DU LỊCH TIỀN GIANG

 Di tích kiến trúc nghệ thuật CHÙA VĨNH TRÀNG 

Chua Vinh Trang TP. My Tho


Chùa Vĩnh Tràng nằm về hướng Đông Bắc của thành phố Mỹ Tho, ven tỉnh lộ 22, tọa lạc trên địa phận ấp Mỹ An, xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Chùa Vĩnh Tràng được lập vào năm 1849, Hòa thượng Huệ Đăng, trụ trì chùa đầu tiên đã đặt hiệu chùa là "Vĩnh Trường" với ngụ ý:

"Vĩnh cửu đối sơn hà,
Trường tồn tề thiên địa".


Chùa Vĩnh Tràng nằm về hướng Đông Bắc của thành phố Mỹ Tho, ven tỉnh lộ 22, tọa lạc trên địa phận ấp Mỹ An, xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Khởi nguyên chùa chỉ là một cái am lá của ông bà Huyện Bùi Công Đạt làm quan dưới triều vua Minh Mạng (1820 - 1840). Sau khi hưu trí, ông bà về đây cất am để tu hành nên nhân dân trong vùng quen gọi là chùa ông Huyện. Sau đó, ông bà mời Đại sư Huệ Đăng về trụ trì chùa và dạy chữ nghĩa cho con.

Sau khi ông bà Huyện qua đời, Đại sư Huệ Đăng ngày đêm chăm lo công quả. Thấy được đạo hạnh của nhà sư, Phật tử bốn phương về rất đông: người góp công, người góp của xây dựng thành chùa "Đại Tự" vào năm 1849, lấy niên hiệu là "Vĩnh Trường". Qua thời gian người dân quen gọi là "Vĩnh Tràng". Nhà thơ Xuân Thủy sau một lần đến thăm đã tặng chùa bốn câu thơ sau:

"Đức Phật giàu tình thương
Nên chùa tên Vĩnh Tràng
Nhà sư vốn yêu nước
Lòng như dòng Tiền Giang".


Chùa Vĩnh Tràng là một di tích kiến trúc nghệ thuật đứng vào hàng thứ ba đối với mọi kiểu chùa của đất Nam phần. Chùa được xây dựng pha hòa nét kiến trúc cả Âu lẫn Á.

Trước chùa có hai cổng Tam quan được xây dựng vào năm 1933 theo kiểu cổ lầu của Trung quốc. Cửa ngỏ này được cẩn bằng đồ sứ có giá trị in hình long, lân, quy, phụng, canh, mục, ngư, tiều...Tất cả đều thể hiện sự sống động vui tươi. Chùa được xây dựng theo dạng chữ Quốc của Hán tự, gồm 04 gian nối tiếp nhau: tiền đường, chánh điện, nhà tổ, nhà hậu làm bằng xi măng và gổ quí, nền đúc cao 1m, chung quanh xây tường vững chắc.

Chánh điện được xây dựng theo lối kiến trúc dung hợp Á Âu với những hàng cột thanh mảnh vòm cong. Trên nóc chùa có năm mái nhô cao, tượng trưng cho Ngũ hành theo quan niệm phương Đông

Bộ tượng cổ nhất chùa là bộ Tam Tôn: Di Đà, Quan Âm, Thế Chí bằng đồng, riêng tượng Quan Âm bị thất lạc nên đã được làm lại bằng gỗ. Đặc biệt, ở đây có bộ tượng Thập Bát La Hán cưỡi trên mình các con thú là những tác phẩm chạm khắc gỗ độc đáo mà một số nghệ nhân Nam bộ đã tạc khá tỉ mỉ vào những năm 1909-1910.

Chùa Vĩnh Tràng còn là nơi viếng cảnh của du khách phương xa, nhất là những phái đoàn nước ngoài một khi đến Tiền Giang./.

Các hình ảnh về di tích kiến trúc nghệ thuật Chùa Vĩnh Tràng



Di tích lịch sử dân tộc: Mộ Thủ Khoa Huân

Sau khi Thủ Khoa Huân mất, để tỏ lòng tôn kính nhân dân địa phương đã lập đền thờ cách nơi ông bị xử trảm 100m, ngay Trường Tiểu học Mỹ Tịnh An. Năm 1995 được sự đồng ý của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Tiền Giang Đền thờ Thủ Khoa Huân được dời về cạnh mộ của ông ở ấp Hoà Quới, xã Hoà Tịnh, huyện Chợ Gạo. Từ đó có tên gọi Đền thờ Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân

Sau khi Thủ Khoa Huân mất, để tỏ lòng tôn kính nhân dân địa phương đã lập đền thờ cách nơi ông bị xử trảm 100m, ngay Trường Tiểu học Mỹ Tịnh An. Năm 1995 được sự đồng ý của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Tiền Giang Đền thờ Thủ Khoa Huân được dời về cạnh mộ của ông ở ấp Hoà Quới, xã Hoà Tịnh, huyện Chợ Gạo. Từ đó có tên gọi Đền thờ Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân.


                                                                                                        Mộ Thủ Khoa Huân

Thủ Khoa Huân tên thật là Nguyễn Hữu Huân, ông sinh năm Canh Dần tại làng Tịnh Hà, tổng Thanh Quơn, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường. Nay là xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, ông bỏ chức Giáo thụ (chức quan ngành Giáo dục) từ biệt gia đình tham gia kháng chiến, liên kết với các sĩ phu yêu nước, chiêu mộ nghĩa binh đứng lên chống giặc, ngược hẳn với chiến lược hoà mà thực chất là đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn.

Năm 1875, trong một trận giao tranh với giặc bị bất lợi, ông cùng tuỳ tùng Đốc Binh Hương trở về Chợ Gạo dự định quá giang thuyền buôn ra Bình Thuận cầu viện. Đốc Binh Hương bị Trần Bá Lộc mua chuộc dẫn quân về bắt Nguyễn Hữu Huân ở Chợ Gạo ngày 15 tháng 05 năm 1875, đem giam tại Mỹ Tho (lần bị bắt thứ ba).

Do áp lực của thực dân Pháp, tháng 7 năm 1864, quan Tổng đốc An Giang là Phan Khắc Thận đã hèn nhát bắt ông giao nộp cho quân giặc. Một tháng sau ông bị chính quyền thực dân Pháp kết án khổ sai chung thân và bị đày tận đảo "Bòn Bon" tức Réunion (Trung Mỹ). Suốt 15 năm hoạt động 03 lần bị bắt-03 lần khởi nghĩa, trên chiến trường, trong tù ngục và ngay khi bị xử trảm Thủ Khoa Huân không nao núng tinh thần cho đến phút cuối cùng luôn nêu tấm gương "Tận trung báo quốc" và "Đạo cương thường" vì nước vì dân.

Ngày 19 tháng 05 năm 1875 chúng cho tàu chở ông theo dòng sông Bảo Định về quê Mỹ Tịnh An để hành quyết, nhằm lúc 12 giờ trưa ngày rằm tháng tư năm Ất Hợi. Năm ấy ông được 45 tuổi.

Mộ Thủ Khoa Huân thuộc loại hình di tích lịch sử dân tộc. Lúc đầu mộ được lắp bằng đất, đến năm 1927 con cháu của ông và nhân dân địa phương xây lại bằng đá xanh. Mộ gồm 02 phần: núm mộ và bia mộ.

Mộ có giá trị lịch sử dân tộc, đây là nơi chôn cất Phó đề đốc, nhà thơ, nhà trí thức yêu nước Thủ Khoa - Nguyễn Hữu Huân. Khu di tích Đền thờ Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân với diện diện tích 3.500m2. Hiện nay, tại đây đã thành lập Ban bảo vệ Đền thờ Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân, hằng ngày có người bảo vệ, chăm sóc khu di tích và đón tiếp khách tham quan.

Ngoài ra, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh và Thành uỷ Mỹ Tho đã cho xây dựng tượng Thủ Khoa Huân tại vườn hoa Lạc Hồng ngay trung tâm thành phố Mỹ Tho nay là công viên Thủ Khoa Huân.

Di tích Mộ Thủ Khoa Huân được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia./.Di tích lịch sử dân tộc: Chiến Lũy Pháo Đài

Luỹ Pháo Đài thuộc ấp Pháo Đài, xã Phú Tân, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang. Di tích nằm ngay Cửa Tiểu trên cù lao Phú Tân nên đường đi đến chủ yếu bằng đường thuỷ hoặc đường bộ

Luỹ Pháo Đài thuộc ấp Pháo Đài, xã Phú Tân, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang. Di tích nằm ngay Cửa Tiểu trên cù lao Phú Tân nên đường đi đến chủ yếu bằng đường thuỷ hoặc đường bộ.

Chiến Lũy Pháo Đài

Để bảo vệ Cửa Tiểu, năm Minh Mạng thứ 15 (1834) triều đình nhà Nguyễn cho xây dựng tại đây một Bảo bằng đất gọi là Đồn Từ Linh, chu vi 60 trượng (378mét), cao 5 thước 5 tấc (2,57 mét), mở hai cửa. Năm Thiệu Trị thứ 3 và thứ 7 (1834-1847) được sửa chữa lại.

Sau khi thành Định Tường thất thủ, tháng 4 năm 1861 Trương Định về Tân Hoà xây dựng căn cứ kháng Pháp. Đồn Từ Linh được sử dụng làm chiến luỹ, gọi là Chiến Luỹ Pháo Đài, có trang bị súng thần công loại lớn (vị trí đặt khẩu thần công trước kia nằm tận ngoài giữa hai hướng cửa thành Tây và Tây Bắc cạnh đầu bờ sông Cửa Tiểu và rạch đồn chừng 60m).

Luỹ Pháo Đài xung quanh là thành đất đắp cao, dày có 06 cạnh cân đối khá đều nhau, thành hình lục lăng (lục giác), diện tích khoảng 3.000m, trên thành đất trồng me, chính giữa có cây trôm to và giếng nước. Theo hướng Đông-Nam pháo đài có một gò tròn cao 21m, đường kính 15-20m. Đó là Gò Thổ Sơn có thể đó là đài quan sát của nghĩa quân. Bao bọc bên ngoài thành luỹ là rừng kè, đước, dừa nước, bần. Dưới lòng sông, để bảo vệ cửa sông và ngăn chặn tàu chiến của địch có ủi bải xung phong lên bờ. Đồng thời, làm tàu địch giảm tốc độ làm bia cho những khẩu thần công và đẩy địch dạt sang bờ Trại Cá cho nghĩa quân tiêu diệt, cho nên Trương Định đã đổ đá hàn một đoạn theo chiều rộng của sông Cửa Tiểu trước chiến luỹ về hướng Tây mặt khẩu thần công chừng 120m đến 150m gọi là Đập đá hàn, ngày nay Đập đá hàn vẫn còn và đã được đánh dấu để tàu bè ra vào không vướng phải (theo truyền thuyết sông Cửa Tiểu hồi ấy hẹp hơn bây giờ).

Suốt cả quá trình tồn tại, Chiến Luỹ Pháo Đài đã cùng nghĩa quân trấn giữ một cửa biển quan trọng của đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó cho chúng ta thấy ông cha ta ngày xưa đã có tầm nhìn chiến lược về quân sự khi xây dựng căn cứ để bảo vệ vùng trời, vùng biển của quê hương tổ quốc.

Năm 2000 Sở Văn hóa -Thông (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) Tiền Giang đã tiến hành xây dựng nhà bia di tích Luỹ Pháo đài. Nhà bia với kiến trúc trông rất xinh đẹp, thoáng mát và trang nghiêm với chiều cao 9,4m rộng 84m2, mái ngói, cột bêtông, nền tôn cao 2m so với mặt đất và đã tiến hành phục hồi 02 súng thần công. Để nơi đây trở thành một điểm mà nhân dân và du khách đến thăm viếng-hồi tưởng lại một quá trình dựng nước và giữ nước của cha ông.

Di tích Luỹ Pháo Đài được đưa vào tuyến tham quan truyền thống với các cụm di tích quốc gia khác ở Gò Công như Đền thờ Trương Định, Nhà Phủ Hải, Đám lá tối trời.

Chiến Luỹ Pháo Đài là di tích lịch sử dân tộc, được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1987./.

Di tích kiến trúc: Đình Đồng Thạnh

Đình Đồng Thạnh được thành lập vào cuối thế kỷ XIX, sơ khai đình được xây dựng bằng tre lá đơn sơ, vào những đầu thế kỷ XX, trước làn sóng văn hoá phương Tây, người dân đã phản ứng bằng cách trùng tu tái thiết các cơ sở tôn giáo tín ngưỡng truyền thống nhằm bảo tồn di sản văn hoá của cha ông, trên cơ sở đó, đình Đồng Thạnh được nhân dân trong vùng đóng góp tiền của trùng tu đến năm 1914 mới hoàn thành và có qui mô đồ sộ, khang trang với lối kiến trúc có sự kết hợp độc đáo phong cách Đông-Tây, mang đậm bản sắc văn hoá vùng miền và địa phương


Đình Đồng Thạnh được thành lập vào cuối thế kỷ XIX, sơ khai đình được xây dựng bằng tre lá đơn sơ, vào những đầu thế kỷ XX, trước làn sóng văn hoá phương Tây, người dân đã phản ứng bằng cách trùng tu tái thiết các cơ sở tôn giáo tín ngưỡng truyền thống nhằm bảo tồn di sản văn hoá của cha ông, trên cơ sở đó, đình Đồng Thạnh được nhân dân trong vùng đóng góp tiền của trùng tu đến năm 1914 mới hoàn thành và có qui mô đồ sộ, khang trang với lối kiến trúc có sự kết hợp độc đáo phong cách Đông-Tây, mang đậm bản sắc văn hoá vùng miền và địa phương.

Đình Đồng Thạnh

Nét đặc sắc nhất của ngôi đình là nghệ thuật chạm khắc, trang trí hoa văn, tranh đắp nổi trên tường, tượng gốm…cả ở bên trong và bên ngoài đình. Đặc biệt, với những hoa văn và họa tiết trang trí ở đình Đồng Thạnh được rút ra từ những hình tượng và triết lý của Nho, Phật, Lão giáo, đã ăn sâu vào trong tâm khảm của dân tộc ta, được hình tượng hóa qua tứ linh, tứ quý, bát bửu v.v... và các biểu tượng hàm ý sự giàu sang phú quí, mong cho hạnh phúc tràn đầy, con đàn cháu đống, mưa thuận gió hòa, mọi vật đều trường tồn với thiên địa.

Với đôi bàn tay tài hoa, các nghệ nhân đã bố cục và thể hiện hài hoà các đề tài truyền thống trong nghệ thuật điêu khắc Việt Nam với những đường nét tinh tế uyển chuyển rất sinh động, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, mang tính triết lý nhân sinh sâu sắc, hàm chứa ước mơ thịnh vượng, tốt lành cho muôn đời của con người. Có tận mắt chứng kiến lối kiến trúc, nghệ thuật chạm khắc và đắp nổi tranh của đình ta mới cảm nhận hết cái đẹp, sự tài hoá của các nghệ nhân, khi đã “thổi hồn” vào gỗ, xi măng…tạo thành những mảng trang trí nhẹ nhàng, thanh thoát, giàu tính nhân văn góp phần tăng thêm giá trị của di tích đã tồn tại từ hơn 300 năm qua.

Di tích đình Đồng Thạnh tọa lạc tại ấp Lợi An, xã Đồng Thạnh, huyện Gò Công Tây, cách trung tâm tỉnh Tiền Giang 25km về hướng Đông Bắc, đi theo tuyến Quốc lộ 50 đến ngã ba Đồng Sơn rẽ trái vào đường tỉnh 782, đi 5km là đến di tích.

Để không ngừng bảo tồn và phát huy tác dụng di sản văn hóa đình Đồng Thạnh, được ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào cụm tour du lịch với các di tích văn hóa trong tỉnh. Hằng năm Chính quyền và nhân dân địa phương tổ chức lễ hội kỳ yên vào 16 tháng 3 và 16 tháng 11 âl.

Di tích đình Đồng Thạnh đang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét công nhận di tích cấp quốc gia dự kiến vào cuối năm 2008./.

Di tích lịch sử dân tộc: Đền thờ Trương Định ở Gia Thuận

Đền thờ thuộc loại hình di tích lịch sử dân tộc, nơi thờ cúng vị anh hùng dân tộc Trương Định-người có công khai phá mở mang vùng đất Gò Công. Ông là một trong những người lãnh đạo nhân dân Nam Kỳ đứng lên chống quân xâm lược Pháp trong giai đoạn đầu 1858 - 1864 trước sự nhu nhược của Triều Đình nhà Nguyễn

Đình Gia Thuận
Đền thờ Trương Định toạ lạc tại ấp 2, xã Gia Thuận, huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

Đền thờ thuộc loại hình di tích lịch sử dân tộc, nơi thờ cúng vị anh hùng dân tộc Trương Định-người có công khai phá mở mang vùng đất Gò Công. Ông là một trong những người lãnh đạo nhân dân Nam Kỳ đứng lên chống quân xâm lược Pháp trong giai đoạn đầu 1858-1864 trước sự nhu nhược của Triều Đình nhà Nguyễn.

Để tưởng nhớ công đức của Ông, nhân dân Gò Công thường gọi là “Trương Công Định” hoặc “Ông Trương”, có nơi ở Gò Công gọi là “Ông Lớn”.

Gò Công là quê hương thứ hai của Trương Định, nơi Ông lớn lên lập nghiệp và kháng chiến chống ách xâm lược của thực dân Pháp.

Trương Định sinh năm 1820, theo sử triều Nguyễn (Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện) Trương Định người Bình Sơn, xã Tư Cung tỉnh Quảng Ngãi, nay thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

Trương Định là con của quan Thuỷ Vệ Uý Trương Cầm, tỉnh Gia Định. Năm 22 tuổi (1844) Trương Định theo cha vào Nam và cưới vợ là bà Lê Thị Thưởng con một nhà hào phú ở làng Tân Phước, huyện Tân Hoà (có sách chép Tân An). Bà Thưởng sinh được hai người con một trưởng nam tên Quyền (dân miền Nam gọi là cậu hai), người con thứ hai là nữ chết khi còn nhỏ. Khi cha mất Trương Định ở luôn quê vợ Tân Hoà.

Năm 1859, ông đem hết tài sản và đi quyên góp giúp dân miền Trung bị nạn đói. Trong năm này Trương Định đã đưa gia quyến gồm 5.000 dân nghèo vùng Nam-Ngãi vào khai hoang lập ấp các vùng Bình Thuận, Tân Phước, Gia Thuận, Kiểng Phước Gò Công… Theo Nguyễn Thông Lãnh Binh Trương Định truyện “Đầu đời Tự Đức, Trương Định bỏ gia tài mộ dân lập đồn điền, được bổ chức Quản Cơ" trong thời gian khẩn hoang và lạc quyên cứu đói Trương Định đã gặp và cưới bà Trần Thị Sanh là anh em con cô con cậu với bà Từ Dũ Thái Hậu (mẹ vua Tự Đức).

Tháng 3-1862, giặc Pháp tấn công chiếm thành Vĩnh Long, triều đình ra lệnh cho Trương Định bãi binh, phong làm Lãnh Binh An Hà, buộc phải bãi binh ở Tân Hoà và gấp rút nhận chức mới ở An Giang. Nhưng lòng dân và nghĩa quân không chịu, trong lúc đang lưỡng lự giữa ý dân và lệnh vua chưa biết ngã về đâu, Ông nhận được thư của nghĩa hào huyện Tân Long (Chợ Lớn), tỏ ý muốn cử Ông làm chủ soái 3 tỉnh để giết giặc. Cảm sự tính nhiệm của những người yêu nước và nhân dân Ông gạt bỏ lệnh của triều đình và nhận chức "Bình Tây Đại Nguyên Soái" do dân phong.

Giặc Pháp bao vây Đám lá tối trời, truy kích Ông và nghĩa quân. Thấy được những mặt bất lợi của căn cứ địa Gò Công đồng bằng bằng phẳng, trống trãi dễ bị giặc bao vây tiêu diệt. Ông rút toàn bộ lực lượng ra khỏi Gò Công chọn Lý Nhơn một vị trí nằm giữa vùng đất phù sa có rừng dừa nước che kín giáp ranh Biên Hoà (nay là Tp.Hồ Chí Minh) làm đại bản doanh. Để có thời gian củng cố lực lượng nơi căn cứ mới, Trương Định cho phân tán nghĩa quân thành nhiều toán nhỏ. Tuy nhiên việc xây dựng căn cứ mới gặp nhiều khó khăn, nhất là phải đối phó với thủ đoạn của thực dân Pháp.

Thoát cuộc bố ráp truy kích của giặc ở Lý Nhơn, Trương Định trở về Đám lá tối trời, một mặt Ông xây dựng lại lực lượng và cơ sở kháng chiến một mặt Ông truyền hịch đi khắp nơi lên án dã tâm xâm lược của kẻ thù và kêu gọi các sĩ phu, mọi người hãy đứng lên góp công góp sức, hiến kế giúp Ông đánh giặc đó là hịch tháng 8 năm 1864. Hưởng ứng lời hiệu triệu của Ông khắp nơi một làn sóng kháng chiến lại sôi nổi ở Mỹ Tho, Tân An, Gò Công, Cần Giuộc, Chợ lớn và vùng giáp ranh Biên Hoà làm cho giặc Pháp càng sốt ruột càng ra sức truy tìm để diệt Ông.

Đêm 19 tháng 8 năm 1864, dò biết nơi ở của Trương Định, tên phản bội Huỳnh Công Tấn cho quân bao vây đột nhập vào nhà. Trương Định và những nghĩa quân của ông chiến đấu chống trả thật quyết liệt. Ông diệt được một số địch, nhưng bản thân bị thương nặng, biết mình không sống được và quyết không để rơi vào tay giặc, sẳn gươm trong tay, sau khi điểm mặt tên Tấn rồi Ông tự đâm vào bụng tự sát.

Trương Định mất đi nhưng sự nghiệp của Ông vẫn được các nghĩa quân tiếp tục. Hơn năm năm chiến đấu tính từ ngày giặc Pháp xâm lược nước ta tháng 2 năm 1859 đến ngày Trương Định mất 20 tháng 8 năm 1864 chưa phải là dài, nhưng cuộc khởi nghĩa của Ông lập nhiều chiến công vang vội trong điều kiện lực lượng so sánh quá chênh lệch là có lợi cho phía địch nhưng thành tích thật vĩ đại, uy danh của Ông rất lớn ảnh hưởng phong trào khởi nghĩa Trương Định rất to, lan rộng ra khắp cả nước, xứng đáng là ngọn cờ đầu các phong trào khởi nghĩa ở Nam bộ hồi nữa sau thế kỷ trước.

Vào những năm đầu thế kỷ 20 miếu được trùng tu lại do nhân dân đóng góp tiền của xây dựng lại to rộng hơn, lúc này không gọi miếu mà gọi là đình: Đình Gia Thuận với chất liệu bằng gỗ quí, mái lợp ngói âm dương, keo cột theo kiểu tứ trụ chồng rường, cột kê trên táng đá xanh nền loát gạch tàu, bó nền bằng đá tổ ong với đạo lý “ uống nước nhớ nguồn” huyện Gò Công đã tiến hành tu bổ lại toàn bộ đền thờ Trương Định-Gia Thuận với qui mô và khang trang như ngày nay.

Di tích Đền thờ Trương Định ở Gia Thuận là di tích cấp quốc gia cùng với di tích Ao Dinh và di tích Đám lá tối trời có tên chung là:

" Các địa điểm liên quan đến cuộc khởi nghĩa Trương Định:

ĐỀN THỜ TRƯƠNG ĐỊNH, ĐÁM LÁ TỐI TRỜI, AO DINH"

Hiện nay không những ở Thị xã Gò Công, các huyện Gò Công Đông, thành phố Mỹ Tho mà ở Thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, và hầu hết các thành phố, thị xã khác trong cả nước đều có đường phố lớn và nhiều trường học cũng mang tên Trương Định.

Di tích lịch sử dân tộc: Lăng mộ và đền thờ Trương Định 

Mộ Trương Định là di tích lịch sử dân tộc, thuộc loại hình di tích lịch sử nơi lưu niệm danh nhân lịch sử nước ta trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp giữa những năm 1860 của thế kỷ 19. Ngôi mộ được xây dựng ngay khi ông mất năm 1864


Đền thờ Trương Định toạ lạc tại phường 1, thị xã Gò Công, di tích nằm ngay trung tâm thị xã Gò Công nên đường đi đến bằng ô tô rất thuận lợi.

Sau khi Trương Định mất ngày 20 tháng 8 năm 1864, Bà Trần Thị Sanh người vợ thứ của Trương Định đã nhận thi hài của ông mang về an táng trọng thể tại trung tâm huyện lỵ Tân Hoà nay là phường I, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.



Mộ Trương Định là di tích lịch sử dân tộc, thuộc loại hình di tích lịch sử nơi lưu niệm danh nhân lịch sử nước ta trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp giữa những năm 1860 của thế kỷ 19. Ngôi mộ được xây dựng ngay khi ông mất năm 1864. Tại đây xưa kia là một gò đất cao, cây cỏ um tùm, chung quanh ao hồ nước đọng vì lúc đó dân Gò Công còn thưa thớt, về sau họ khai khẩn đất hoang làm đường và xây cất nhà cửa đông đúc như ngày hôm nay.

Mộ được xây bằng đá ong với hồ ô dước (vôi đường mật và cây ô dước). Diện tích toàn ngôi mộ là 67,263m2 , chiều dài: 9,95m kể cả vòng tường ngoài cùng, ngang: 6,75m, vòng tường ngoài có 04 trụ cao 1,16m mỗi cạnh 54cm trên 04 trụ bốn góc có 04 hoa sen. Vòng tường nầy cao 70cm xây bằng đá xanh năm 1956. Mộ có 02 bia: 01 phía trước mộ, 01 phía cuối mộ. Mỗi bia đều có mái che hình thức màu như ngói nhưng bằng vôi, cát.

Tấm bia trước mộ bằng đá cẩm thạch trắng, trang trí chung quanh rèm bia là hoa văn hoa lá mềm mại và ngay giữa có câu: "Đại Nam, Bình Tây Đại Tướng Quân Trương Công Định Chi Mộ". giặc pháp thấy vậy chúng cho băm nát.

- Năm 1945, nhân dân trùng tu và bia được khắc lại "Đại Nam Thần Dõng, Đại Tướng Quân, Truy Tặng Ngũ Quân, Ngũ Quận Công, Trương Công Định Chi Mộ" và kế bên là dòng chữ nhỏ "Tốt Ư Giáp Tý, Thất Nguyệt Thập Bát Nhật" (tức chết ngày 20/8/1864) và một bên đề Trần Thị Sanh Lập thạch. Bia cuối mộ cũng có mái che trên bia khắc hai chữ "Trung Nghĩa".

Trước mộ có đôi câu liễng:

"Sơn Hà Thu Chính Khí
Nhật Nguyệt Chiếu Đan Tâm"

(Núi Sông Thu Chính Khí
Nhật Nguyệt Chói Lòng Son) 

Ngôi mộ tuy không nguy nga, lộng lẫy vì chính sách phản dân tộc của kẻ xâm lược và chế độ cũ, nhưng nói lên sự tôn kính và ngưỡng mộ công dức của nhân dân địa phương đối với người anh hùng. 

- Ngày nay trong miếu thờ, ảnh của vị anh hùng dân tộc đặt ngay bàn thờ chính, hai bên tả, hữu "TẢ VĂN BAN, HỮU VÕ BÁ" và nhiều câu đối do nhân dân địa phương viết để thờ các vị quan văn và quan võ của Trương Định.

Di tích được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1984./.

Di tích kiến trúc: Đình Điều Hòa

Di tích tọa lạc tại số 101, đường Trịnh Hoài Đức, phường 2, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Đình Điều Hòa là một công trình kiến trúc nghệ thuật có quy mô xây dựng lớn, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện qua cấu trúc xây dựng và các mảng chạm khắc trang trí bên trong

Đình Điều Hòa
Di tích tọa lạc tại số 101, đường Trịnh Hoài Đức, phường 2, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Do nằm trong địa vực trung tâm thành phố, giữa khu dân cư nên việc đi đến di tích bằng các phương tiện giao thông đường bộ rất thuận tiện. Từ ngã ba Trung Lương trên Quốc lộ I, rẽ vào đường Ấp Bắc chạy thẳng xuống đường Nguyễn Trãi, quẹo qua Hùng Vương chạy về hướng Chợ Gạo, qua khỏi Cầu Quay rẽ trái vào đường Trịnh Hoài Đức khoảng 300m là đến di tích.

Đình Điều Hòa là một công trình kiến trúc nghệ thuật có quy mô xây dựng lớn, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện qua cấu trúc xây dựng và các mảng chạm khắc trang trí bên trong.

Đây là nơi tập trung và bảo tồn nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Tiền Giang. Hiện trong đình còn lưu giữ, bảo quản các sưu tập lư, đỉnh đồng, sưu tập binh khí thờ, và nhiều cổ vật gốm sứ của Trung Quốc thế kỷ XVIII - XIX. Đặc biệt là nghi thức hành lễ cúng bái trong đình có từ các thế kỷ trước vẫn còn lưu lại cho đến nay.

Với phong cách kiến trúc nghệ thuật thời nhà Nguyễn, đình Điều Hòa xứng đáng là di sản văn hóa quý hiếm của nhân dân Tiền Giang nói riêng, và nhân dân cả nước nói chung.

Do có ý thức bảo quản gìn giữ tốt và thường xuyên được nhân dân địa phương đóng góp tu bổ, nên ngày nay Đình Điều Hòa rất khang trang, giữ nguyên được giá trị sử dụng ban đầu và còn nhiều cổ vật quý hiếm có từ khi đình mới được thành lập vào thế kỷ XVIII. Đồng thời cũng thu hút được nhiều khách tham quan lui tới nhất là các dịp cúng lệ Kỳ yên hàng năm của đình (16-17-18 tháng 02 và 16-17-18 tháng 10 âm lịch)

Nhìn về tổng thể hiện trạng xây dựng có lối như chử “thập” (+), nhưng theo hiện trạng cũ theo trục Bắc – Nam , đình có cấu trúc theo lối chữ Tam (≡).

Trên mặt dựng của cổng có 3 chử Hán “Đình Điều Hòa”, phía sau trang trí một một bức tranh “Thất Hiền Quá Hải”, bên dưới thân trụ cổng có đôi câu đối của ông Cao Xuân Dục viết tặng đình khi về thăm đình vào năm Duy Tân thứ I. Nội dung:

“Tứ hải bổn đồng phùng thuận trị
Nhất thôn phong hóa hảo Điều Hòa”


Qua cổng Tam quan là sân kiểng, bên trái có bàn thờ Thần Nông, bởi vì nơi đây là ruộng tịch điền và bàn thờ Thần Nông của thôn Điều Hòa có trước khi đình được dời về đây.

Bước lên bậc tam cấp bằng xi măng là mặt dựng nhà võ qui. Mặt dựng hình tháp gồm hai tầng, trên đỉnh trang trí hình “Lưỡng long tranh châu”, bốn góc mái của tầng một trang trí Tứ linh bằng men xanh; góc mái tầng hai trang trí hình cánh én, cuối mái ngói trang trí sứ men xanh hình cánh và gương sen. Trên mặt dựng tầng hai có 3 chữ Hán “Đình Điều Hòa” đắp bằng xi măng; mặt dựng của tầng một là bảng hiệu Đình Điều Hòa bằng chữ quốc ngữ. Vào trong chánh điện, gian giữa với các mảng chạm khắc bên trên là “Long Phụng tranh châu”. Phía dưới là Bát tiên cởi thú; phía trên bao lam là những khuôn chạm Tứ quý, Tứ linh, Mai Điểu, Tùng Lộc, Liên áp quả (vịt – sen) và trên cùng là tấm hoành được sơn son thiếp vàng và chạm Tứ linh. Trên 2 cột là đôi liễng chạm 2 lớp câu đối có nội dung:

Miếu mạo nguy nga tân cựu tôn ty triêm thánh đức
Oai linh hách diệu sỹ nông công mãi mộc thần ân.


Trên 2 hàng cột 2 bên trang trí hoành phi, bao lam chạm trổ sơn son thếp vàng với họa tiết trang trí Tứ quý, Tứ linh, Mai Lan Cúc Trúc, hoa trái ...

Đặc biệt, ở hàng cột ngoài cùng trong chánh điện, có đôi câu đối của Thượng Thư Cao Xuân Dục một lần ghé qua đình đã đề tặng:

"Tứ hải bổn đồng phùng thuận trị"

Tóm lại, họa tiết và hoa văn trang trí ở đình Điều Hòa hầu hết được lấy ra từ những hình tượng và điển tích trong Nho giáo, Phật giáo và Tứ linh,Tứ quý và các vật tượng trưng với hàm ý, cầu mong cho dân trong làng xóm được bình an; trong gia đạo được hạnh phúc; con cháu giàu sang phú quý; thiên nhiên mưa thuận gió hòa, mọi sự vật được trường tồn.

Trải qua hơn 200 năm tồn tại và qua nhiều lần tu bổ, đình Điều Hòa vẫn còn giữ đuợc dáng vẻ ban đầu, trông rất khang trang và còn sử dụng được lâu dài.

Những vị tiền bối có công khởi dựng đình là các ông Nguyễn Văn Kiên, Nguyễn Văn Trước, Trương Văn Ân. Nhân dân đã tôn thờ 3 vị tiền bối này là Tiền Hiền Cẩm Địa và Hậu Hiền Khai Khẩn, và đến nay vẫn còn thờ ở trong đình.

Trước kia Đình Điều Hòa được dùng làm trạm dừng chân của các quan lại dưới triều Nguyễn đi công tác ở địa phương muốn nghỉ lại qua đêm hoặc chờ đò qua sông. Đồng thời đình còn là nơi thờ cúng Thành Hoàng Bổn cảnh của nhân dân trong vùng. Đến giữa thế kỷ thứ XIX, đình Điều Hòa được sử dụng với một chức năng duy nhất: thờ cúng Thành Hoàng và những vị Tiền hiền. Nơi đây, hàng năm vào những ngày lễ hội Kỳ Yên ( 16-17-18 tháng 02 và 16-17-18 tháng 10 âm lịch) nhân dân đã đến cầu an cho sự yên bình của làng xóm và tổ chức các hội thi làm bánh, đồ xôi, chưng nghi (bằng những loại trái cây của địa phương). Hội đình kéo dài 3 ngày 3 đêm, mỗi đêm đều có rước đoàn hát về hát bội các tuồng có nội dung phản ánh các điển tích Trung Quốc như: Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu; San Hậu v.v... có hàng ngàn người đến cầu an và xem hát.

Di tích đình Điều Hòa đang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét công nhận di tích cấp quốc gia dự kiến vào cuối năm 2008./.

Di tích lịch sử cách mạng: "Nơi ghi dấu tội ác" - Địa điểm vụ thảm sát Chợ Giữa Vĩnh Kim

Chợ Giữa xưa nằm ở làng Vĩnh Kim Đông thuộc tổng Thuận Bình-tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc ấp Vĩnh Hoà, xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang. Cách thành phố Mỹ Tho 20km về phía Đông, cách quốc lộ 1A 6km về phía Bắc. Do ở vị trí trung tâm thị tứ, cạnh đường 876 nên quí khách đến di tích bằng ôtô rất thuận lợi

Di tích Chợ Vĩnh Kim

Chợ Giữa xưa nằm ở làng Vĩnh Kim Đông thuộc tổng Thuận Bình-tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc ấp Vĩnh Hoà, xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang. Cách thành phố Mỹ Tho 20km về phía Đông, cách quốc lộ 1A 6km về phía Bắc. Do ở vị trí trung tâm thị tứ, cạnh đường 876 nên quí khách đến di tích bằng ôtô rất thuận lợi.

Tại Chợ Giữa, sáng ngày 05 tháng 12 năm 1940 nhân dân các làng lân cận một số đổ về đây họp chợ, một số do địch ruồng bố gắt gao khắp nơi cũng về đây tránh bom đạn. Vào giờ cao điểm chợ họp đông đúc đồng bào, giặc đã cho máy bay ném bom giữa chợ, bom nổ làm chết, bị thương khoảng 200 người trong số đó có nhiều phụ nữ đang mang thai gần ngày sinh khiến cho các bào thai văng ra ngoài bụng mẹ.

Ném bom xong giặc Pháp xua quân bao vây chợ bắt những người còn sống sót kéo xác những người đã chết ném xuống hố bom không cho thân nhân, gia đình người bị nạn đem xác về chôn. Trong số đó, có người bị thương chưa chết giặc vẫn cho chôn sống. Dưới sông gần chợ ghe xuồng của nhân dân đi lại chúng bắn giết bừa bãi, xác chết trôi đầy sông, máu loan đỏ cả một đoạn sông. Hơn 10 ngày sau, vì quá hôi thối nhân dân quanh chợ đấu tranh, địch mới cho thân nhân, gia đình đem xác về chôn nơi khác.

Theo báo cáo của tên chủ tỉnh Dufous từ ngày 3 đến 5 tháng 12 năm 1940 trong đợt càn quét thực hiện mệnh lệnh số 1, chúng đã bắt 400 người và từ ngày 6 tháng 12 đến cuối tháng 12 năm 1940 bắt thêm 2.500 người. Tổng cộng trong vòng 01 tháng chúng bắt 2.900 người dân vô tội.

Di tích Chợ Giữa Vĩnh Kim là di tích lịch sử cách mạng nơi ghi dấu tội ác của thực dân Pháp xâm lược đối với nhân dân ta nói chung và nhân dân Mỹ Tho (Tiền Giang) nói riêng. Qua sự kiện cho chúng ta thấy dã tâm của kẻ xâm lược lúc nào cũng rêu rao đi khai phá văn minh nhưng hành động dã man hơn thời trung cổ. Tại di tích này, tỉnh Tiền Giang đã xây dựng một tượng đài với chất liệu bằng đồng, cao 8 mét, biểu tượng một phụ nữ một tay bồng con, một tay cầm cây đòn gánh bị gãi với những đường nét mạnh mẽ, đầy căm thù, phía sau tượng đài là tranh gốm sứ tái hiện cảnh thảm sát năm xưa, phía trước là công viên được trồng cây cảnh, kiểng rất đẹp mắt. Di tích Chợ Giữa Vĩnh Kim nằm trong khu tam giác giữa các di tích Rạch Gầm-Xoài Mút; di tích Nam Kỳ Khởi Nghĩa (đình Long Hưng); di tích Chiến thắng Ấp Bắc, do đó rất thuận tiện cho tuol du lịch khi quí khách đến tham quan khu tích Chợ Giữa Vĩnh Kim.

Hằng năm vào ngày 05 tháng 12, Mặt trận Tổ quốc xã Vĩnh Kim cùng các Đoàn thể của xã tổ chức mít tinh kỷ niệm, có đông đảo đồng bào các xã lân cận và các gia đình nạn nhân trong vụ thảm sát về dự. Di tích Chợ Giữa Vĩnh Kim được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhân là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia năm 2003./.

Di tích lịch sử dân tộc: Lăng Hoàng gia 

Lăng Hoàng Gia bao gồm mộ và nhà thờ dòng họ Phạm Đăng là thích lý của triều Nguyễn. Dòng họ Phạm Đăng đến đời thứ ba có ông Phạm Đăng Hưng làm quan dưới hai triều vua Gia Long và Minh Mạng. Ông chính là cha của Hoàng Thái Hậu Từ Dũ, là ông ngoại của vua Tự Đức. Năm 1826, triều đình nhà Nguyễn cho xây dựng tại đây đền thờ và lăng mộ dòng họ Phạm Đăng gọi là Lăng Hoàng Gia

Lăng Hoàng Gia thuộc giồng Sơn qui, xã Long Hưng, thị xã Gò Công. Đường đi đến di tích bằng ôtô rất thuận tiện.
Lăng Hoàng Gia bao gồm mộ và nhà thờ dòng họ Phạm Đăng là thích lý của triều Nguyễn. Dòng họ Phạm Đăng đến đời thứ ba có ông Phạm Đăng Hưng làm quan dưới hai triều vua Gia Long và Minh Mạng. Ông chính là cha của Hoàng Thái Hậu Từ Dũ, là ông ngoại của vua Tự Đức. Năm 1826, triều đình nhà Nguyễn cho xây dựng tại đây đền thờ và lăng mộ dòng họ Phạm Đăng gọi là Lăng Hoàng Gia.
Phạm Đăng Hưng sinh năm 1764 là người thông minh, tuấn tú. Năm 1794 ông chuẩn bị thi tứ trường thì bị bệnh nên phải trở về quê làm ruộng. Nhưng vì nổi tiếng là người văn tài lỗi lạc và hiền đức nên được bổ làm "Lễ sinh nội phủ của triều Nguyễn" (thời vua Gia Long). Ông được mọi người biết đến qua nhân vật Ba Bị vì "đi đâu ông cũng mang theo ba bị ngũ cốc để phân phát cho dân nghèo". Trãi qua nhiều lần thăng gián vì bị gièm pha, cuối cùng ông đã được thăng chức "Quốc Sử Quán Tổng tài" năm Minh mạng thứ 2 (1821). Năm 1825, Phạm Đăng hưng bị bệnh mất tại Huế nhằm ngày 14 tháng 6 (AL), được vua Minh Mạng thăng hàm "Vinh Lộc Đại Phu Trụ Quốc Hiệp Biên Đại Học Sĩ Thuỵ Trung Nhã" và đưa về an táng tại Sơn Qui. Năm 1849, vua Tự Đức gia tặng "Đặc Tiến Kim tử Vinh Lộc Đại Phu Thái bảo cần Chánh Điện đại Học Sĩ Tước Đức Quốc Công". Từ đó, mọi người gọi ông là Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng.
Một năm sau khi Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng mất tức năm 1826, triều đình nhà Nguyễn cho xây dựng tại đây nhà thờ và lăng mộ dòng họ Phạm Đăng đúng theo kiến trúc phong thuỷ dành cho lăng tẩm vua quan lúc bấy giờ. Ngoài cùng là La Thành, giới hạn khuôn viên Lăng. Bên trong là Sân Chầu, với nhà Hành Lễ bên phải, nơi để dành cho mọi đến viếng Lăng. Sâu hơn nữa, Nhà Bia mà phạm vi được qui định bởi Thành Bao hình cung, mở rộng thêm nhờ hai cung Thành bao ở hai đầu. Khu vực này dành riêng cho thân tộc và vua chúa vào viếng lễ. Cấu trúc nền dốc từ trong ra ngoài, cung ranh giới Thành Bao thể hiện rõ tư tưởng phân chia giai cấp của chế độ phong kiến thời bấy giờ. Với phù điêu, những chạm trổ trên Mộ Bia, những long, lân, sư biểu tượng của giai cấp vua quan nơi Nhà Bia khẳng định uy quyền người đã khuất. Hiện nay tại Lăng có đến hai nhà bia, với lý do sau:
- Nhà Bia phía bên phải được làm vào năm 1849 bằng đá cẩm thạch trắng (đá Non Nước ở Đà Nẳng). Nhưng khi di chuyển từ Huế vào đến Sài Gòn bị Pháp lấy đem vào đất Thánh Tây Mạc Đỉnh Chi làm mộ bia cho Đại Uý Berbê vừa bị nghĩa quân Trương Định bắn chết. Năm 1999 tấm bia này đã được chuyển về đây.
- Nhà Bia bên trái là bia do vua Thành Thái cho làm lại bằng đá hoa cương (đá Ganis) năm 1899. Nội dung cũng giống như tấm bia ban đầu là ghi lại công trạng của Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng và dòng họ Phạm ở Gò Công là "Thích Lý của triều Nguyễn".
Cùng nằm trên khuôn viên Lăng còn có hệ thống mộ dòng họ Phạm Đăng được chôn theo một trục dài, toàn bộ đều làm bằng hồ ô dước, bao bọc chung quanh bằng một lớp tường dày và cao 90cm, các ngôi mộ tổ bố cục đơn giản theo hình vuông hoặc chử nhật).
Cách Lăng 30m về bên phải là nhà thờ dòng họ Phạm Đăng:
- Gian giữa là bàn thờ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng.
- Gian tả (trái) thờ Phước An Hầu Phạm Đăng Long, cha của Phạm Đăng Hưng.
- Gian tả ngoài thờ Mỹ Khá tử Phạm Đăng Tiên, ông cố Phạm Đăng Hưng.
- Gian hữu thờ Bình Thạnh Bá Phạm Đăng Danh, ông nội Phạm Đăng Hưng.
- Gian hữu ngoài thờ Thiềm Sư Phủ Phạm Đăng Khoá, ông sơ Phạm Đăng Hưng.
Nhà thờ được kiến tạo năm 1888 thời vua Thành Thái và năm 1921 thời vua Khải Định. Đây cũng là lúc nước ta chịu 30 năm thống trị của thực dân Pháp. Do vậy, kiến trúc nghệ thuật cũng bị ảnh hưởng không ít những vẫn giữ kiểu nhà ba gian đậm nét Việt Nam.
Tóm lại, Lăng Hoàng Gia là một di tích lịch sử văn hoá có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của Nam Bộ nói chung và Gò Công nói riêng. Vì Phạm Đăng Hưng và dòng họ của Ông là những người vào đây lập nghiệp từ đầu thế kỷ XVII (còn mộ bốn đời Phạm Đăng Hưng tại Sơn Qui.
Nhà thờ và mộ Phạm Đăng Hưng là một công trình kiến trúc nghệ thuật hài hoà giữa Âu và Á nhưng vẫn mang đậm nét truyền thống dân tộc được thể hiện qua các mãng chạm khắc trong nhà thờ và trên lăng mộ.
Di tích Lăng Hoàng Gia, được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận di tích cấp quốc gia năm 1992./.



                                         Các hình ảnh về di tích lịch sử dân tộc Lăng Hoàng gia

Di tích lịch sử dân tộc: Lăng Tứ Kiệt

Lăng Tứ Kiệt là tên gọi mộ và đền thờ của bốn vị anh hùng chống Pháp ở Cai Lậy gồm: Nguyễn Thanh Long; Trần Công Thận (Trần Quang Thận); Trương Văn Rộng và Ngô Tấn Đước (Đức) đã lãnh đạo nhân dân và nghĩa quân Cai Lậy–Cái Bè đứng lên chống Pháp xâm lược trong những thập niên cuối của thế kỷ XIX

Lăng Tứ Kiệt là tên gọi mộ và đền thờ của bốn vị anh hùng chống Pháp ở Cai Lậy gồm: Nguyễn Thanh Long; Trần Công Thận (Trần Quang Thận); Trương Văn Rộng và Ngô Tấn Đước (Đức) đã lãnh đạo nhân dân và nghĩa quân Cai Lậy–Cái Bè đứng lên chống Pháp xâm lược trong những thập niên cuối của thế kỷ XIX. Sau khi Bốn ông hy sinh ngày 14 tháng 2 năm 1871, nhân dân lập mộ và đền thờ tại Thị trấn Cai Lậy và để tỏ lòng tôn kính nhân dân gọi là Lăng Tứ Kiệt.

Theo lời truyền của dân gian, bốn ông đều là những người can đảm và mưu lược hơn người, thân hình cao lớn, gương mặt cương nghị, da màu đồng đen, sức khỏe phi thường và võ nghệ cao cường.

Vốn có lòng yêu nước nồng nàn, khi giặc Pháp xâm lược tỉnh Định Tường (1861), bốn ông đã tham gia lực lượng nghĩa quân do Thiên Hộ Dương lãnh đạo. Cùng với những nghĩa quân khác, bốn ông đã tham gia nhiều trận đánh ác liệt ở vùng Ba Giồng, Chợ Gạo, Mỹ Tho…trong quá trình chiến đấu, bốn ông đã lập được nhiều chiến công vang dội. Khi cuộc khởi nghĩa Thiên Hộ Dương bị thực dân Pháp đàn áp dã man và căn cứ Đồng Tháp Mười bị tan vỡ vào năm 1866, bốn ông trở về Cai Lậy chiêu tập nghĩa sĩ, tiếp tục đứng lên chống Pháp.

Vào ngày 01/01/1871 bốn ông đều sa vào tay giặc, bộn chúng dùng những thủ đoạn vô cùng thâm độc hòng buộc bốn ông phải đầu hàng như: vừa mua chuộc, dụ dỗ vừa tra tấn dã man. Đặc biệt, bọn chúng còn bắt những người thân của bốn ông ra đánh đập hết sức tàn bạo nhằm rúng ép bốn ông phải quy thuận. Thế nhưng, trước sau bốn ông đều khẳng khái tuyên bố “sinh vi tướng, tử vi thần” quyết không chịu khuất phục. Bất lực trước ý chí bất khuất của bốn ông, nên ngày 14/02/1871 (nhằm ngày 25 tháng chạp năm Canh Ngọ) thực dân Pháp đã xử chém bốn vị anh hừng dân tộc tại chợ Cai lậy. Dã man hơn chúng đã bêu thủ cấp của bốn ông trong suốt bảy ngày liền nhằm khủng bố, uy hiếp tinh thần của nhân dân, sau đó vùi đầu của bốn ông xuống mé ruộng ven đường.

Cảm phục cuộc đời và tấm gương chiến đấu oanh liệt, bất khuất của bốn ông, nhân dân Cai Lậy đã đấp nên một đất, xung quanh có làm hàng rào bằng gỗ tốt, quét vôi trắng và sau nhiều lần sửa chữa, trùng tu. Năm 1999, Lăng mộ của bốn ông được tỉnh Tiền Giang trùng tu với quy mô lớn, trông rất khang trang và cổ kính, phía trước cổng có tôn trí câu đối:

Tứ vị anh hùng vị quốc hy sinh vĩnh niệm.
Kiệt nhân nghĩa cử tinh thần bất khuất lưu tồn.


Hằng năm Chính quyền, các Đoàn thể và nhân dân huyện Cai Lậy cúng bốn vị anh hùng dân tộc vào ngày 14/02 tại Lăng Tứ Kiệt.

Di tích Lăng Tứ Kiệt được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích cấp quốc gia năm 1999. Lăng Tứ Kiệt nằm trên đường 30 tháng 04 thuộc khu phố I, thị trấn Cai Lậy, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Vì di tích nằm giữa trung tâm Thị trấn nên đi đến bằng ô tô rất thuận lợi./.

Các hình ảnh về di tích lịch sử dân tộc Lăng Tứ Kiệt


Di tích kiến trúc nghệ thuật: Nhà Đốc Phủ Hải

Nhà truyền thống thị xã Gò Công là một công trình kiến trúc phong kiến cuối thế kỷ 19 đầu 20 vùng Gò Công Tiền Giang, ngôi nhà này được khởi công xây dựng từ giữa những năm 1860

- Tên gọi chính thức: Nhà Đốc Phú Hải

- Tên gọi khác: Nhà truyền thống thị xã Gò Công, nhà Bà Huyện.

+ Cuối thế kỷ 19 Tri huyện Huỳnh Đình Ngươn là chồng bà Dương Thị Hương-con rể bà Trần Thị Sanh về đây an dưỡng lúc tuổi già nên gọi là nhà Bà Huyện.

+ Đến đời con rể bà Hương làm Đốc Phủ Sứ là Nguyễn Văn Hải (Phú Hàm) về ở, cho xây thêm nhiều công trình phụ chung quanh gọi là nhà Phú Hải.

+ Từ năm 1980 đến năm 1999, ngôi nhà này được Huyện uỷ, UBND thị xã Gò Công làm Nhà truyền thống thị xã Gò Công.

+ Từ năm 2000 đến nay, được đổi lại là Nhà Đốc Phủ Hải.

Nhà Đốc Phú Hải thuộc phường I, thị xã Gò Công, giữa các khu phố dân cư đông đúc, phương tiện đi đến di tích bằng ôtô rất thuận lợi băng hai con đường:

- Từ thành phố Hồ Chí Minh đi Gò Công bằng quốc lộ 50.

- Bằng đường liên tỉnh lộ 24 từ Mỹ Tho xuống Gò Công khoảng 35km.

Nhà truyền thống thị xã Gò Công là một công trình kiến trúc phong kiến cuối thế kỷ 19 đầu 20 vùng Gò Công Tiền Giang, ngôi nhà này được khởi công xây dựng từ giữa những năm 1860.

Giữa những năm 1860 bà Trần Thị Sanh rời gia đình chồng cùng con gái là Dương Thị Hương về đây cất nhà để ở, lúc đó ngôi nhà này được cất theo dạng chử Đinh, ba gian lợp lá. Ít lâu sau để chuẩn bị đám cưới con gái, bà Sanh làm lại lợp ngói âm dương.

Vào khoảng năm 1860-1885, Huyện Ngươn là chồng bà Dương Thị Hương chán cảnh quan trường về ở đây cho tu sửa ngôi nhà này khang trang rộng đẹp, nguy nga có tiếng để dưỡng già. Khi ông qua đời bà Hương ở cùng con gái út là Trần Thị Điệu.

Từ 1885-1890 phong trào xây dựng dinh cơ nổi lên ở Gò Công, các gia đình địa chủ kheo khoang nhà cửa. Chồng bà Điệu là Nguyễn Văn Hải có chút tân học-tài sản cho xây thêm tiền sảnh, hai nhà vuông hai bên phía sau nhà chính để những người làm công trong nhà ở và sắm sửa thêm nhiều đồ đạc Tây, Tàu về chưng dọn trong nhà (nên còn gọi là nhà Phủ Hải).

Năm 1909-1917 ngôi nhà được tu bổ thêm xây tường, làm hàng rào sắt, phía sau xây thêm lẫm lúa rất lớn. Trong đợt trùng tu này tốn hết 10.000 giạ lúa tương đương 250 tấn thóc lúc bấy giờ.

Toàn cục ngôi nhà thành thể cách nội công ngoại quốc rất đặc biệt. Địa cuộc bên ngoài quay về phía Bắc, sau lưng quay về phía Nam. Gồm ba phần: nhà chính có diện tích là 533,26m2, hai nhà vuông 196,4m2 và lẫm lúa. Vật lệu xây dựng chủ yếu là gỗ, gạch, xi-măng, ngói.

Nhà Đốc Phủ Hải thuộc loại kiến trúc dân dụng nhà ở của địa chủ phong kiến cuối thế kỷ 19 đầu 20. Nhà được xây cất theo dạng chữ Đinh (lúc ban đầu), qua nhiều lần tu bổ và xây dựng, toàn bộ ngôi nhà ngày nay gồm ba phần: nhà chánh, hai nhà vuông-nơi ở của những người giúp việc và lẫm lúa (kho thóc của địa chủ).

- Nhà chánh: ba gian hai chái toàn bộ lợp ngói âm dương gồm 36 cây cột, trong đó gỗ chiếm 30 cây gỗ căm xe và gõ.

Tiền sảnh làm theo kiểu Châu Âu, trên các đầu cột và vòm cửa chạm nổi hoa văn dây nho. Các xiên trính đều chạm ba mặt và ở hai đầu. Trên đố và vòm cửa có trang trí bằng nhiều tác phẩm chạm khắc, thể hiện nhiều đề tài khác nhau lồng trong các khung kính hình chữ nhật và hình vuông. Bên trong các khung: tứ quí, hoa, trái, chim, thú tượng trưng cho các loại hoa trái Nam Bộ, trên 4 góc khung có 4 con bướm đang bay hướng vào vòng tròn.

Vào trong nhà tiền đường nối các khoảng cột với nhau là các bộ bao lam bằng gỗ chạm hai mặt thể hiện các đề tài tứ linh, tứ quí, bát bửu. Bên cạnh các bao lam là liễn đại tự để thờ, liễn treo trên cột được khảm xà cừ óng ánh, độc đáo với các tích truyện Tàu ngày xưa: nhị thập tứ hiếu, Văn Vương cầu hiền… hoặc các nhạc cụ cổ truyền Việt Nam: đàn bầu, tỳ bà, sáo trúc được các nghệ nhân thể hiện rất công phu tỉ mỉ. Trên các khánh thờ chạm lưỡng long chầu nguyệt và thếp vàng.

Ngoài các khuôn biển, các liễn đại tự, các đôi liễn trên các vách cột, phải kể đến các đồ dùng quí hiếm hiện nay còn để lại như: tủ, ghế khảm xà cừ, bàn đá cẩm thạch, đồ sứ Trung Quốc và Việt Nam thế kỷ 17-18. Giường Tàu (giường Thất Bảo) mặt loát 6 tấm đá cẩm thạch màu sắc khác nhau, thanh chân chạm nổi hoa lá và khảm xà cừ. Hai bộ đi văng bằng đá cẩm thạch màu trắng vân đen… Đặc biệt các bức tranh vẽ trên kính, hai bộ tranh hạt cườm bằng nhung đỏ, 8 tấm thêu mai-lan-cúc-trước, xuân-hạ-thu-đông.

Tóm lại, các tác phẩm chạm trổ hai mặt, khảm xà cừ được trang trí trong nhà rất phong phú đề tài thể hiện triết lý Nho-Lão-Phật. Ơû đây tác giã đã mạnh dạn đưa nhiều đề tài dân gian và những loại sản vật mang đậm nét vùng Gò Công nói riêng và đồng bằng Nam bộ nói chung. Đồng thời thể hiện nghề chạm khảm xà cừ của vùng Gò Công có tiếng từ xưa đến nay, xứng với câu khen ngợi dân gian:

“Nhất tủ Gò Công, nhì salon Sông Bé”

Với các công trình còn lại của ngôi nhà và hơn 350 khuôn biển trang trí, đại tự, liễn khảm xà cừ + 70 cổ vật có trong nhà hiện nay thì nhà Đốc Phủ Hải là một trong những ngôi nhà địa chủ phong kiến còn lại tiêu biểu nhất ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Tiền Giang nói riêng.

Nhà Đốc Phủ Hải được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1994./.

Các hình ảnh về di tích kiến trúc nghệ thuật Nhà Đốc Phủ Hải


Đình Long Trung

Dựa vào tên trên biển cổng và các lá sắc phong thì trước đây Đình được gọi là Mỹ Đông Trung Đình. Sau cách mạng tháng tám năm 1945 hai làng Hưng Long và Mỹ Long Trung được sát nhập lại thành một, lấy hai chữ cuối của hai làng là Long và Trung để đặt tên cho xã mới là Long Trung. Đình cũng được gọi tên theo xã từ Mỹ Đông Trung Đình thành Đình Long Trung

Dựa vào tên trên biển cổng và các lá sắc phong thì trước đây Đình được gọi là Mỹ Đông Trung Đình. Sau cách mạng tháng tám năm 1945 hai làng Hưng Long và Mỹ Long Trung được sát nhập lại thành một, lấy hai chữ cuối của hai làng là Long và Trung để đặt tên cho xã mới là Long Trung. Đình cũng được gọi tên theo xã từ Mỹ Đông Trung Đình thành Đình Long Trung.
                                                   Di tích kiến trúc nghệ thuật: Đình Long Trung 

Thời phong kiến Đình là nhà công cộng của làng, để họp việc làng. Do vậy, để nhân dân lui tới thuận tiện trong điều kiện sống ở vùng sông nước nên Đình Long Trung được lập cạnh Rạch Ông Bảo, tại khu phố chợ Ba Dừa, thuộc ấp 17 xã Long Trung, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (xưa là làng Mỹ Đông Trung, huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tường).

Đình Long Trung nằm cách trung tâm huyện lỵ Cai Lậy 10km về phía Nam. Đi đến di tích bằng ô tô rất thuận lợi: từ TP. Hồ Chí Minh đi Vĩnh Long, đến thị trấn Cai Lậy ngay ngã tư Ba Dừa rẽ trái đi vào 10km, đến ngã ba Long Tiên (nghĩa trang liệt sĩ huyện Cai Lậy) rẽ tay phải đi vào 700m là đến di tích.

Đình Long Trung do dân làng lập vào khoảng cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 để thờ cúng các vị thần Thành Hoàng mà họ tín ngưỡng cùng những người có công khai khẩn đất hoang lập làng.

Đình Long Trung thuộc loại hình kiến trúc nghệ thuật cổ, có giá trị về lịch sử. Theo sắc phong của Triều Nguyễn vào năm 1811 (thời vua Thiệu Trị) phong cho Thần làng Mỹ Đông Trung là Thượng Đẳng Thần, gồm có 6 lá sắc thần, 03 lá Đại Càn thờ ở Miếu, 03 lá thờ ở đình. Nhìn tổng thể kiến trúc, đình được xây dựng theo dạng chữ = gồm 3 dãy nhà ngang: Võ ca, Chánh điện, Hậu đường được xây dựng bằng các loại gỗ quí, gạch ngói và chất kết dính là hồ ô dước theo kỹ thuật truyền thống; kèo cột, xiên trích và bộ sườn của mái kết cấu với nhau bằng hệ thống mộng, chốt rất tinh vi và sắc xảo mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, thể hiện qua kỹ thuật xây dựng, kết cấu vật liệu và các họa tiết trang trí bên trong, góp phần làm tăng nét uy nghiêm, lộng lẫy bên trong đình được trang trí các bao lam, hình võng, các tấm hoành phi, câu đối, các bàn thờ... được chạm trỗ công phu, tinh xảo, đặc sắc với các đề tài thể hiện sự trang nghiêm nơi thờ tự.

Đình Long Trung còn lưu giữ nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể rất độc đáo ở Tiền Giang. Đặc biệt là các tấm hoành chạm 3 lớp kết hợp với các tượng tròn trang trí bên trên, các nghi thức tế lễ và lễ hội chưng nghi của nhân dân vào ngày 16 tháng 11 (AL) hàng năm.

Năm 1896, ông Huỳnh Nhất Vinh một nhà nho đến làng Mỹ Đông Trung mở trường dạy học đã cho trùng tu xây dựng lại ngôi đình có qui mô to rộng như ngày hôm nay.

Lần trùng tu thứ hai vào năm 1944 do ông Hồ Đắc Phong-một vị chức sắc trong vùng đứng ra chủ trì và ông đã cho chuyển đổi Cổng tam quan từ phía trước đình (cặp Rạch Ông Bảo) ra phía sau đình (cổng hiện nay).

Từ đó cho đến nay đã trãi qua nhiều lần tu sửa nhưng Đình Long Trung vẫn giữ được nét kiến trúc ban đầu mới xây dựng.

Đình Long Trung là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng và văn hoá của nhân dân địa phương từ khi lập làng cho đến nay. Mỗi năm đình có 03 lần cúng vào các ngày 12/01; 16-17/11 và 12/12 (AL). Lần cúng vào ngày 16-17/11 là lệ cúng Kỳ Yên. Đây là lần cúng quan trọng và lớn nhất ở Đình Long Trung. Trong lần cúng này có tổ chức trưng bày những tác phẩm chưng kết, hoa kiểng, những mâm ngũ quả… là những nông sản của nhân dân địa phương làm ra, đồng thời trong lễ hội Kỳ Yên cũng là dịp trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất, thể hiện bản sắc văn hoá rất riêng của nông dân Tiền Giang.

Ngoài ra, nhằm giới thiệu giá trị văn hoá của di tích với khách tham quan trong và ngoài tỉnh, Công ty Du lịch Tiền Giang đã đưa di tích Đình Long Trung vào tour du lịch xanh-văn hoá miệt vườn vùng Cai Lậy-Tiền Giang, bởi vì Long Trung và các xã lân cận là vùng cây ăn quả đặc sản của tỉnh, đồng thời cũng là vùng nhân dân còn giữ được nhiều truyền thống văn hoá miệt vườn nhất ở Tiền Giang.

Đình Long Trung được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1999./.

Di tích kiến trúc nghệ thuật: Chùa Bửu Lâm

“Về sông Bảo Định bờ đông
có ngôi chợ Cũ, có chùa Bửu Lâm”


Đến Mỹ Tho, mà không đến chùa Bửu Lâm, hẳn là một thiếu sót, ngày xưa ở vùng đất này từng có câu ca:

“Về sông Bảo Định bờ đông
có ngôi chợ Cũ, có chùa Bửu Lâm”



Tương truyền, khoảng đầu thế kỷ XVIII, có một ni cô từ miền Trung theo đoàn di cư đi lập nghiệp, đến đây định cư rồi cất một am tranh ở để tu. Ni cô biết thuốc nam nên ra sức khai khẩn đất để trồng nhiều loại thuốc quý chữa trị cho mọi người. Với tinh thần từ bi, cứu khổ, danh tiếng ni cô được đồn xa, bá tánh đến cúng dường ngày một đông. Nhờ thế, ni cô cất được ngôi chùa khá khang trang vào khoảng năm 1742 (đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát). Sau khi ni cô viên tịch chùa trở nên vắng vẻ. Năm Gia Long thứ 2 (1803) bà Phạm Thị Đạt một Phật tử giàu có và mộ đạo nhất trong vùng sang Bến Tre vào chùa Hội Tôn đãnh lễ. Hoà Thượng Tổ Trí-Khánh Hưng cho đệ tử là ngài Tiên Thiện, pháp danh Từ Lâm về làm trụ trì chùa, nhờ vào sự cúng dường của bà Phạm Thị Đạt, hoà thượng Tiên Thiện đã cất mới ngôi chùa rộng lớn bằng gỗ căm xe và đã đặt tên chùa là “Bửu Lâm” với ước muốn bảo tồn và phát triển dòng Lâm Tế Chánh Tông.

Chùa Bửu Lâm là một di tích kiến trúc nghệ thuật thuộc loại hình kiến trúc tôn giáo được xây dựng gồm 03 phần: tiền đường, chánh điện, hậu tổ. Vào gian chánh điện mới thấy được vẻ tráng lệ của chùa được trang trí 09 bộ bao lam với những hoạ tiết và đường nét tinh vi, độc đáo, bộ bao lam trước bàn thờ chánh điện được chạm lộng công phu với bộ “ Cửu Long tranh châu “ và đôi long trụ “Cá Hoá Long” sơn son thiếp vàng óng ánh. Các bộ bao lam còn lại được chạm khắc mai điểu, song phụng chầu cuốn thư, mẫu đơn, chim trỉ và các họa tiết tứ linh, tứ quí, sen áp tùng lộc… Chùa thờ Phật theo Phật giáo Đại thừa thuộc dòng Lâm tế Chánh Tông. Tất cả nằm trên một nền cao 1m có diện tích 987,68 m2, xung quanh có vườn cây ăn trái và khuôn viên cây cảnh, kiểng.

Cũng như mọi chùa khác chùa Bửu Lâm cũng được trang trí những câu đối trên cột hoặc trên khánh thờ ở các bàn thờ, trên các tấm thư quyển treo trên đầu các tấm liễng hoặc các đôi long trụ … Nội dung các câu đối thường toát lên triết lý nhà Phật và ca ngợi công đức của các vị Hoà Thượng. Tất cả đều được sơn son thiếp vàng óng ánh hoặc khảm ốc xà cừ, làm cho chùa càng thêm uy nghiêm rực rỡ nơi thờ phụng. Tất cả như có hàm ý sự vật trường tồn với thời gian và mang lại sự tốt đẹp hạnh phúc cho con người.

Chùa còn có những tượng Phật cổ có niên đại thế kỷ XVIII, XIX cùng hàng trăm các di vật quí hiếm khác còn giữ lại cho đến ngày nay. Chùa Bửu Lâm xứng danh là một trong những cổ tự tiêu biểu nhất của thế kỷ XIX ở Tiền Giang nói riêng và của đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Cho đến nay đã trãi qua 10 đời truyền thừa hơn 200 năm tồn tại, nhiều lần tu sửa nhưng chùa vẫn còn giữ được nét kiến trúc ban đầu và còn lưu giữ khá nhiều hiện vật chạm khắc gỗ tinh xảo, có giá trị được làm từ những bàn tay của các nghệ nhân vùng Nam bộ.

Chùa Bửu Lâm toạ lạc tại số 162B, khu phố 7, đường Anh Giác, Phường 3, TP. Mỹ Tho. Di tích nằm tại trung tâm thành phố nên đường đi đến bằng ô tô rất thuận tiện. Từ ngã ba Trung Lương đi vào TP. Mỹ Tho đi thẳng trên đường Ấp Bắc khoảng 4km, qua cầu Nguyễn Trải 30m nhìn trái là thấy di tích.

Chùa Bửu Lâm được Bộ VHTT công nhận là di tích cấp quốc gia năm 1999./.Di tích lịch sử cách mạng: 

Chiến thắng Giồng Dứa

Giồng Dứa là một bộ phận của Ba Giồng ở Tiền Giang (cánh én, kỳ lân và qua qua) chạy theo hướng Bắc - Nam, xuất phát từ xã Tam Hiệp chạy đến cặp lộ Đông Dương (quốc lộ I) thuộc ấp Đông xã Long Định huyện Châu Thành, do quá nhiều cây dứa gai mọc hoang um tùm nên nhân dân địa phương gọi là Giồng Dứa

Giồng Dứa là một bộ phận của Ba Giồng ở Tiền Giang (cánh én, kỳ lân và qua qua) chạy theo hướng Bắc - Nam, xuất phát từ xã Tam Hiệp chạy đến cặp lộ Đông Dương (quốc lộ I) thuộc ấp Đông xã Long Định huyện Châu Thành, do quá nhiều cây dứa gai mọc hoang um tùm nên nhân dân địa phương gọi là Giồng Dứa.

Giồng Dứa nằm cách trung tâm thành phố Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang) 10km về phía Tây, tại đoạn km 1974 + 250 quốc lộ I, thuộc ấp Đông, xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Hiện nay nằm trong khu vực đất của Trường quân sự địa phương (tỉnh Tiền Giang). Rất thuận lợi khi đến di tích bằng phương tiện giao thông đường bộ.

Chiến thắng Giồng Dứa là di tích lịch sử cách mạng thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta trong giai đoạn 1945-1954.

Chính tại nơi đây trong những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược, quân và dân Mỹ Tho (Tiền Giang) dưới sự chỉ huy của đồng chí Trần Văn Trà Khu Bộ trưởng Khu 8, đánh tiêu diệt đoàn xe Công voa và đoàn xe của chính phủ bù nhìn Nam Kỳ tự trị ngày 25 tháng 04 năm 1947.

Quân ta đã phá huỷ 14 xe, diệt 80 tên trong đó có tên Trocard-đại tá chỉ huy tình báo, bắt sống 07 tên có kỷ sư Lefouse, tên đốc phủ Bích và Trương Vĩnh Khánh-Bộ trưởng của chính phủ Nam Kỳ tự trị. Ta hy sinh 01 đồng chí Nguyễn Doãn Bảy-đại đội trưởng. Cảm xúc trước chiến thắng này, hoạ sĩ Diệp Minh Châu tự lấy máu tay mình vẽ chân dung Bác Hồ kính yêu trên mãnh lụa để tặng Người.

Theo đánh giá của Phòng khoa học lịch sử quân sự quân khu 9: “Chiến thắng Giồng Dứa (Mỹ Tho) là một trong những trận tiêu diệt tiêu biểu ở nước ta trong những tháng đầu toàn quốc kháng chiến. Là những trận tiêu diệt địch lớn có tác dụng thối động hàng ngũ địch góp phần làm thất bại âm mưu bình định Nam Bộ (đồng bằng sông Cửu Long) của giặc Pháp và thúc đẩy khí thế đấu tranh cách mạng tạo được sự tin tưởng, phấn khởi trong nhân dân từ địa phương đến cả nước.

Chiến thắng Giồng Dứa đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng vũ trang ta nói chung cả về trình độ nghệ thuật tác chiến, chỉ huy, sử dụng lực lượng, bố trí thế trận của cuộc chiến tranh nhân dân. Đồng thời khẳng định tinh thần chiến đấu anh dũng mưu trí của cán bộ chiến sĩ địa phương sẵn sàng vùng lên bảo vệ độc lập, tự do của tổ quốc theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng và Hồ Chủ Tịch”.

Năm 1985 Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tiền Giang xây dựng tại đây 01 tượng đài chiến thắng gồm: tượng tròn và phù điêu mô tả trận đánh do hai nhà điêu khắc Đỗ Như Cẩn và Phạm Mười tạo mẫu, đồng chí Thượng tướng Trần Văn Trà làm cố vấn tượng đài mô tả lại cảnh chiến đấu đốt xe địch của quân ta bằng 3 thứ quân, với nhân vật được thể hiện: nữ dân quân, vệ quốc quân và một nông dân thổi tù và.

Năm 2000 do nhu cầu mở rộng quốc lộ I, tượng đài đã được quy hoạch tôn tạo lại và di dời vào trong 40m, xây dựng trong một khuôn viên gần 1 ha (8826m2) với các hạng mục công trình như: công viên, vườn hoa, cây cảnh, hồ cảnh bao bọc chung quanh. Tượng đài và phù điêu chất liệu bêtông cốt thép cao 7m dài 24 m.

Di tích Giồng Dứa được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích cấp quốc gia năm 2003./.

Các hình ảnh về di tích lịch sử cách mạng Chiến thắng Giồng Dứa


Di tích lịch sử cách mạng: Chiến thắng Cổ Cò 

Địa điểm di tích chiến thắng Cổ Cò nằm trên quốc lộ 1A thuộc xã An Thái Đông, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Đầu năm 1947, nắm chắc tình hình tiểu đoàn Léon của Pháp sau khi đi càn quét vùng Chợ Mới thuộc tỉnh Long Châu Tiền (nay là tỉnh An Giang) sẽ rút quân về Sài Gòn, đúng như dự đoán ngày 22/01/1947 tiểu đoàn Léon của Pháp rút quân về Sài Gòn nên trong đêm 21/01/1947 (đêm 30 tết) ta gấp rút chuẩn bị trận phục kích và sẵn sàng vào vị trí chiến đấu. Lúc 10 giờ 30 sáng ngày 22/01/1947 (mùng 1 tết Đinh Hợi) đoàn xe quân sự chở đầy lính có xe thiết giáp bảo vệ lọt vào trận địa phục kích, quân ta cho nổ mìn khoá đầu ở cầu Rạch Miễu diệt ngay chiếc xe đi đầu chặn đoàn xe lại. Các đơn vị của ta đồng loạt nổ súng xung phong mãnh liệt. Quân địch bị đánh bất ngờ, lúc đầu địch chống trả yếu ớt và chạy tán loạn nhưng sau đó dựa vào võ xe bọc thép chúng bắn trả quyết liệt.

Nhưng chỉ sau 45 phút giao tranh các đơn vị của ta lần lượt đè bẹp sức đề kháng của quân địch, đại bộ phận quân địch bị tiêu diệt, ta hoàn toàn làm chủ trận địa, số sống sót tháo chạy về hướng Mỹ Thuận bị các đơn vị địa phương chặn diệt gần hết. Tại Mỹ Thiện lúc 13 giờ một bộ phận của chi đội 17 chặn đánh làm thiệt hại nặng một đại đội địch từ Sài Gòn đến chi viện. Sau gần 2 giờ chiến đấu, ta diệt đại bộ phận tiểu đoàn binh cơ giới thiện chiến của Pháp, diệt và làm bị thương 170 tên, bắt 15 tên (có 01 tên Trung uý Bernard người Đức), phá huỷ 14 xe quân sự (có 08 xe thiết giáp), thu 100 súng (có 15 trung liên, 08 đại liên, 12 súng ngắn). Về phía ta 03 đồng chí hy sinh và 02 bị thương.

Trận đánh Cổ Cò đánh dấu bước trưởng thành của bộ đội chủ lực khu 8 và bộ đội địa phương tỉnh Mỹ Tho về trình độ tác chiến chỉ huy, bố trí thế trận, sử dụng lực lượng và cách đánh phục kích. Thể hiện tinh thần chiến đấu mưu trí, dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ; góp phần thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích ở địa phương cũng như cả nước phát triển mạnh mẽ. Chiến thắng Cổ Cò là trận đánh lớn đầu tiên trên chiến trường Khu 8, kể từ khi hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chiến thắng Cổ Cò làm cho nhân dân ta liên tưởng đến chiến thắng Ngọc Hồi-Đóng Đa của Hoàng Đế Quang Trung như sau:

"Trận Cổ Cò tưởng nhớ đến Quang Trung
Việt Nam xưa nay lắm anh hùng
Mùng một Tết thắng quân xâm lược
Trên đất này xuất hiện Quang Trung"


Với ý nghĩa trên, địa điểm khu di tích lịch sử Chiến thắng Cổ Cò đang trong quá trình chuẩn bị xây dựng tượng đài chiến thắng và khu công viên cây cảnh với diện tích trên 5.000m để phục vụ khách tham quan, địa điểm khu di tích lịch sử Chiến thắng Cổ Cò nằm cạnh quốc lộ 1A nên rất thuận lợi cho du khách đến tham quan. Di tích lịch sử Chiến thắng Cổ Cò được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích cấp quốc gia năm 2001./.

Di tích cách mạng: Bến đò Phú Mỹ

Di tích Bến đò Phú Mỹ là di tích lịch sử cách mạng-nơi ghi dấu tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta vào những năm 1945-1947 trong giai đoạn Pháp trở lại xâm lược nước ta

Làng Phú Mỹ xưa thuộc Tân Hiệp tỉnh Định Tường, ngày nay di tích Bến đò Phú Mỹ thuộc xã Phú Mỹ, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, cách Quốc lộ I khoảng 10km, nằm bên trái từ Mỹ Tho đi thành phố Hồ Chí Minh, đường đi đến di tích bằng ô tô rất thuận lợi.

Di tích Bến đò Phú Mỹ là di tích lịch sử cách mạng-nơi ghi dấu tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta vào những năm 1945-1947 trong giai đoạn Pháp trở lại xâm lược nước ta. Với lần trở lại này chúng dùng thủ đoạn vô cùng tàn ác với một hệ thống kìm kẹp, càn quét tàn sát của bè lũ tay sai hết sức tàn án giả mang, đầu não là đồn Tây tại Bến đò Phú Mỹ gần 10 tên lính Pháp với vũ khí trang bị chánh qui, nên người dân nơi đây chỉ có hai con đường: một là vào đạo Cao Đài, hai là tham gia kháng chiến hoặc bỏ xứ ra đi.

Đồng bào ở đây đã chứng kiến những tội ác cực kỳ man rợ của giặc Pháp, nổi cộm nhất là tên giặc Pháp có biệt danh là "Tây Búa" do trong người nó lúc nào cũng có lận một cây búa nhỏ làm biểu tượng thị uy trang sức của nó. Chúng đã dùng búa chặt đầu những đồng chí, những người dân nghèo khó mà chúng tình nghi có quan hệ kháng chiến hoặc không chịu vào lính Cao Đài rồi bêu trên các cọc tre, treo cổ, xỏ xâu vào bàn tay từng xâu đem bắn, có trường hợp chúng đeo đá vào cổ rồi xô xuống kinh gọi là đi "mò tôm".... Số lượng người bị chúng thảm sát không thể tập hợp chính xác là bao nhiêu, chỉ đơn cử vài trường hợp sau đây: ông Nhiêu, ông Thuỷ là du kích bị giặc Pháp dùng xe kéo lê và treo cổ tại Bến đò Phú Mỹ; ông Tư Hơn, ông Sáu Sánh, ông Lựu, ông Bảy Phải, ông Lạc bị chặt đầu liệng xác xuống kinh; ông An, là bộ đội, cha con ông Tám Tui, bà Thảnh làm Hội phụ nữ bị chặt đầu gần chợ Phú Mỹ; ông xếp Đinh bị chúng cho đeo đá vào cổ rồi xô xuống kinh gọi là cho đi "mò tôm"…

Trong một đợt càn quét của giặc Pháp cùng với lính Cao Đài chúng bắt được 15 người dân và du kích, giam trong chiếc ghe chài. Nhóm người này phá cửa chạy thoát chỉ còn ông Tư (Công an xã) bị bắt trở lại, bọn chúng đem ông Tư đi chặt đầu, xẻ thịt bắt dân và ghe buôn phải mua với giá cái đầu là 50 đồng bạc Đông Dương, mỗi xâu thịt 1kg giá 5 đồng, chúng còn treo bày thịt người ở bờ kinh ép mọi người đi ngang qua phải mua. Đồng bào buộc lòng phải nhận mua và lén đem đi chôn.

Đã hơn 60 năm qua, nhưng mỗi khi nhắc đến là người dân nơi đây không khỏi bàng hoàng nhớ về một thời kỳ đầy man rợ mà thực dân Pháp đã gây ra đối với dân làng Phú Mỹ. Khu bót Tây xưa nay đã xây dựng bia căm thù với bức phù điêu chạm nổi những hình ảnh, sự kiện thảm sát dã man của thực dân Pháp với đồng bào, đồng chí tại xã Phú Mỹ: tên Pháp đang giơ cao cây búa chặt đầu người, tên khác đang xách đầu người bị chặt... Những hình ảnh đau thương gợi nhớ một thời đất nước, nhân dân ta sống dưới ách thuộc địa của thực dân Pháp như nhắc nhỡ chúng ta về tội ác đất không dung, trời không tha mà kẻ thù đã gây ra cho đồng bào ta trong những năm 1947-1949.

Di tích được được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích cấp quốc gia năm 1994./.

Các hình ảnh về di tích lịch sử Bến đò Phú Mỹ



Di tích lịch sử dân tộc CHIẾN THẮNG RẠCH GẦM - XOÀI MÚT

Rạch Gầm Xoài Mút là tên hai con rạch đổ ra sông Tiền, (một nhánh lớn của sông Mê kông). Rạch Gầm còn gọi là Ca răm (có nghĩa là con cọp); còn Xoài Mút từ tên gọi cây xoài hột, khi ăn chỉ mút hột của nó.

Rạch Gầm - Xoài Mút là nơi đầu tiên trên địa bàn phía Nam của Tổ quốc đã diễn ra một trận thủy chiến chiến lược đánh tan 300 chiến thuyền, 5 vạn quân Xiêm xâm lược và tập đoàn phong kiến bán nước Nguyễn Ánh vào đêm 19 rạng sáng 20 tháng 01 năm 1785.

Có thể nói, chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút là một chiến công chống ngoại xâm lừng lẫy của nhân dân Đàng Trong, lớn nhất trong 5 thế kỷ kể từ chiến thắng Bạch Đằng ở thế kỷ thứ 13. Với chiến thắng này, nhân dân miền Nam đã nêu cao truyền thống anh hùng của dân tộc và xứng đáng là bức thành kiên cố phía Nam của Tổ quốc.

Khu di tích Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút tọa lạc tại ấp Đông, xã Kim Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, nằm cạnh bờ sông Tiền, ngay mặt tiền tỉnh lộ 864, cách Mỹ tho khoảng 12 km về phía tây. Di tích đã được đưa vào sử dụng vào ngày 20 tháng 01 năm 2005 nhân kỷ niệm 220 năm ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút, với diện tích 1,5 ha gồm 03 nhà trưng bày:

- Nhà trưng bày số 1: trưng bày dãy tranh ghép gốm và nhiều hiện vật liên quan đến trận đánh.

- Nhà trưng bày số 02: trưng bày bộ sưu tập hiện vật về Rạch Gầm - Xoài Mút, có khoảng 546 hiện vật lớn nhỏ bao gồm những phương tiện sử dụng và vũ khí gươm giáo của quân Tây Sơn Nguyễn Huệ và quân Xiêm.

- Nhà cổ Nam Bộ: 03 gian, 02 chái, 48 cột gỗ căm xe, mái ngói âm dương, nhà có diện tích 225m2. Đây là nơi dùng để trưng bày và tiếp khách.

Nhìn tổng quan, đây là một khu di tích đẹp, thoáng mát, thơ mộng, nằm cạnh bờ sông xen giữa khu vườn cây ăn trái, bên cạnh có nhà hàng Rạch Gầm với lối kiến trúc gỗ, tre, nứa rất mát mẻ và lạ mắt.

Di tích Rạch Gầm - Xoài Mút được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích cấp quốc gia năm 1992./.

Các hình ảnh về Di tích lịch sử dân tộc Rạch Gầm - Xoài Mút




Di tích khảo cổ GÒ THÀNH

Di tích Gò Thành thuộc ấp Tân Thành, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, nằm trong khu dân cư, cách chợ Ông Văn, xã Đăng Hưng Phước 200 m và cách Ủy ban nhân dân huyện Chợ Gạo 6 km về phía Bắc


Di tích Gò Thành thuộc ấp Tân Thành, xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, nằm trong khu dân cư, cách chợ Ông Văn, xã Đăng Hưng Phước 200 m và cách Ủy ban nhân dân huyện Chợ Gạo 6 km về phía Bắc.

Tên gọi Gò Thành xuất hiện khi những người Việt đầu tiên đến khai phá vùng đất này; thấy trên gò có nhiều gạch, cho đó là vết tích của một thành xưa nên đặt tên là Gò Thành, với mục đích đánh dấu một vị trí trong khu vực quần cư. Đây không phải là một thành của người Miên hay nhà Nguyễn như người dân địa phương thường gọi.

Năm 1987, Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh đã đến tham gia Hội nghị 'Thông báo khảo cổ học' tại Tiền Giang và khẳng định Gò Thành là di tích thuộc nền văn hoá Óc-Eo. Di tích đã được khai quật nhiều lần, phát hiện 12 hố thờ và mộ có dạng hình giếng nằm rải rác trên mặt gò và nhiều hiện vật bằng vàng, đồng, đá, đất nung đang được trưng bày tại nhà trưng bày trong khuôn viên di tích.

Hiện nay, khu di tích Gò Thành đã được trùng tu, tôn tạo, có tường rào bao quanh, cổng chính được thiết kế theo những hoạ tiết, hoa văn thuộc nền văn hóa Óc-Eo rất độc đáo, có một nhà bao che một số đền tháp quan trọng, một nhà trưng bày hiện vật của di tích và một đình thần trong khuôn viên rộng lớn, khang trang.

Đến tham quan di tích Gò Thành, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những hố thờ từng bị chôn vùi dưới lòng đất hàng ngàn năm, gợi nhớ cho chúng ta nhận thức mới về xã hội người Phù Nam, về các quy luật phát triển lịch sử, xã hội trên vùng đất Nam bộ, trên đất nước Việt Nam và cả Đông Nam Á.

Hàng năm, di tích Gò Thành thường xuyên đón nhiều đoàn khách trong nước và nước ngoài đến tham quan, đặc biệt là các em sinh viên, học sinh đến tham khảo để phục vụ cho công việc học tập.

Di tích Gò Thành được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) công nhận di tích cấp quốc gia năm 1994.

Các hình ảnh về Di tích khảo cổ Gò Thành



Di tích lịch sử cách mạng: ĐÌNH LONG HƯNG 

Đình Long Hưng tọa lạc tại ấp Long Thạnh, xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, cách thành phố Mỹ Tho 12 km về hướng Tây, từ ngã ba Trung Lương đi đến cầu Long Định rẽ trái vô 2,5 km

Đình Long Hưng tọa lạc tại ấp Long Thạnh, xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, cách thành phố Mỹ Tho 12 km về hướng Tây, từ ngã ba Trung Lương đi đến cầu Long Định rẽ trái vô 2,5 km.

Đình được xây dựng cách đây hơn 160 năm, lúc đó được gọi là Miễu Chánh để thờ cúng các vị Thành Hoàng Bổn Cảnh, những người có công lập làng, lập ấp. Ngoài ra, đình còn thờ Tả Quân Lê Văn Duyệt - một công thần của triều Nguyễn, tượng và bức chân dung của Ông được đặt trong đình và đình còn giữ nguyên bộ ván (2 tấm), tương truyền đây là bộ ván mà Lê Văn Duyệt thường ra đình nằm ngủ, người ta thấy Ông hóa thành con cọp trắng trong lúc ngủ say. Đình Long Hưng là nơi Ủy ban khởi nghĩa Nam Kỳ chọn làm Tổng hành dinh, trụ sở của Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Mỹ Tho. Tại đây, lá cờ đỏ sao vàng năm cánh được treo cùng cờ búa liềm đã tung bay phất phới ngày 23 tháng 11 năm 1940. Từ những năm 1927-1929, Long Hưng đã có tổ chức Cách mạng đồng chí hội; năm 1930, Long Hưng là xã đầu tiên có Chi bộ Đảng ở Tiền Giang.

Đến với di tích đình Long Hưng, quí khách sẽ được nghe những sự kiện lịch sử quan trọng, những mẫu chuyện về các vị cách mạng đã làm rạng danh Long Hưng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ như: bốn đồng chí Giác, Ghè, Quới, Huân khi bị giặc Pháp bao vây ác liệt, các đồng chí đã chiến đấu cho đến viên đạn cuối cùng, biết không thể thoát khỏi vòng vây và quyết không để rơi vào tay giặc các đồng chí đã dùng gươm cắt cổ tự sát; trong chống Mỹ, nữ anh hùng Lê Thị Hồng Gấm, anh hùng Hồ Văn Nhánh cũng đã sinh ra trên mảnh đất anh hùng này.

Năm 2005, tỉnh Tiền Giang khánh thành khu di tích đình Long Hưng. Ngôi đình mới dựng lại khá lớn và khang trang. Tại đây vẫn còn cây bàng cổ thụ đã từng được cắm lên ngọn cờ đỏ sao vàng đầu tiên. Bên phải đình là nhà cổ Nam bộ thờ bà Nguyễn Thị Thập, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ và Nhà trưng bày hiện vật lịch sử về cuộc khởi nghĩa năm 1940, bên trái đình là nhà bia ghi tên liệt sĩ xã Long Hưng, tất cả được định vị một cách hài hòa trong khuôn viên rộng lớn với thảm cỏ xanh tươi và nhiều loại cây xanh kiểng cổ quí hiếm.

Kỷ niệm ngày Nam Kỳ khởi nghĩa (23 tháng 11 hàng năm) được xem là ngày hội lớn nhất Long Hưng; đến đây, chúng ta sẽ được nghe các cựu chiến binh kể về truyền thống Long Hưng, có dịp nhìn thấy lại hào khí Nam Kỳ.

Các hình ảnh về Di tích lịch sử cách mạng Đình Long Hưng



Di tích cách mạng CHIẾN THẮNG ẤP BẮC

Ấp Bắc thuộc xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, nơi diễn ra trận đánh lớn nhất miền Nam kể từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ vào ngày 02 tháng 01 năm 1963, báo hiệu sự sụp đổ của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" mà Mỹ áp dụng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam

Ấp Bắc thuộc xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, nơi diễn ra trận đánh lớn nhất miền Nam kể từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ vào ngày 02 tháng 01 năm 1963, báo hiệu sự sụp đổ của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" mà Mỹ áp dụng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Do thất bại nặng nề trong trận đánh, chúng cho pháo và máy bay ném bom vào trận địa Ấp Bắc, làm cháy trụi nhiều nhà của nhân dân. Mặc dù vậy, các mẹ, các chị vẫn nấu cơm tiếp tế cho bộ đội. Từ đấy đã vang lên những câu ca dao ca ngợi tấm lòng của người dân Ấp Bắc:

"Bom rơi thì mặc bom rơi
Chị em Ấp Bắc vẫn khơi bếp hồng
Thổi nồi cơm dẻo thơm nồng
Giúp anh bộ đội no lòng đánh hăng"


Đến với khu di tích, du khách sẽ được đi trong quần thể rộng lớn với hai phân khu chức năng, khu vực 1 gồm có tượng đài, nhà mộ ba chiến sĩ gang thép, 3 hồ sen lớn, nhà trưng bày xe tăng, máy bay, công viên với nhiều loại cây kiểng; khu vực 2 gồm có Nhà trưng bày hiện vật, phía dưới nhà trưng bày là hồ sen, bên trái là quảng trường và công viên được trồng cây cảnh, tạo cảnh quan chung quanh khu di tích rất khang trang sạch đẹp, phía sau là những mô hình được phục chế tái hiện lại như cảnh dân quân tải thương, nấu cơm, trảng xê, hầm bí mật. Xa xa ngoài cánh đồng rộng lớn là những biểu tượng máy bay, xe tăng địch bị bốc cháy.

Hàng năm vào ngày 02 tháng 01 dương lịch, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương long trọng tổ chức lễ kỷ niệm tại khu di tích này.

Di tích Chiến thắng Ấp Bắc đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích cấp Quốc gia năm 1993.

Các hình ảnh về di tích cách mạng Ấp Bắc



Trang con (1): Di tích - Địa danh
Comments