất trời ban nầy.

Cù lao nầy thuộc về xã Quới Sơn, chớ không phải xã Tân Thạch, nhưng vẫn nằm trong vùng Rạch Miễu (Bến Tre), cứ nở rộng về bề ngang và kéo theo chiều dài không ngớt. Sau 1975, người nông dân nầy không còn là người chủ duy nhất để khai thác vùng đất mà ông ta đã khai sáng.

Cũng như các cồn đã nói trước, chính ông Đạo Dừa cũng đã mớm cho cồn Cát nầy cái tên cồn Qui, vì khi mới hình thành dãy cát mô lên trông xa giống lưng con…rùa.

Trên đây là quần thể bốn cồn góp phần vào lịch sử cho cây cầu Rạch Miễu là Thới Sơn, cồn Rồng, cồn Nổi, cồn Cát, mà sau nầy có một người đã gọi là Long, Lân, Qui, Phụng và người dân bắt chước theo. Gọi mãi thành quen miệng. Như Lỗ Tấn đã nói: Con đường mòn đi mãi thành con đường chánh.

Giả thiết, chỉ giả thiết thôi, nơi đoạn sông Tiền nầy gồm cửa Tiểu và cửa Đại giữa Rạch Miễu và Mỹ Tho, mà không có quần đảo Long, Lân, Qui, Phụng thì ta có thể tưởng tượng đây là một đại trường giang mênh mông như biển cả, tất nhiên là bao la, là bát ngát, là hùng vĩ…nhưng việc qua sông không dễ chút nào nếu trời trở chứng giông tố bão bùng.


Mỹ Tho không chỉ nổi tiếng với các món đặc sản mà bên cạnh đó còn có các lễ hội, lễ giỗ đặc sắc để tưởng nhớ đến công lao các anh hùng dân tộc vì nước quên mình.

1. Lễ hội Kỳ yên đình Vĩnh Bình


Là lễ hội kỳ yên lớn nhất của tỉnh ở đình Vĩnh Bình, huyện Gò Công Tây từ ngày 14 đến 16 tháng chạp. Do quan niệm Thánh mẫu rất thiêng nên lễ viếng Bà tại miễu, đưa linh vị thần đến miếu Bà, cúng tế Bà rất long trọng. Dân làng mang lễ vật đến dâng, sau đó tổ chức các trò chơi dân gian kéo dài suốt 3 ngày. Ngoài ra còn có múa Lân, diễn tuồng hàng đêm.

2. Lễ hội Nginh Ông Vàm Láng

Tổ chức vào ngày mùng 9 tháng 3 âm lịch tại xã Vàm Láng, huyện Gò Công Đông của ngư dân vùng biển Tiền Giang. Nghi lễ được tổ chức tại chùa thờ cá Ông vào lúc 9 giờ sáng. Thuyền nghênh Ông được trang hoàng lộng lẫy, trên đặt bàn thờ có mâm cổ mặn, từ Rạch Vàm Láng tiến ra sông Soài Rạp, sau đó là lễ cúng vong Ông, an vị Ông. Lễ hội còn có tấu nhạc, các trò vui chơi giải trí.

3. Lễ hội sự kiện lịch sử Ấp Bắc: (ngày 2-1 dương lịch hàng năm) 

Hàng năm, kỷ niệm ngày chiến thắng Ấp Bắc (2/1/1963), huyện Cai Lậy và xã Tân Phú tổ chức lễ hội rất long trọng, với những cuộc diễu binh, diễu hành, đông đảo nhân dân đến dự mít tinh, thực hiện cuộc du khảo về nguồn...


4. Lễ giỗ Tứ Kiệt: (25 tháng chạp âm lịch hàng năm)


Tứ Kiệt là 4 vị anh hùng: Nguyễn Thanh Long, Trần Công Thận, Trương Văn Rộng, Ngô Tấn Ðước, bị giặc Pháp xử chém ngày 14-2-1871, nhằm ngày 25 tháng chạp năm Canh Ngọ. Lễ giỗ được tổ chức tại Lăng Tứ Kiệt (thị trấn Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang).Các năm chẵn, lễ giỗ được tổ chức qui mô, có các ban ngành trong tỉnh tham gia.

5. Lễ giỗ anh hùng dân tộc Trương Ðịnh: (ngày 20 tháng 8 dương lịch hàng năm)
Bình Tây Ðại nguyên soái Trương Ðịnh tuẫn tiết ngày 20-8-1864. Lễ giỗ được tổ chức tại đền thờ Trương Ðịnh (tại thị xã Gò Công), đình Gia Thuận (huyện Gò Công Ðông, tỉnh Tiền Giang) với qui mô lớn, khách nhiều tỉnh hàng năm đều về dự lễ. Ở thị xã Gò Công có thêm lễ rước linh va` dâng hoa tại tượng đa`i anh hùng dân tộc Trương Ðịnh.

6. Lễ hội Nam Kỳ khởi nghĩa: (ngày 23 tháng 11 dương lịch hàng năm)
Tại đình Long Hưng, huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang. Ngày 23-11-1940, trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đình Long Hưng là trụ sở của Uỷ ban khởi nghĩa tỉnh Mỹ Tho, lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên được treo tại đình này. Các năm chẵn, lễ hội được tổ chức qui mô lớn, có cắm trại , mít tinh, biểu diễn văn nghệ, thi làm bánh, chưng nghi v.v..
Comments