Những điều lý thú về Mỹ Tho


Về hành chánh, tỉnh Tiền Giang trong dân gian, quen gọi là vùng Mỹ Tho. Trước khi Pháp đến và những năm đầu thế kỷ XX, Mỹ Tho sầm uất, chỉ thua Sài Gòn, bấy giờ Cần Thơ chỉ mới thành hình, chưa khẳng định vai trò, việc khẩn hoang ở miền Tây còn ở bước đầu.

 “Trên Sài Gòn, dưới Mỹ Tho,
Đâu đâu phong cảnh cũng nhường cho…”

Qui tụ đông dân cư, dễ sống, nhiều kinh rạch chằng chịt góp phần tiêu tưới cho đồng ruộng vườn tược, không tốn công làm thủy lợi như phía Cà Mau, Rạch Giá. Đây là đất Ba Giồng, thời Nguyễn Ánh và Tây Sơn tranh chấp nhau, cuối thế kỷ thứ XVIII ai chiếm được vùng này là giữ được Nam Bộ, với dân cư đông đúc, lúa gạo phì nhiêu. Mỹ đã tập trung thế lực để nắm vùng này, vì vậy nảy ra danh từ quân sự “bình định đồng bằng sông Cửu Long”. Nói chung, nơi nào gần sông rạch, ven sông Tiền, luôn luôn đủ nước ngọt, đất cao ráo, không bị lũ lụt, cây cam, cây quýt mọc dễ dàng. Cuối thế kỷ XIX, phong trào Thiên Hộ Dương, Thủ Khoa Huân đã xuất phát nơi đây. Nhờ định cư lập nghiệp từ 300 năm nên làng xóm định hình với nhiều chùa chiền đình miếu; nghi thức cúng tế nghiêm chỉnh.
Thủ Khoa Huân là kẻ sĩ tiêu biểu cho tinh thần kháng Pháp hồi cuối thế kỷ XIX. Xuất thân là nhà nho, ở Bình Định, ông vào Mỹ Tho dạy học rồi tham gia cuộc kháng chiến của Thiên Hộ Dương. Bị bắt lần thứ nhất, ông bị đày qua Châu Phi, trở về, được Phủ Phương (sau này lãnh chức tổng đốc của Pháp) bảo lãnh đưa về Chợ Lớn để dạy học cho gia đình, nhưng bên trong là kiểm soát theo dõi.
Tại Chợ Lớn, ông móc nối với các hội kín và các nhân sĩ yêu nước, lấy Chợ Gạo (một huyện của Mỹ Tho) làm trung tâm rồi triển khai. Ông Thủ Khoa trốn đi khỏi Chợ Lớn, cuộc khởi nghĩa diễn ra khắp Tân An, quận Châu Thành trước sự đàn áp của giặc. Rốt cuộc ông bị bắt tại Chợ Gạo rồi đưa về Bến Tre, bị xử tử hình. Ông có làm bài thơ tuyệt mệnh bằng chữ Hán mà sau này cụ Phan Bội Châu dịch lại:

“Ruổi dong vó ngựa trả thù chung,
Binh bại cho nên mạng phải cùng.
Tiết nghĩa vẫn lưu cùng vũ trụ,
Hơn thua sá kể với anh hùng,
Nổi xung mất vía quân Hồ Lỗ,
Quyết thác không hàng, rạng núi sông.
Tho thủy ngày nay pha máu đỏ,
Đảo Rồng hiu hắt ngọn thu phong”.

“Tho Thủy” là nước sông Mỹ Tho, “quân Hồ Lỗ” là quân ngoại xâm. Phần mộ của Thủ Khoa Huân nay còn bảo quản tốt ở Bến Tranh, phía chợ Tân Hiệp trên đường từ Mỹ Tho đi Sài Gòn nhìn vào. Ngày nay, hầu hết các tỉnh lỵ ở Nam Bộ đều lấy tên cụ mà đặt cho đường phố, trường học.

Đình Điều Hòa ở tại chợ Mỹ Tho thuộc vào loại hình có tầm cỡ, bảo quản tốt, thờ bốn vị nữ thánh, hiểu là bà hoàng hậu và ba đứa con đã hy sinh, trở thành nữ thần phù hộ người đi biển, gọi khái quát là bà Đại Càn. Ở Nghệ An, có đền thờ quan trọng nhất, tại cửa Cờn, viết ra chữ Hán là Càn. Ta suy luận người ở Mỹ Tho thời xưa từ miền Trung đến, theo đường biển.

Mỹ Tho có nhiều chùa xưa, so với các tỉnh phía đồng bằng, nhưng đáng gọi là kỳ quan vẫn là chùa Vĩnh Tràng (Trường) ở sát tỉnh lỵ. Đây là kiểu kiến trúc vừa dân tộc, vừa hiện đại, chùa cất khoảng trăm năm thôi, sau khi Pháp đến nhưng hấp dẫn du khách. Nếu những ngôi chùa xưa thường là thấp, thiếu ánh sáng, bên trong thâm nghiêm âm u thì chùa Vĩnh Tràng gợi vẻ tươi mát, yêu đời. Đây là kỹ thuật mới về trang trí mà người Pháp ca ngợi, gọi là “phong cách Khải Định”. Vua Khải Định qua Pháp, xem kiến trúc lâu đài Tây Phương, khi trở về nghĩ ra việc cách tân kiến trúc cổ truyền mà đỉnh cao là lăng của ông. Cao ráo, nền lót gạch bông, nhiều cửa sổ, trang trí nội thất cùng với những tranh cảnh, hoa văn đều dùng miểng sành sứ, nếu cần thì đập những tô chén mới, để ráp nối với những màu sắc rực rỡ. Miểng sành sứ là mô phỏng theo kỹ thuật gạch men, vẽ tranh cảnh của Tây Phương, nhiều miếng ráp lại thành bức tranh hoặc đóa hoa. Ở đây, dùng những miểng nhiều màu gắn kề nhau, kiểu cẩn xà cừ, để có hình mai, lan, cúc, trúc, hoặc rồng, phụng. Thế mạnh của gắn sành sứ là rực rỡ, khi ánh sáng rọi vào, dễ bảo quản, nếu cần dùng nước lạnh mà rửa thì men sẽ bóng láng như mới. Ở Sài Gòn, giai đoạn Pháp mới đến, có chùa Giác Viên, sau này là lăng Lê Văn Duyệt đã sử dụng khá thành công kỹ thuật này, mà sở trường trong nghề là những nghệ nhân từ Lái Thiêu (tỉnh Sông Bé).
Vào chùa Vĩnh Tràng, ta thấy sự lộng lẫy, có tượng Phật khá to. Cổng tam quan là công trình lớn, ở Nam Bộ ít chùa nào sánh kịp, chứng tỏ mức giàu có của người địa phương và các thân sĩ.

Vùng Vĩnh Kim (chợ Giữa) điển hình cho miệt vườn, đất tốt, nổi danh một thời với giống vú sữa Lò Rèn, do một ông thợ rèn đem giống về (từ đâu không rõ), vỏ mỏng láng, thơm và ngọt hơn các giống vú sữa khác, bán có giá trên thị trường, đẹp về hình thức lại có chất lượng.

Rạch Gầm là con rạch ăn ra sông Tiền, nghe đến, ai không nức lòng nhớ đến vị anh hùng trẻ tuổi Nguyễn Huệ, lần đầu tiên đến vùng Tiền Giang nhưng ông đã biết tận dụng địa thế sông nước đánh tan hai vạn quân Xiêm. Vì chữ Hán không có chữ tương đương nên viết chữ Sầm, đọc là Gầm.

Vùng Rạch Gầm, chợ giữa gồm nhiều làng, trên diện tích nhỏ, dân cư khá đông, thiên nhiên ưu đãi từ thời xa xưa nên có người định cư sớm. Lê Văn Duyệt sinh trưởng ở vùng này, lập công giúp chúa Nguyễn vì tầm nhìn của ông bây giờ chỉ thấy chuyện của địa phương. Ở Vĩnh Kim, có vị tiến sĩ thứ nhì của Nam Bộ là Phan Hiển Đạo, từng ra Huế học, có năng khiếu về cổ nhạc, chính ông đã phổ biến nhạc Huế, có căn cơ, vào Nam Bộ, từ đó phong trào nhạc tài tử phát triển đến các tỉnh lân cận, lần hồi triển khai, vận dụng qua tuồng cải lương, bỏ những bản hát nam, hát khách và những điệu múa “đá giáp phun râu”, để diễn xuất với động tác hiện thực hơn. Nhờ vậy, sân khấu có thể diễn những tuồng xã hội, phản ánh những buồn vui đương thời. Thay vì nhắc những chuyện như Tiết Đinh San, Trương Phi.

Ở Vĩnh Kim, nhờ sông nước êm đềm, không bị lũ lụt đến mức thảm hại như phía Đồng Tháp Mười nên giới trung nông, giáo viên có thể giải trí văn hóa, lại ít tốn tiền. Thú vui ấy gọi là “Thả cầm thi”, cái tên nghe không ổn cho lắm. Năm ba người bạn, vào đêm trăng tìm chiếc thuyền nhỏ, mang theo đàn kìm, đàn tranh, cái hỏa lò, rau sống, thịt bò, tôm. Thả theo dòng nước, họ đàn ca, ngâm thơ tùy hứng, sau đó ăn đặc sản và uống rượu, đến khi trăng lặn mới về. Trên sông gió mát, có con cò con vạc bay ngang, bên bờ, với ánh đèn của nhà ở ven sông, ánh đèn của ngư phủ, thêm rặng cây bần đầy đom đóm.
Với nhịp sống dồn dập ngày nay, thêm phương tiện băng nhạc, thú vui này gần như ít người nghĩ đến vì mất thời giờ. Họa chăng nhiều bạn nhậu thả thuyền trên sông, nghe nhạc. Cầu mong cho môi trường sông rạch đừng ô nhiễm trong tương lai.
Cây trái của Miệt Vườn phát triển vì công lao bỏ ra ít mà huê lợi thâu vào nhiều hơn làm ruộng. Nhà vườn ít khi dầm mưa, dải nắng. Đó là nhờ kỹ thuật đào mương lên liếp. Đào mương nhỏ, và dài rồi lấy đất đắp lên những liếp dài, hình chữ nhật, những mương cây này có nước chảy thông qua lại, ăn ra sông Cái. Nước lớn, nhất là mùa lũ, đưa phù sa tuôn vào, phù sa lắng xuống mương, sau đôi ba năm mương cạn, cứ móc đất, nạo vét, lấy phù sa bồi đắp gốc cam gốc quýt, thế là có thứ phân tốt. Nước ròng, dùng tấm đăng chặn lại, cá tôm không ra được, bắt lên, dư ăn trong ngày.
Xem qua thì đơn giản, nhưng đây là sự tìm tòi, ứng dụng hợp lý, dựa vào sông nước Cửu Long để làm vườn, một kỹ thuật độc đáo mà khách nước ngoài khen ngợi.
Nhãn là đặc sản của vùng này, chứng tỏ dân Miệt Vườn rất năng động, không bảo thủ. Trước kia, ai cũng tưởng rằng nhãn có ở vùng đất ven biển như Vĩnh Châu (Minh Hải) hoặc giồng đất cát gần Vũng Tàu mà thôi. Với kinh tế thị trường cùng sự thu nhập giống mới cải tạo và cải tạo giống, người miệt vườn đã thử nghiệm rất thành công về cây nhãn, đặc biệt là giống nhãn da bò, năng suất cao. Lại cải tiến kỹ thuật tiêu tưới, tận dụng thế mạnh của phân hóa học, người địa phương cho nhãn có trái “trái mùa”, vừa sau tết, nhờ vậy bán giá cao. Chôm chôm nhãn, giống mới ra đời, cơm dày, thơm như nhãn nhưng chưa thành công cho lắm vì về hình thức trái này có màu không đẹp.

Nhìn những vườn nhãn dọc theo quốc lộ, ta không khỏi tự hào, thấy rằng đất là mẹ hiền, khéo sử dụng, đất chẳng bao giờ phụ con người. Nhưng một nét của miệt vườn sông Cửu Long vẫn là sinh hoạt của vùng cù lao Năm Thôn, được trưng khẩu từ ba trăm năm, với ưu thế phù sa tốt. Gần cù lao này, lần hồi bồi đắp thêm những cù lao nhỏ, gọi Cồn: thí dụ Cồn Tre.
Từ Cai Lậy, ta chịu khó theo con lộ nhỏ, xuống bờ sông Tiền, bên kia là cù lao, gió thổi mát rượi. Nhìn con sông rộng vẫn không thích thú như khi ta bắt gặp vài cù lao giữa sông. Cù lao tạo thêm vẻ ấm cúng, thân mật.
Cồn Tre, đặt tên như thế vì khi phù sa vừa nổi lên mặt nước, chưa có hình dáng rõ rệt, bốn phía sóng vỗ ngày đêm tưởng chừng như vùng phù sa nhỏ bé ấy sẽ sụp lở, dời đi nơi khác.
Bỗng dưng trong mớ rác rến, cỏ dại và lục bình phiêu bạt lại có một gốc tre tươi, chắc là từ phía thượng nguồn trôi đến vì đất lở. Gốc tre ấy nằm nghiêng, nhờ rễ và nhánh vướng lại nên không trôi, phù sa quyện vào, mọc nghiêng rồi mọc thẳng, bám rễ chắc chắn. Gốc ra lần hồi trở thành bụi tre nhỏ, rễ tre gìn giữ phù sa. Nhiều trái bần chín rụng trôi đến, tan rã, hột bần mọc lên, trăm hột được vài chục hột. Hiện tượng sống động ấy kéo dài chừng mươi năm. Có người thấy địa thế tốt, lại là đất vô chủ nên xin trưng khẩn, chờ tương lai gần, thế nào cũng tìm được vùng đất màu mỡ mà cắm dùi, trồng thêm vài nhánh bần để giữ đất. Cồn Tre thành hình, ngày càng to rộng, thêm người khác đến, không ai tranh cãi với ai. Nơi đất mới, giữa sóng gió muôn trùng, cần góp sức, mỗi người trồng thêm bần một phía. Vùng Cồn Tre quả là phì nhiêu, ban đầu, trồng đu đủ rồi mía, rủi sạt lở cũng không mất vốn. Các giống cây ăn trái cần đất cứng “có chân” vững hơn. Đến nay, đó là vùng đất lý tưởng, chung quanh có bờ đê để chận nước lớn và đề phòng những cơn lũ lụt. Nhờ bờ đê, bên trong đất trở nên khô ráo, từng khoảnh trên đê, bố trí ống cống để điều chỉnh cho nước ra vào.
Với lòng yêu quê hương đất nước, du khách đã thấy sức cần cù, kiên nhẫn của người phía đồng bằng. Lại còn sự cực khổ, thiếu tiệm quán, thiếu thuốc men lúc đau ốm, phải liên lạc với cù lao lớn, hoặc với phía đất liền. Nhà cửa lần hồi khang trang, nhờ khai thác tối đa khả năng mà thiên nhiên cho phép.

Nuôi vịt, thả ấu, lặn xuống bãi mò ốc gạo vì vùng này là nơi lý tưởng cho ốc gạo sinh sôi nẩy nở. Ốc gạo ăn ngon, bán giá cao, tại Bắc Mỹ Thuận, lắm khi đưa về Sài Gòn, béo và mềm, có thể gọi là món ngon nhất trong các loài ốc ở sông. Ốc gạo dường như chỉ sống quanh quẩn ở sông Tiền, tại vùng Cái Bè, nơi xa hơn, khó gặp với khối lượng to.
Dạo chơi Cồn Tre, cảnh vật hiện ra lạ mắt. Những dây mướp ở đây mọc tươi tắn, không cần săn sóc như trồng để làm cảnh trang trí, hoa vàng lá xanh mơn mởn. Chôm chôm thì khỏi nói, trái to, sai oằn, trẻ con chẳng muốn ăn. Mùa bắp, nhờ phù sa, bắp rất ngọt, ăn vui chơi buổi xế trưa, bán qua đất liền được giá. Nước ra vào theo ống cống khi nước lớn là cá tôm mắc cạn trong vườn, tha hồ ăn nhậu. Nhà cửa khang trang, nỗi buồn là quanh quẩn chỉ nghe nhạc trong băng cát-xết, hoặc xem truyền hình. Muốn giải trí, vào đất liền, thấy bao la, tận phía Vĩnh Long, cũng vui mắt. Ghe tải, đò máy qua lại, rộn rịp nhưng dường như chạy chậm giữa hai bờ sông bao la.
Lúc qua Cồn Tre, nhìn phía thượng nguồn, ta chú ý một hiện tượng lạ: ngay vàm Trà Lọt, xã Hòa Khánh, sông Tiền không chảy bình thường, dòng nước như dựng đứng lên, nhấp nhô, mặc dầu không nổi gió to. Gọi sóng lưỡi búa, rất nguy hiểm, sóng dậy lên, rơi vào thuyền, vì vậy, thuyền bị khẳm rất nhanh, suốt khúc sông không dài cho lắm, chẳng ai tát kịp. Theo tôi hiểu, đây là khúc sông Tiền, khá rộng phía Bắc Mỹ Thuận, bỗng dưng lại bị bó rọ, trở nên hẹp bất thường. Nước chảy xiết, như từ trong lòng cái ve chai khi tuôn ra ngoài, qua cổ chai bé nhỏ. Đồng bào địa phương gọi đây là vàm Mân hoặc vàm Mẫn. Nhất là khi gió lớn, mưa to, sóng nổi lên bất chợt, chẳng ai trở tay kịp mặc dầu đề phòng trước. Nạn đắm thuyền dễ xảy ra. Hồi đầu thế kỷ, khi đường bộ chưa phát triển, ghe chở hàng hóa lúa gạo hoặc hàng tiêu dùng (mua từ Chợ Lớn) khi qua đây thường bị bọn cướp chận đánh ban ngày. Khổ chủ chẳng dám chống cự, cứ lo đề phòng giữ cho ghe không chìm, của cải trong ghe lúc bấy giờ không đáng kể.
Từ xưa, nơi đây cất miếu thờ, ghi “Phong ba miếu”, hiểu là thờ thần sóng gió, quan tri phủ Cao Lãnh, thời Tự Đức là Hồ Trọng Đính lúc đi ngang qua, đã lên xem và sửa tấm biển đề chữ “Hà Dương Thủy Thủ Chi Thần”, cứ tháng 3, tháng 9, tháng 10 hằng năm bày ra cúng tế khá long trọng. Thời trước đây, người chủ ghe khá giả, chủ đò máy đi qua thường đốt pháo gọi là “kính lễ”, cầu linh thần phò hộ may mắn.
“Sông sâu nước chảy” là “địa lý”, là “phong thủy” tốt mà ông cha ta thời xưa đã dành ưu tiên khi muốn định cư. Hiểu theo ngày nay là nơi nước không tù đọng, tiêu tưới dễ dàng, có phù sa từ sông cái bồi đắp, không muỗi mòng, dễ giao lưu với vùng lân cận khi mua bán, chuyên chở sản phẩm buổi kinh tế thị trường.

ĐÔ THỊ MỸ THO XƯA VÀ NAY
Lịch sử Cầu Quay
Người Pháp đến Mỹ Tho vào năm 1861. Theo ghi chép của các nhà sử học, khoảng năm 1890, Pháp cho xây cây cầu đầu tiên bắc qua kinh Bảo Định để thay thế cho những cây cầu tre thô sơ hay những chiếc đò ngang nhỏ bé, đó chính là cầu Quay.

Cầu Quay giúp cho người dân phía bên Chợ Cũ (xưa có tên gọi là làng Mỹ Chánh, tiền thân của thành phố Mỹ Tho) và người dân của các thôn Điều Hoà, Thạnh Trị, Bình Tạo (các làng phía Tây thành phố) qua lại dễ dàng. Việc xây cầy Quay còn làm cho nơi đây trở thành một trung tâm hành chánh, thương mãi, kinh tế, xã hội… của lỵ sở trấn Định Tường. Và từ đó, khu vực bên phía Tây cầu Quay từng bước trở thành trung tâm thành phố ỹ Tho ngày nay.

Trải theo từng bước thăng trầm của lịch sử, cho đến nay cầu Quay đã qua ba lần xây cất. Lần thứ nhất vào khoảng năm 1890, xây dựng bằng sắt thép, mang tên cầu Quay. Đến năm 1938, do cầu bị sập (nhưng không tai nạn nào), người Pháp cho làm lại ngay sau đó bằng bê tông cốt sắt tức là loại cầu đúc, nhưng vẫn giữ tên Cầu Quay. Đến năm 199? cầu được phá đi và xây cất lại cũng bằng bê tông cốt sắt, dù vậy vẫn còn mang tên Cầu Quay khiến cho những người lớn tuổi chạnh nhớ đến cây cầu Quay ngày xưa và một số thanh thiếu niên không hiểu vì sao cây cầu nầy lại có tên là Cầu Quay.

Cầu Quay Mỹ Tho nguyên thủy là một công trình kiến trúc mà người Pháp gọi là “mẫu Eiffel” (style Eiffel), hàng đầu thế giới thời ấy. Công trình do kiến trúc sư người Pháp – ông Gustave Eiffel thiết kế, hoàn toàn dùng vật liệu sắt thép. Eiffel là nhà tiên phong trong công trình sắt thép trên thế giới, là công trình sư của tháp Eiffel, Paris – biểu tượng và cũng là thắng cảnh nổi tiếng của Pháp. Hầu hết các công trình kiến trúc bằng sắt thép ở Pháp cũng như ở Việt Nam thời bấy giờ, trong đó có cầu xe lửa Bến Lức, cầu xe lửa Tân An, cầu Hàm Rồng ở Thanh Hóa… cầu Quay nguyên thủy ở Mỹ Tho cùng những cây cầu quay khác ở nhiều tỉnh của Việt Nam, trong toàn cõi Đông Dương và luôn cả thế giới đều có công đóng góp của vị kiến trúc sư tài ba nầy.

Cây cầu Quay Mỹ Tho được xây cất hoàn toàn bằng sắt với đặc điểm là nhịp giữa có 2 đoạn rời nhau. Bình thường, 2 đoạn của nhịp giữa hạ xuống để cho xe cộ và bộ hành qua lại. Khi cần, hai đoạn nầy được tách ra và kéo lên cao như nóc nhà để có độ cao cho tàu bè lưu thông phía dưới.

Cũng nên biết, trước khi có bê-tông cốt sắt, ngoài gạch đá, các công trình xây cất đều được thực hiện bằng sắt thép. Nhân tiện, xin nêu ra 4 mô hình cầu bằng sắt thép trên thế giới mang dấu ấn Eiffel cách nay vài thế kỷ để thấy Việt Nam ta và nhất là thành phố Mỹ Tho đã có được một công trình độc đáo như vậy.


Có đến 4 kiểu mẫu như sau, để ta biết vì sao cây cầu lịch sử nầy có tên là cầu Quay, và biệt danh nầy mãi đến bây giờ vẫn còn.

Cầu Mở: Cầu Quay Mỹ Tho vận hành theo lối mở lên cao như đã trình bày ở phần trên, lẽ ra không gọi là cầu quay mà phải gọi là cầu mở (pont ouvert). Sở dĩ người dân gọi là Cầu Quay vì khi cần mở cho hai nhịp cất lên cao để tàu bè qua lại, người ta phải dùng tay quay hệ thống ròng rọc để kéo hai đầu nhịp cầu lên cao như mái nhà có dáng đỉnh của hình tam giác. Xin đừng nhầm lẫn với loại cầu quay sẽ trình bày ở phần sau.
Cầu Nâng: Hệ thống cầu Tower bridge, tức là Cầu Tháp qua sông Thames ở Luân Đôn hiện thời, nếu chưa đi chúng ta cũng có thể thấy trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cầu có đặc điểm là nhịp giữa nằm trên hai trụ cầu, thiết kế thành hai tháp (tower, do đó có tên Tower bridge) được đồng bộ nâng lên cao, khi tàu bè qua lại. Cầu nầy thuộc loại cầu nâng (pont levant).
Cầu Quay: Một loại cầu nữa có hai nhịp giữa nằm cân đối trên mỗi trụ hai bên. Khi tàu bè qua lại, hai nhịp giữa được xây ngang do một trục ở giữa. Loại cầu nầy mới chính là cầu quay (pont tournant) có nghĩa là quay ngang.
Cầu Tàu: Còn một loại cầu nữa gọi là cầu tàu (pont de bateaux) không phải cầu cho tàu đậu, mà vẫn là một chiếc cầu bắc sang sông, nhưng nhịp giữa thay vì nằm trên cột cầu, lại được nằm trên chiếc tàu, mỗi bên một chiếc thế cho cột cầu đỡ 2 nhịp cầu. Khi có tàu bè qua lại, hai chiếc tàu nầy nổ máy chở theo 2 nhịp giữa tách khỏi cầu mẹ, nhường chỗ cho tàu qua, xong trở lại vị trí cũ cho xe cộ qua lại.

Thế kỷ 17-18, Mỹ Tho đại phố là một trong những trung tâm kinh tế sầm uất bậc nhất Nam Bộ- các thư tịch cổ nói vậy. Hình thành vào khoảng năm 1679, Mỹ Tho đại phố chiếm trọn một phần thôn Mỹ Chánh thuộc dinh Trấn Định (nay thuộc phường 2, 3, 8 của thành phố Mỹ Tho, nằm cặp sông Tiền).
Từ đầu thế kỉ 17 hoặc sớm hơn, cuối thế kỉ 16, Mỹ Tho đã có lưu dân người Việt vào khẩn hoang và tiến hành sản xuất nông nghiệp.
Vào vùng đất mới, người đi khai hoang gặp những thuận lợi rất cơ bản như : khí hậu điều hòa, không có bão lụt, mặt đất bằng phẳng với sông rạch chằng chịt mang lại tôm cá, nước tưới, phù sa màu mỡ và thuận tiện cho việc giao lưu… Tuy nhiên, trong buổi đầu, cư dân gặp không ít trở ngại như : rừng rậm hoang hiểm, ác thú đầy dẫy…Thế nhưng, bằng sức lao động quả cảm, bền bỉ, sáng tạo trong việc khai thác
tài nguyên tự nhiên (đất, nước…) đến nửa sau thế kỉ 17, việc mở mang ruộng đất, trồng tỉa hoa lợi của cư dân người Việt ở Mỹ Tho về cơ bản đã đi dần vào ổn định.

Đến năm 1679, đất và người Mỹ Tho đã tiếp nhận đùm bọc một nhóm người Hoa do Dương Ngạn Địch dẫn đầu, vì chống đối vương triều Mãn Thanh nên di trú sang nước ta. Ở Mỹ Tho, số người Hoa này chủ yếu sống nhờ vào nghề buôn bán, và qua quan hệ hôn nhân với người Việt, chỉ sau vài thế hệ, họ nhập thân hòan toàn vào dân tộc Việt Nam, mà dấu ấn còn sót lại để nhận biết chỉ là danh xưng “Minh Hương” (tức là con cháu nhà Minh) mà thôi.

Khối cộng đồng dân tộc Việt – Minh Hương đã chung sức đồng lòng ra sức phát triển Mỹ Tho. Cho đến khoảng
cuối thế kỉ 17, Mỹ Tho đã trở thành một trong ba trung tâm thương mại lớn nhất ở toàn Nam bộ hồi đó (hai trung tâm kia là Cù Lao Phố _ Biên Hòa và Hà Tiên), với “chợ phố lớn Mỹ Tho, có nhà ngói cột chạm, đình cao chùa rộng, ghe thuyền ở các ngả sông biển đến đậu đông đúc, làm thành một chốn đại đô hội, rất phồn hoa, huyên náo” (Gia Định thành thông chí - Trịnh Hoài Đức). Sự sung thịnh của chợ Mỹ Tho đã nói lên nền sản xuất nông nghiệp và kinh tế hàng hóa ở địa phương đã có những bước phát triển đáng kể. 

Nông sản, nhất là lúa gạo và cau, không chỉ đủ dùng cho nhu cầu của cư dân Mỹ Tho, mà còn dư ra với số lượng lớn, trở thành hàng hóa được buôn bán trên thị trường cả nước. Do đó, ở Mỹ Tho, sự hình thành vào buổi đầu là yếu tố “phố chợ”, và đó cũng là nền móng quyết định cho sự nghiệp phát triển về sau của Mỹ Tho.Có thể nói, lúc bấy giờ, làng xã của người Việt ở Mỹ Tho cũng bước dần vào chỗ ổn định. Đó là các làng Điều Hòa, Phú Hội, Mỹ Chánh, Bình Tạo, Mỹ Hóa, Đạo Ngạn, Thạnh Trị. Do chợ Mỹ Tho đã nổi lên như một trung tâm kinh tế – thương mại sầm uất, do cơ chế hành chánh ở cơ sở là làng xã đã có nề nếp, qui củ, cho nên năm 1781, chúa NGuyễn cho dời lỵ sở dinh Trấn Định từ giồng Kiến Định (Tân Hiệp) về thôn Mỹ Chánh – chợ Mỹ Tho (tức khu vực Chợ Cũ thuộc phường 2, phường 8 ngày nay). Bắt đầu từ đây, Mỹ Tho đã trở thành một trung tâm hành chánh thật sự, và để đi đến chỗ hoàn thiện nó, năm 1792, chúa Nguyễn đã cho xây dựng thành Mỹ Tho. Thành này do Trần Văn Học vẽ kiểu theo phương pháp đồ họa phương Tây, có tham khảo kiểu thành Vauban của Pháp. Thành Mỹ Tho có “dạng hình vuông, chu vi 998 tầm (khoảng 2000m), có mở hai cái cửa ở phía tả và phía hữu, nơi cửa có xây cầu bắc ngang hào, hào rộng 8 tầm (khoảng 16m), sâu 1 tầm (khoảng 2m), bốn mùa nước ngọt có nhiều tôm cá, dưới cầu có cửa cống nhỏ để lưu thông với sông lớn, ngoài hào có đắp lũy đất, có cạnh góc lồi ra hũng vô như hình hoa mai, chân lũy mặt tiền 30 tấm (khoảng 60m) thì đến sông lớn. Trong đồn có những kho gạo, kho thuốc đạn, trại quân và súng lớn, tích trữ đầy đủ, nghiêm chỉnh” (Gia định thành thông chí).

Đến cuối thế kỉ 18, Mỹ Tho đã có phố chợ buôn bán náo nhiệt, và khi đã xây dựng x
ong ngôi thành kiên cố, có quân đội thường trực và súng lớn để bảo vệ, thị địa phương Mỹ Tho đã trở thành một thành phố đúng nghĩa của nó.
Do yêu cầu phát triển thành phố, năm 1826, vua Minh Mạng cho dời lỵ sở của trấn Định Tường (trấn này được thành lập năm 1808 dưới thời vua Gia Long) ở thôn Mỹ Chánh sang hai thôn Điều Hòa và Bình Tạo ở về phía hữu ngạn sông Bảo Định (nay thuộc các phường 1,4,7), hình thành nên Mỹ Tho “mới”. Thành Mỹ Tho “mới” được Lê Văn Duyệt trực tiếp chỉ huy khoảng 11 ngàn nhân công thi công, xây dựng. Thành này vẫn được đắp bằng đất, chu vi 320 trượng (khoảng 2000m), cao 9 thước 5 tấc (khoảng 4,3m) mở 4 cửa, hào rộng 8 trượng (khoảng 3m), sâu 6 thước 5 tấc (khoảng 2,9m) (theo Đại Nam nhất thống chí).
Theo phỏng đoán, Mỹ Tho “mới” nằm lọt trong khung các con đường Rạch Gầm (phía nam), Lê Đại Hành (phía bắc), Lê Lợi (phía đông) và Nam Kì Khởi Nghĩa (phía tây). Các cửa thành, phỏng đoán tọa lạc tại các địa điểm sau :

- Cửa Bắc : ngã tư Lê Đại Hành – Hùng Vương.
- Cửa Nam : ngã ba Rạch Gầm – Hùng Vương.
- Cửa Đông : ngã tư Lê Lợi – Thủ Khoa Huân.
- Cửa Tây : ngã ba Nam Kì Khởi Nghĩa – Thủ Khoa Huân.

Ở lỵ sở mới, ngoài việc xây dựng thành tỉnh, chính quyền phong kiến còn tiến hành xây dựng hàng loạt các công trình khác nhằm phục vụ cho yêu cầu kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng …của địa phương, xứng đáng với vị trí trung tâm của toàn tỉnh Định Tường, như cất chợ, xây dựng cửa quan để thu thuế (1835), trường học (1826), đàn Xã Tắc (1833) thờ thần Xã Tắc (thần đất nước), đàn Tiến Nông (1832) thờ Thần Nông, miếu Thành Hoàng (1848)…(Gia Định thành thông chí). Đồng thời, lúc bấy giờ ở Mỹ Tho cũng có nhiều cá nhân bỏ tiền của ra để xây dựng một số chùa chiền có kiểu kiến trúc đẹp, độc đáo như chùa Bửu Lâm (1803) ở thôn Phú Hội, chùa Thiên Phúc (1803) ở thôn Mỹ Hóa, hội quán Kim Bảo (1819) (nay là chùa Ông phường 8), chùa Vĩnh Tràng (1849) ở thôn Mỹ Hóa…
Như vậy từ năm 1826 trở đi, Mỹ Tho bao gồm Mỹ Tho “cũ” và “mới”, cùng nhau phát triển. Giữa Mỹ Tho “cũ” và “mới”, do cách nhau bởi kinh Bảo Định, nên liên lạc với nhau bằng đò ngang, và từ đó hình thành nên một xóm đưa đò chuyên nghiệp mà sử sách gọi là “giang trạm Điều Hòa” (Gia Định thành thông chí). Được biết trước đó, năm 1791, chính quyền phong kiến có xây cầu Quỳ Tông bắc ngang kinh Bảo Định nhưng đến năm 1801, do nước sông chảy xiết, gây xoáy lở, nên cầu bị bỏ (Đại Nam nhất thống chí).
Điểm độc đáo của Mỹ Tho là được dựng lên ở ngã ba sông, thành phố ven sông, đặc trưng của hầu hết các thành phố – đô thị ở miền Nam. Đó là ngã ba sông do sông Mỹ Tho và kinh Bảo Định giao dòng với nhau, tạo ra sự thuận lợi về mọi mặt và làm chất xúc tác để Mỹ Tho vươn lên mạnh mẽ. Có thể nói do nằm ở vị trí ngã ba sông nên Mỹ Tho có sức quy tụ ghe thuyền, vật lực từ các địa phương khác đến đây và từ đó lan tỏa ra khắp nơi : ngược dòng sông Tiền theo hướng tây lên Cai Lậy, Cái Bè, Sa Đéc ..v..v.. Hoặc xa hơn nữa là Campuchia, hay xuôi dòng về phía đống đến Chợ Gạo, Gò Công, rồi ra cửa Tiểu theo đường biển ngoặc lên Gia Định hay ra tận Phú Xuân đến Huế, còn nếu như theo con kinh Bảo Định thì vẫn đến được Vũng Gù (Tân An ngày nay) rồi đi tiếp đến Gia Định.
Và một khi đã nói đến Mỹ Tho thì phải nói đến Cồn Rồng nằm trên sông Tiền ở phía trứơc mặt thành phố. Cồn này bắt đầu nổi lên từ năm 1788, có dáng như con rồng nằm, nên vua Gia Long mới đặt tên là Long Châu, còn dân gian thì quen gọi là Cồn Rồng.
Tên “Mỹ Tho” xuất hiện từ rất sớm. Có thể tên Mỹ Tho được viết bằng chữ Hán Nôm đã xuất hiện từ năm 1679 khi Trịnh Hoài Đức ghi trong quyển Gia Định thành thông chí sự kiện sau đây : “Ngày 28 tháng 2 năm Kỷ Vị (1679), tướng Long Môn là Dương Ngạn Địch từ nước Tàu chạy sang quy phục. Tháng 5, chúa Nguyễn sai Xá sai Văn Trinh dẫn cả binh biền và ghe thuyền đến đóng dinh trại ở địa phương Mỹ Tho”.

Còn tên Mỹ Tho viết bằng chữ Quốc ngữ xuất hiện cùng thời với tên Sài Gòn, tức là vào khoảng năm 1747.
Về từ nguyên và ngữ nghĩa của địa danh Mỹ Tho có hai cách giải thích. Cách thứ nhất cho rằng, địa danh Mỹ Tho có nguồn gốc từ chữ Hán Nôm với Mỹ là xinh đẹp và Tho là tên một loại cỏ. Cách thứ hai cho là, Mỹ Tho từ tiếng Khmer “Mêso” đọc trại mà ra, có nghĩa là “cô gái đẹp” hay “nàng tiên”.


Năm 1881, theo đề nghị của Hội đồng Quản hạt Nam kỳ, Bộ Công chính Pháp đã thông qua đề án khởi công xây dựng tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho. Ngày 20-7-1885 chuyến tàu đầu tiên xuất phát từ ga Sài Gòn, vượt sông Vàm Cỏ Đông bằng phà tại Bến Lức, đến ga Mỹ Tho. Mỗi ngày có 4 đôi tàu chạy trên tuyến đường này, chuyến đầu tiên xuất phát từ Mỹ Tho lúc 1g30 sáng, đến Sài Gòn lúc 5 giờ. Đường dài 72 km, gồm các ga Sài Gòn, An Đông, Phú Lâm, An Lạc, Bình Điền, Bình Chánh, Gò Đen, Bến Lức, Tân An, Tân Hương, Tân Hiệp, Lương Phú, Trung Lương và Mỹ Tho, ga cuối cùng nầy tại điểm Vườn hoa Lạc Hồng. Tuy nhiên phải chờ đến tháng 5-1886, sau khi xây xong hai cây cầu Bến Lức và Tân An, xe lửa mới chạy một mạch 72 cây số từ Sài Gòn về đến Mỹ Tho, còn trước đó thì phải sử dụng loại phà lớn có đường ray cho xe qua. Bấy giờ Mỹ Tho là điểm cuối cùng của đường sắt phía nam, đồng thời cũng là điểm khởi hành của nhiều xà – lúp hơi nước vận tải hàng hóa và khách về các điểm khác của Tây Nam bộ và sang Campuchia.

Tuy nhiên trước đó ít năm, việc vận chuyển đường sông đã hình thành và phát triển với số lượng tương đối đông đúc, trong đó hai chiếc tàu Altalo và tàu Mauhot đậu bến Sài Gòn là phương tiện chủ lực. Gia Định báo số ra ngày 20 décembre 1884 trong mục Công việc tàu đò đàng sông cho biết: Từ tháng Mai cho tới tháng Octobre, các ngày thứ hai, thứ tư, thứ năm, thứ bảy, 10 giờ chiều, còn từ tháng Otobre cho tới tháng Mai, từ 8 giờ cho tới 10 giờ chiều (đêm) thì đi Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sa Đéc, cù lao Gien (Giêng), Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng và Sa Đéc. Ngoài ra các tàu đi sang Campuchia cũng theo tuyến nầy. Gia Định báo số ra ngày 14 février 1885 cho biết “ Chiếc tàu Altalo với chiếc tàu Mauhot đi trong đàng ấy. Từ Sài Gòn mỗi ngày thứ ba cùng thứ 6, 19 giờ chiều thì đi Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cái Tàu, Tân Châu, Vĩnh Lợi, Ba Nam, Nam Vang. Ngoài ra còn một tuyến đi Gò Công, Bến Tre, Trảng Bàng, Tây Ninh và Tân An vào ngày thứ bảy, lúc 10 giờ đêm.

Sau khi đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho hoạt động ổn định, Số lượng tàu thủy tăng lên đáng kể. Đầu thế kỷ XX, theo thống kê số xà – lúp hơi nước có 4 bến đậu thường xuyên ở Mỹ Tho là 6 chiếc, gồm: Công ty Ưng Tín Lâm (của Hoa kiều): 2 chiếc chạy tuyến Mỹ Tho – Phnômpênh, ông Nguyễn Văn Kiệu 2 chiếc và 2 chiếc khác là Vĩnh Bảo và Vĩnh Thuận thuộc Công ty Vĩnh Hiệp của ông Phan Văn Tòng. Trong giai đoạn này, Mỹ Tho còn là bến đậu loại tốt nhất, vì vậy ngoài các xà – lúp của các công ty vận tải trong tỉnh, còn rất nhiều xà – lúp khác đậu ở đây. Buổi sáng từ 6 giờ đến 8 giờ, cảng Mỹ Tho rất náo nhiệt và được ghi nhận là một cảng sông rất quan trọng trong vùng. Trong Một tháng ở Nam Kỳ đăng trên tạp chí Nam Phong, Phạm Quỳnh có nhắc đến thú vui của khách trọ chờ tàu, chờ xe ở ga Mỹ Tho “…Có những buổi đương trưa nồng nực, ngồi trên lầu cao trông xuống dưới bến, pha chén trà ngon mà đối diện đàm tâm. Có lúc đêm khuya gió mát, bắc cái ghế cao dài ngoài sân gác mà cùng nhau hùng biện cao đàm về văn chương cùng triết lý. Lại buổi chiều kia trời u ám, gió chiều như giục cơn sầu, cùng nhau thơ thẩn trên vườn hoa ngay trên bến nước, đương tìm giải quyết một nổi tâm sự gian nan, chợt thấy chiếc thuyền thấp thoáng bên kia sông, ngọn đèn lấp ló trong bụi cây um tùm, sực nhớ đến câu: “ giang phong ngư hỏa đối sâu miên”…
Từ ngày 6.10.1936, thêm một ô tô chạy trên đường sắt (autorail) chạy mỗi ngày một chuyến từ Sài Gòn – Mỹ Tho và ngược lại, làm tăng thêm hành khách. Các tàu thuỷ đi từ Mỹ Tho đến các điểm khác ở Nam kỳ và sang Campuchia được ghi nhận vào năm 1936 như sau:
- Khởi hành lúc 7h30 từ Mỹ Tho đi Pnômpenh (qua Vĩnh Long và Châu Đốc) tàu của Cty Ưng Tín Lâm 2 lần mỗi tuần.
- Khởi hành lúc 18h từ Mỹ Tho đi Cà Mau tàu của Cty Vĩnh Hiệp mỗi ngày.
- Khởi hành lúc 7h30 từ Mỹ Tho đi Cần Thơ và Trà Vinh là 2 chiếc của Cty Vĩnh Hiệp mỗi ngày.
Phương tiện đường thuỷ/ xà – lúp hơi nước ở Mỹ Tho bắt đầu gặp khó khăn từ khoảng cuối năm 1939, do việc mở mang đường sá. Sự vận chuyển công cộng bằng xe hơi đã hấp dẫn một số đông hành khách, do vậy số hành khách trên các tàu cũng bắt đầu giảm đi. Đây cũng là thời điểm chiếc cầu quay nổi tiếng của Mỹ Tho chấm dứt vai trò của nó. Cầu Quay là công trình xây dựng năm 1895 tại chợ Mỹ Tho. Đó là cầu có nhịp tự động nối liền hai bờ gần vàm lớn Mỹ Tho – con rạch thông vào kinh quan trọng và Bảo Định. Cầu dài 70 m và nhịp quay được, để cho tàu thuyền đi qua. Nhưng vào cuối thập niên 1930, tàu thuyền ít đi tuyến nầy mà chuyển sang đi tuyến kinh Chợ Gạo về Sài Gòn gần hơn, đồng thời các loại thuyền buồm trên sông cũng không còn phổ biến nên không cần thiết phải “quay cầu” để thông thương trên dòng Bảo Định nữa. Vì vậy người Pháp quyết định phá bỏ, thay bằng cầu sắt bê tông vào năm 1940.
Có thể nói, nhờ là đầu mối giao thông thuỷ, bộ mà Mỹ Tho ở thành vị trí trung chuyển lý tưởng và từng tự hào với câu “trên Sài Gòn dưới Mỹ Tho”.

Sau nhiều biến cố, năm Nhâm Tý (1792) Mỹ Tho lại trở thành trung tâm kinh tế thương mại sầm uất. Nhận thấy chợ Mỹ Tho đã trở thành một trung tâm kinh tế chính trị thật sự, chúa Nguyễn Phúc Ánh cho dời lỵ sở dinh Trấn Định từ giồng Kiến Định về Mỹ Tho thuộc thôn Mỹ Chánh nhưng nhận thấy nơi này chưa có thành trì che chở nên chúa Nguyễn Phúc Ánh hoàn thiện nó bằng việc cho xây thành Trấn Định “Thành là chỗ để ngăn quân bạo ngược, giữ yên cho dân, tất phải có vách cao, hào sâu, phòng sự bất ngờ, ấy là việc lớn tốt vậy”.
Thành Trấn Định đắp tại địa phận làng Mỹ Chánh, tổng Kiến Hòa, huyện Kiến An. Thành này do ông Trần Văn Học vẽ theo kiểu thành Vauban của Tây Âu nhưng ứng dụng Dịch lý của phương Đông trong việc xây thành trì.


Theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức: Đồn Mỹ Tho (thành Trấn Định) được đắp bằng đất có “dạng hình vuông, chu vi 998 tầm, có mở hai cái cửa ở phía tả và phía hữu, nơi cửa có cầu treo bắc ngang hào, hào rộng 8 tầm, sâu 1 tầm, bốn mùa nước ngọt có nhiều tôm cá, dưới cầu có dòng nhỏ để thông với sông lớn Mỹ Tho, ngoài hào có đắp lũy đất, có cạnh góc lồi lõm như hình hoa mai, chân lũy mặt tiền ra 30 tầm thì đến sông lớn. Trong đồn có kho gạo, kho thuốc súng, trại quân và súng lớn, tích trữ đầy đủ, nghiêm túc, mặt sông rộng lớn. Năm Giáp Dần 1794 trên đồn có đặt súng lớn,…”. Theo sách Đại Nam Thực Lục (1): Tháng Giêng Nhâm Tý 1792, vua (chúa) sai đắp Thành Mỹ Tho. Thành được đắp bằng đất, góc thành có dạng như hoa mai, chu vi 499 trượng, phát quan quân các dinh đến ứng dịch, vua ngự đến xem…. Còn theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí, phần tỉnh Định Tường (2) ghi rằng: “Bảo cũ Mỹ Tho ở địa phận huyện Kiến Hòa, cách lỵ sở tỉnh Định Tường chừng một dặm về phía Đông. Chu vi chừng 4 dặm, mở hai cửa tả hữu. Hào rộng 4 trượng, ngoài cửa có bắc cầu treo. Ngoài cửa hào có dạy đắp bằng đất có góc như hình con hổ. Bảo được dựng từ năm Nhâm Tý (1792) đầu đời trung hưng, nay bỏ, dấu cũ vẫn còn.”

Theo như sử liệu của hai sách đã dẫn, và dựa vào cách quy đổi hệ thước đo của thời kỳ này ra hệ mét là 1 thước ta bằng 0,487(3) mét thông qua số đo quy đổi ra hệ mét của tòa thành Bát Quái (thành Quy Gia Định) được in trong sách “Địa chí Văn hóa TP.HCM” nhân kỷ niệm “Sài Gòn 300 năm” do nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu chấp bút, ta có thể tính ra một cách tương đối số đo của thành Trấn Định này vì thành Trấn Định là ngôi thành thứ nhì (sau thành Bát Quái Gia Định) được xây thời chúa Nguyễn Phúc Ánh.

Chu vi : 998 tầm (4) X (5 thước x 0,487m) = 2.430,13 m

Tính ra mỗi cạnh khoảng 607,53 mét

Với cách quy ra mét này, ta nhận thấy số liệu của sách Gia Định thành thông chí có số đo thành vuông Trấn Định nhỏ hơn thành Quy ở Gia Định (chu vi thành Quy: 2555,78 m, mỗi cạnh khoảng 638,94 m = 131 trượng 2 thước). Khi ấy Gia Định là kinh đô ở trong Nam, mà Mỹ Tho thì chịu sự cai quản của Gia Định nên phải xây nhỏ hơn thành ở kinh đô khoảng 30 mét mỗi cạnh.

Vậy thì số đo của sách Đại Nam Thực Lục nói điều gì:

Chu vi thành: 499 trượng X (10 thước ta X 0,487m) = 2430,13 m

Tính ra mỗi cạnh khoảng 607,53 mét.

Vậy thì dù cho cả hai sách dùng hai đơn vị đo là tầm… hay “trượng” đều đúng với so đo quy ra mét của thời nay với mỗi trượng = 4,87 mét hay mỗi tầm = 2,435 mét.

Điều này hợp lý, tính theo số liệu của Đại Nam Thực Lục, ta thấy thành Trấn Định chỉ nhỏ hơn tòa thành Quy (thành Bát Quái) ở Gia Định khoảng 30 mét mỗi cạnh. (cạnh thành Quy dài: 638,94 m, và cạnh thành Trấn Định dài 607,53 m). Vả lại, cụ Trần Văn Học mới vẽ đồ bản để xây thành Bát Quái có hai năm trước đấy thôi (1790), hai năm sau cụ sử dụng lại số liệu bản vẽ cũ của chính mình, chỉ chỉnh sửa cho nhỏ hơn chút ít và đắp tường thành thẳng chứ không lồi ra lõm vào như thành Bát Quái, chỉ cần cho chu vi của thành Trấn Định nhỏ hơn thành Bát Quái ở kinh đô là được.

Thành Trấn Định có dạng hình vuông, có mở hai cái cửa ở phía trái và phải, nơi cửa có cầu treo bắc ngang hào, hào rộng 8 tầm (19,48 m), sâu 1 tầm (2,435 m). Bốn mùa nước ngọt có nhiều tôm cá, dưới cầu có dòng nhỏ để thông với sông lớn Mỹ Tho. Ngoài hào có đắp lũy đất, có cạnh góc lồi lõm như hình hoa mai, chân lũy mặt tiền ra 30 tầm (73,05 m) thì đến sông lớn.

Còn số đo của sách Đại Nam Nhất Thống Chí ghi: chu vi thành khoảng 4 dặm, Hào rộng 4 trượng (x 4,87 m) = 19,48 mét.

Như vậy về quy mô, thành Trấn Định xây vừa nhỏ hơn vừa đơn giản hơn so với thành Bát Quái ở Gia Định Kinh. Chỉ có 2 cửa Tả và Hữu so với 8 cửa của thành Bát Quái. Có cầu treo bắc ngang hào nước.

Từ khi vua Minh Mạng lên ngôi, năm 1826 vua cho dời lỵ sở Trấn Định từ làng Mỹ Chánh qua làng Điều Hòa và Bình Tạo bằng cách cho đắp một thành mới có chu vi nhỏ hơn. Từ đó, thành Trấn Định trở nên hoang phế.Hào thành Trấn Định chỉ rộng 19,48 m (8 tầm) hoặc (4 trượng) so với 75,49m (15 trượng 5 thước) của thành Bát Quái và Hào chỉ sâu 2,44 m (1 tầm) so với 6,82 m (15 thước) của thành Bát Quái. Vị trí của thành vuông Trấn Định này nằm lọt vào trong khu vực ngày nay là đường Nguyễn Huỳnh Đức (Quan lộ xưa). Học Lạc, Lộ Ma và vắt qua Đinh Bộ Lĩnh ra đến gần bờ sông Tiền. Qua chuyến đi tìm hiểu thực tế tại phường 8, Miễu Bà Cố tại hẻm khu phố 3, đường Học Lạc xưa là bên ngoài hào thành thuộc góc thành Tây Bắc. Còn góc thành Đông Nam là ngã ba Sở Rác giáp với Nguyễn Văn Nguyễn (Tạ Thu Thâu cũ) và Đinh Bộ Lĩnh (5). Còn một phần Trường Tiểu học Đinh Bộ Lĩnh (Trường Mỹ Phúc cũ) thì nằm trên một phần hào thành phía Đông Nam xưa. Khu vực này bị bỏ hoang và còn tồn tại đến đầu những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước với cỏ dại, cây cối um tùm và nhiều rắn rết, chỉ bị san ủi phát quang khi chính quyền cũ cho nối dài lộ Học Lạc và xây Cư Xá Kiến Thiết từ năm 1964 – 1965. Nhưng cả hai sách đều không ghi tường thành cao bao nhiêu hay dầy bao nhiêu.


Chàng vốn dòng ăn học, hào hoa, sống chốn thị thành Sài Gòn Gia Định, với dòng máu phiêu bạt giang hồ:

Chim buồn tình, chim bay về núi

Cá buồn tình, cá lủi xuống sông

Anh buồn tình, anh dạo chốn non bồng

Dạo miền sơn nước, xuống chốn ruộng đồng mới gặp em.


Đó là típ người được các cô gái Miệt Vườn Lục Tỉnh ngưởng mộ và thầm mong được kết duyên:

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu

Anh về học lấy chữ nhu (chữ nhu = chữ nho)

Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

Đất Sài Gòn nam thanh, nữ tú
Cột cờ Thủ Ngữ cao rất là cao
Vì thương anh, em vàng võ má đào
Em đã tìm khắp chốn, nhưng nào thấy anh?

Chàng thuộc loại đa tình, đầu môi chót lưởi:

Sông Cửu Long chín cửa, hai dòng,
Người thương anh vô số, nhưng chỉ một lòng với em
.

Và chàng tán tỉnh nàng:

Nội trong lục tỉnh Nam Kỳ (1)
Thấy em ăn nói nhu mì anh thương
Có mặt tui mình nói mình thương
Tui về chốn cũ mình vấn vương nơi nào?

Hay:

Đồng Nai, Châu Đốc, Định Tường
Lòng anh sở mộ con gái vườn mà thôi

Nước chảy liu riu
Lục bình trôi líu ríu
Anh thấy em nhỏ xíu anh thương!

Tàu Nam Vang chạy ngang cồn cát,
Xuồng câu tôm đậu sát mé nga,
Thấy em cha yếu mẹ già
Muốn vô phụng dưỡng biết là đặng không?


Rồi chàng thề thốt:

Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn

Núi lở non mòn, ngỡi bạn không quên


Dầu nói vậy, đã từ lâu chàng chưa về thăm người tình:

Cần Thơ là tỉnh

Cao Lảnh là quê

Anh đi lục tỉnh bốn bề,
Mải lo buôn bán không về thăm em

Vì vậy chàng chỉ hỏi thăm nàng qua thư từ:

Cách một khúc sông kêu rằng cách thủy
Sàigon xa, chợ Mỹ không xa
Gởi thơ thăm hết mọi nhà
Trước thăm phụ mẫu sau là thăm em


Và nhắn nhủ với nàng:

Cúc mọc bờ sông kêu là cúc thủy,
Chợ Sài Gòn xa, chợ Mỹ cũng xa.
Chồng gần không lấy, em lấy chồng xa.
Mai sau cha yếu mẹ già
Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ trà ai dâng


Tuy vậy, chàng hứa hẹn đẩy đưa, sẽ có một ngày về Lục Tỉnh thăm nàng:

Chẻ tre bện sáo cho dày
Ngăn ngang sông Mỹ, có ngày gặp em


Còn nàng thì ngày ngày ra bến sông, ngóng đợi người tình:

Ghe ai đỏ mủi xanh lường

Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em?


Trước những lời thôi thúc của nàng, cuối cùng chàng quyết định về Lục Tỉnh thăm nàng. Ngày xưa, đường bộ đi Lục Tỉnh rất khó khăn, không có cầu bắt qua sông rạch, lại lắm truông nguy hiểm:

Ai về Giồng Dứa qua truông (Giồng Dứa thuộc Tiền Giang)

Gió đưa bông sậy, dạ buồn nhớ ai



Kể từ tháng 5 năm 1886, có thể đi Lục Tỉnh bằng xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho tại nhà ga xe lửa ở trước chợ Bến Thành:

Mười giờ xe lửa nhỏ bỏ chợ Bến Thành,
Xúp lê kia dạo thổi, bộ hành xôn xao.


Tuy nhiên, phương tiện thông thường và lý thú nhất vẫn là ghe thuyền trên hệ thống sông rạch Đồng Nai nối liền với Sông Tiền, sông Hậu. Chàng bắt đầu khởi hành bằng ghe ở Sông Sài Gòn:

Sông Sài Gòn chạy dài Chợ Củ

Nước mênh mông nước lũ phù sa


Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định Đồng Nai thì về


Thất Sơn ai đắp mà cao
Sông Tiền, sông Hậu ai đào mà sâu

Suốt cuộc hành trinh, đâu đâu cũng:

Sông Tiền sông Hậu cùng nguồn
Thuyền bè tấp nập bán buôn dập dìu.



Không có gì lý thú bằng đi ghe thuyền trên sóng nước:

Gió lên rồi căng buồm cho sướng

Gác chèo lên ta nướng khô khoai

Nhậu cho tiêu hết mấy chai

Bỏ ghe nghiêng ngửa không ai chống chèo.


và:

Đường rừng có bốn cái vui

Lúc chống, lúc lạo, lúc bơi, lúc chèo



Ngoài ra, trên dòng sông thơ mộng, chàng còn có thể tán tỉnh bao cô gái miệt vườn:

Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi

Kẻo khúc sông này bờ bụi tối tăm.



Cô gái miệt vườn cũng đẩy đưa:

Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo
Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em


Cơ hội tán tỉnh đã đến:

Gíó thổi lao xao khúc sông nào sóng nấy

Thuyền em đi giữa dòng anh thấy anh thương


Khúc sông chật hẹp khôn tuỳ

Lo cho thân bậu sá gì thân qua

Gặp nhiều cô gái miệt vườn xinh đẹp, chàng thoáng có ý nghĩ:

Sông Tiền cá lội huyên thiên

Lòng anh muốn bắt con cá lội riêng một mình



Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn

Dựa lưng em như uống chén rượu ngon

Thà rằng chẳng biết cho đừng

Biết ra dan díu nửa chừng lại thôi

Con sông bên lở bên bồi

Một con cá lội mấy người buông câu



Và chàng thả hồn mơ mộng đến cô gái Tiền Giang:

Gió lao xao thổi vào mái lá

Như ru tình cô gái Tiền Giang



Thời gian thơ mộng lửng lờ trôi như dòng nước chảy, ghe chàng đến vùng Bến Lức:

Thủ Thiêm, Thủ Đức, Bến Lức, Thủ Đoàn (1),

Anh phải lòng nàng tại Thủ Chiến Sai (2)

Nơi Bến Lức có sông Vàm Cỏ nước xanh trong vắt, chàng chạnh lòng:

Sông Vàm Cỏ nước trong thấy đáy

Dòng Cửu Long xuôi chảy dịu dàng

Ai về Mỹ Thuận Tiền Giang

Có thương nhớ gã đánh đàn năm xưa.



Mặc dầu đầy thơ mộng, sông Vàm Cỏ rất nguy hiểm cho ghe thuyền ở đoạn Vàm Bao Ngược

Thứ nhất Vàm Nao, thứ nhì Bao Ngược. (3)



Một là sang ngang Bao Ngược,

Hai là vượt sông Vàm Tuần (4)

Anh đi ghe lúa Gò Công,

Trở về Bao Ngược bị dông đứt buồm.

Đứt buồm nước chảy có cuồn,

Anh đi qua đó dựng buồm chạy luôn.

Sông Tra (5) thả ra Bao Ngược, sợ gặp sóng thần

Vịnh Xã Kiểng đến Vàm Tuần, sợ thần Hà Bá.




Bến Lức, Long An là quê hương của các giống lúa có gạo thơm ngon:

Đi đâu cũng nhớ quê mình

Nhớ cầu Bến Lức, nhớ chình gạo thơm



Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai

Ai về xin nhớ cho ai theo cùng



Cám ơn hạt lúa nàng co

Nợ nần trả hết, lại no tấm lòng



Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi

Gạo thơm Nàng Quốc em nuôi mẹ già



Bây giờ ghe chàng đã gần tới Mỹ Tho:

Rạch Gầm Xoài Mút tăm tăm

Xê xuống chút nữa tới vàm Mỹ tho…



“Mỹ Tho Đại Phố” là thành phố cổ nhất của miền Lục Tỉnh, được thành lập năm 1623 do Dương Ngạn Địch, một tướng Tàu tị nạn chạy trốn Mản Thanh và được chúa Nguyễn cho định cư ở Peam Mesar thuộc Thủy Chân Lạp. Mysar phát âm theo người Miên là M’Tho, và người Việt nói trại thành Mỹ Tho. Mỹ Tho tuy không lớn đẹp bằng Sài Gòn “Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ, Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu”, nhưng cũng không thua kém lắm:

Đèn nào cao bằng đèn Chợ Mỹ
Lộ nào kỹ bằng lộ Cần Thơ
Anh thương em lững đững lờ đờ
Tỷ như Tôn Các ngồi chờ Bạch Viên.



Đúng vậy, chàng đã bị thôi miên bởi cô gái Mỹ Tho vừa đẹp vừa gan dạ:

Gái Mỹ Tho mày tằm mắt phượng
Giặc đến nhà chẳng vụng quơ đao



Cô gái Mỹ Tho cũng lắm đa tình:

Khi nào anh thấy nhớ ai

Xin về chợ Mỹ, đường dài dễ đi

Vườn xoài vườn ổi xum xê

Mặc tình anh “hái” anh đòi… em cho



Mỹ Tho còn nổi tiếng với cam sành, vú sửa và nấm rơm:

Vú sữa Sầm Giang căng dáng mộng

Nấm rơm Long Định ủ ngàn sương



Cam sành vú sửa Trung Lương,

Dừa xanh, dừa nước, quít đường Ba Tri


Đến Mỹ Tho mà không đến Gò Công là một điều thiếu sót. Gò Công chỉ cách Mỹ Tho 30 km, có bờ biển đẹp, là quê hương của hoàng thái hậu Từ Dủ (vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức) và Nam Phương hoàng hậu (vợ vua Bảo Đại), cũng là quê hương của Võ Tánh và Trương Công Định:

Gò Công rạch Lá nhớ nhung

Quê xưa Võ Tánh, Trương công oai hùng

Lạc loài cách bến xa sông

Gió thu hiu hắt chạnh lòng cố hương.



Đến Gò Công, ai chẳng bùi ngùi nhớ lại trận bảo năm Thìn (ngày 16/3/1904), gây tổn thất nhiều cho Lục Tỉnh, từ vùng biển cho tới Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc. Riêng tại Gò Công hơn 5000 người chết:

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc
Gió nào độc bằng gió Gò Công
Thổi ngọn đông phong lạc vợ xa chồng,
Đêm nằm nghĩ lại nước mắt hồng tuôn rơi.

Gió nào độc bằng gió Gò Công
Sông nào nông bằng sông Châu Đốc



Gò Công đẹp lắm, ai chẳng si tình:

Ước chi anh như đám dừa xanh cuối sông Vàm cỏ

Như rặng trâm bầu đón gió cửa Cửu Long

Để được sống bên em giữa muôn trùng sóng vỗ

Ơi người anh yêu, người con gái Gò Công



Gò Công là vùng biển giàu tôm cá, nên có nhiều món hải sản đặc thù, đặc biệt món “Mắm Tôm Chà Gò Công”:

Gò Công giáp biển, nổi tiếng mắm tôm chà
Mắm tôm chua ai ai cũng chắt lưỡi hít hà
Saigon, chợ Mỹ ai mà không hay



Chợ Gò Công có bán đủ thứ:

Chợ nào vui bằng chợ Gò (Công)
Tôm khô, cá trung, thịt bò, thịt heo
Thật nhiều bánh ướt, bánh xèo
Bánh khô bánh nổ bánh bèo liên lu.



Gò Công cảnh đẹp người xinh, thế mà có kẻ nói xấu Gò Công:

Có bún nào ngon hơn bún Chợ Gạo
Có đứa nào xạo bằng thằng Út Gò Công



Bỏ xứ Gò Công thẳng xông chợ Mỹ
Đến chốn Sài Gòn làm đĩ nuôi thân

Lòng chàng phân vân, xao xuyến, ngao ngán tình đời. Chàng tiếc nuối một mối tình dang dở ở vùng đất biển:

Phượng hoàng đậu nhánh vông nem
Phải dè năm ngoái cưới em cho rồi
Ngã tư Chợ Gạo nước hồi
Tui chồng mình vợ còn chờ đợi ai



Chàng từ giã Gò Công, Mỹ Tho, và tiếp tục cuộc hành trình về miền Lục Tỉnh.

Cước chú:

(1) Nam Kỳ Lục Tỉnh: Năm 1834, Nam Kỳ được vua Minh Mạng chia làm 6 tỉnh, gồm: Gia Định hay Phiên An (lỵ sở là Sài Gòn), Biên Hòa (lỵ sở Thành Biên Hòa), Định Tường (lỵ sở thành Mỹ Tho, từ Đồng Tháp đến Gò Công), Vĩnh Long (lỵ sở thành Vĩnh Long, gồm Vĩnh Long, Sa Đéc, Bến Tre, Trà Vinh), An Giang (lỵ sở là thành Châu Đốc, gồm Châu Đốc, An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng) và Hà Tiên (lỵ sở là thành Hà Tiên, gồm Rạch Giá, Bạc Liêu, Cà Mau) (xem bản đồ).



(2): Giồng Dứa thuộc Tiền Giang

(3): Đồn canh ngày xưa trên sông Tiền

(4): Một nhánh sông ở Lý Nhơn, Cần Giờ, nối Vàm Cỏ với Sài Gòn

(5): Một nhánh sông nối Gò Công với Vàm Cỏ
***


Mỹ Tho là đô thị loại II và là tỉnh lỵ của tỉnh Tiền Giang vùng đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Vào thế kỷ 17, Mỹ Tho cùng với Cù Lao Phố, Đồng Nai là trong 2 trung tâm thương mại tấp nập nhất Nam Bộ.
Thành phố Mỹ Tho được công nhận là đô thị loại II ngày 07/20/2005., là đô thị tỉnh lỵ, nằm ở bờ Bắc hạ lưu sông Tiền.
Địa giới hành chính
Phía đông và bắc giáp huyện Chợ Gạo,
Phía tây giáp huyện Châu Thành,
Phía nam giáp sông Tiền và tỉnh Bến Tre.
Diện tích, dân số
Diện tích tự nhiên: 81.54 km2, trong đó phần diện tích nội thị là 9,17 km2.
Dân số thường trú và tạm trú khoảng 215.000 người, có 17 đơn vị hành chính cơ sở (gồm 11 phường và 06 xã).
STT Tên đơn vị hành chính Diện tích (ha) Dân số (người) Mật độ (người/km2) Trụ sở UBND
1 Phường 1 78,44 7.371 9.379 43 Lê Lợi
2 Phường 2 70,65 14.702 20.810 45 Nguyễn Huỳnh Đức – Phường 2
3 Phường 3 54,11 11.447 21.155 4C2 Học Lạc
4 Phường 4 80,58 19.335 23.995 23 Ấp Bắc-Phường 4
5 Phường 5 271,80 14.180 5.217 479 Ấp Bắc – Phường 5
6 Phường 6 311,3 20.604 6.619 153/3 Lê Thị Hồng Gấm – Phường 6
7 Phường 7 39,98 10.950 27.389 139 Nguyễn Huệ
8 Phường 8 68,69 11.391 16.583 13/11 Tạ Thu Thâu
9 Phường 9 274 9.270 3.380 Khu phố 4, Đinh Bộ Lĩnh
10 Phường 10 266,5 10.287 3.859 Khu phố 1, Ấp Bắc – phường 10
11 Phường Tân Long 329,71 16.583 1.069 Khu phố Tân Hà – Phường Tân Long
12 Xã Đạo Thạnh 587,99 11.429 1.944 Ấp 3A – Xã Đạo Thạnh
13 Xã Trung An 907,96 14.137 1.557 Ấp 5 – Xã Trung An
14 Xã Mỹ Phong 107,427 12.266 1.142 Ấp Hội Gia – Xã Mỹ Phong
15 Xã Tân Mỹ Chánh 955,93 13.738 1.437 Ấp Phong Thuận A – xã Tân Mỹ Chánh
16 Xã Thới Sơn 1.211,639 5.746 474 Ấp Thới Hòa, xã Thới Sơn
17 Xã Phước Thạnh 1.017,60 12.105 1.190 Ấp Phước Hoà – xã Phước Thạnh
Toàn thành phố 8.154 215.541 3.783 36 Hùng Vương – phường 7
Ngày 23 tháng 10 năm 2008,Thành phố Mỹ Tho sau khi điều chỉnh, mở rộng có diện tích tự nhiên là 8.154,08 ha (tăng 3.295,28 ha), dân số 204.142 người (tăng 94.725 người), 17 đơn vị hành chính phường – xã (tăng 02 đơn vị). Diện tích và dân số tăng thêm để mở rộng TP được điều chỉnh từ một phần của các xã: Long An, Phước Thạnh, Thạnh Phú, Bình Đức và toàn bộ xã Thới Sơn (huyện Châu Thành), và một phần các xã: Song Bình – Lương Hoà Lạc (Chợ Gạo). 17 đơn vị hành chính cấp phường – xã của TP Mỹ Tho khi được điều chỉnh mở rộng bao gồm các phường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, Tân Long và các xã: Phước Thạnh, Trung An, Thới Sơn, Đạo Thạnh, Tân Mỹ Chánh, Mỹ Phong.
Thành phố Mỹ Tho có lịch sử hình thành khá sớm và liên tục phát triển cho đến nay. Vào năm 1679, một nhóm khoảng ba ngàn người Minh Hương được Chúa Nguyễn cho định cư vùng đất mới này. Trong nhóm có Dương Ngạn Địch đứng ra lập Mỹ Tho đại phố (chữ Hán: 美萩大浦) ở làng Mỹ Chánh, huyện Kiến Hòa. Khu đại phố này kéo dài đến Cầu Vĩ, Gò Cát, tức khu vực xã Mỹ Phong hiện nay. Rất nhiều làng xã mọc lên xung quanh khu vực Mỹ Tho: Thái Trấn lập làng An Hoà (sau đổi là Thạnh Trị), Nguyễn Văn Trước lập làng Điều Hòa.
Vào thế kỷ 17, Mỹ Tho đã trở thành một trong hai trung tâm thương mại lớn nhất Nam Bộ lúc bấy giờ (trung tâm còn lại là Cù lao Phố, Biên Hòa). Sự hưng thịnh của phố chợ Mỹ Tho cho thấy nền sản xuất nông – ngư nghiệp và kinh tế hàng hóa địa phương ở thời điểm đó đã có những bước phát triển đáng kể, đặc biệt là đối với ngành thương mại.
Năm 1772, Mỹ Tho thuộc đạo Trường Đồn, đến năm 1779 đạo Trường Đồn được nâng lên thành dinh Trường Đồn. Năm 1781, dinh Trường đồn lại đổi tên thành dinh Trấn Định. Đến năm 1785, quân Xiêm đã tràn sang và biến nơi đây thành bãi chiến trường (Trận Rạch Gầm – Xoài Mút). Phố xá bị tàn phá, của cải bị cướp bóc nên Mỹ Tho đại phố trở nên tiêu điều. Thương nhân ở đây hầu hết đều chuyển lên làm ăn ở Sài Gòn – Bến Nghé. Năm 1788, mặc dù được khôi phục dần, nhưng không còn nhộn nhịp như trước. Đến năm Nhâm Tý (1792), Chúa Nguyễn cho dời lỵ sở dinh Trấn Định về chợ Mỹ Tho thuộc thôn Mỹ Chánh (khu vực Chợ Cũ thuộc phường 2, 3 và 8 ngày nay) và cũng tại đây chúa Nguyễn đã cho xây dựng thành Trấn Định. Thành được xây theo đồ họa kiến trúc của ông Trần Văn Học.
Năm 1826, vua Minh Mạng lại cho dời lỵ sở trấn Định Tường sang phía tây sông Bảo Định thuộc hai thôn Điều Hòa và Bình Tạo của huyện Kiến Hưng (nay thuộc các phường 1, 4 và 7), phủ Kiến An, tỉnh Định Tường. Cũng trong năm này, ông Dương Tấn Tuyên lập một ngôi chợ bên cạnh thành mới tại khu vực chợ Mỹ Tho ngày nay.
Mỹ Tho luôn luôn là trị sở, tỉnh lỵ tỉnh Định Tường và đến năm 1900 trở thành tỉnh lỵ tỉnh Mỹ Tho khi tỉnh này được thành lập.
Mỹ Tho từng có đường xe lửa nối với Sài Gòn dài 71 km, khánh thành ngày 20 tháng 7 năm 1885, bị phá hỏng thời chống Pháp.
Năm 1956, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa lập lại tỉnh Định Tường, giải thể thị xã Mỹ Tho, nhập địa bàn vào xã Điều Hòa. Ngày 30 tháng 9 năm 1970, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa cải biến xã Điều Hòa thành thị xã Mỹ Tho, đến ngày 10 tháng 6 năm 1971, chia địa bàn thành 6 khu phố.
Từ năm 1976 đến 2005, Mỹ Tho được công nhận là thành phố loại 3 và từ 2005 là đô thị loại 2.
Mỹ Tho bắt nguồn từ phương ngữ gốc Khơme như Mê Sor biến thể thành “Mỹ” và “Tho” qua người Việt, có nghĩa là xứ có người con gái da trắng, đẹp. Từ đó “Mỹ”, vốn dĩ từ chữ Hán là “đẹp”, nhưng từ “Tho” không có trong chữ Hán nên có lối viết khác nhau qua chữ Nôm, có hai lối viết, để chỉ vùng nước thơm hay cỏ thơm.
Mỹ Tho có đặc sản nổi tiếng là Hủ tiếu Mỹ Tho. Khác với Hủ tiếu Nam Vang, Hủ tiếu Mỹ Tho có thêm tôm, mực, hải sản, ốc nên nước dùng ngọt. Sợi hủ tiếu Mỹ Tho làm từ gạo thơm, dẻo (nổi tiếng là thứ gạo Gò Cát của làng Mỹ Phong ), phải dùng trong ngày, do vậy có mùi thơm của gạo, to và trong, trụng nước sôi thì mềm nhưng không bị bở, nhai dai dai, nên gọi là hủ tiếu dai, ăn không có mùi chua . Hủ tiếu Mỹ Tho thường ăn với phụ gia là giá sống, chanh, ớt, hẹ, nước tương, rau cải, (sau này còn có thêm cần tây, sườn heo và trứng cút), có thể ăn với thịt bò viên và tương ớt, tương đen. Nhắc đến hủ tiếu không thể bỏ qua hai món nổi tiếng khác của Mỹ Tho đó là Hủ tiếu sa tế và hủ tiếu bò viên. Đây là hai món ăn khoái khẩu của người dân thành phố có hương vị đậm đà, thơm ngon.
Thành phố là vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh với cơ cấu công nghiệp, xây dựng chiếm tỷ trọng 36,9%, thương mại – dịch vụ chiếm 47,5% và nông, ngư nghiệp chiếm 15,6% (số liệu năm 2004), trong đó ngư nghiệp chiếm khoảng 20% với đoàn tàu đánh bắt 400 phương tiện, được trang bị khá hiện đại các thiết bị đánh bắt và phục vụ đánh bắt.
Về kinh tế: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ năm 1995 đến nay trên 10%; giá trị công nghiệp xây dựng trên địa bàn đến năm 2006 khoảng 1.000 tỷ đồng, thu ngân sách 150 tỷ đồng, đầu tư xây dựng trên 110 tỷ đồng.
Thành phố có thế mạnh về thương mại – dịch vụ và tiềm năng du lịch, đặc biệt là du lịch xanh miệt vườn, sông nước. Số lượng khách tham quan du lịch hàng năm đều tăng (năm 2001: 350.000 khách, năm 2002: 400.000 khách đến tham quan du lịch thành phố Mỹ Tho).
Thành phố Mỹ Tho là đầu mối giao thông thủy – bộ rất thuận lợi đối với khu vực đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể, có sông Tiền là một trong hai nhánh của sông Cửu Long. Đây là tuyến giao thông quan trọng mang tính đối ngoại của thành phố Mỹ Tho, rất tiện lợi vận chuyển, lưu thông hàng thủy sản, nối liền Mỹ Tho với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long ra biển Đông về thành phố Hồ Chí Minh. Về đường bộ có Quốc lộ 1A, Quốc lộ 50, Quốc lộ 60 là những tuyến giao thông đối ngoại quan trọng của thành phố. Trong tương lai không xa sẽ có tuyến đường cao tốc Sài Gòn – Trung Lương và tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho.
Năm 2007 tốc độ tăng trưởng GDP của toàn thành phố là 32.8%, thu nhập bình quân đầu người đại 20,881 triệu đồng- mức cao nhất của toàn tỉnh . Nếu như năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố đạt trên 1.598 tỷ đồng (tăng 26,47% so với năm 2005), thì năm 2007 ước đạt trên 2.302 tỷ đồng (cao nhất so với các địa phương trong tỉnh), tăng 41,91% so với năm 2006.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế của thành phố tiếp tục có những diễn biến tốt, kinh tế tăng trưởng ở mức cao 27,03%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng trên 33,53%, tổng mức lưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng khoảng 29,5%, kim ngạch xuất khẩu tăng 55,45%, các khu vực kinh tế đều tăng cao so với năm 2007, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt khá cao (trên 70%), vốn đầu tư xây dựng cơ bản thực hiện trên 81%.
Thu nhập bình quân đầu người: 1842 USD Tỉ lệ hộ nghèo: 1.3%
Ước tính ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 33,84% trong tổng cơ cấu GDP của thành phố. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp chiếm khoảng 40% giá trị của cả tỉnh.
Ngày nay, toàn thành phố có 1 khu công nghiệp quy mô và lớn là Khu Công Nghiệp Mỹ Tho (79 ha) và 2 cụm Công Nghiệp Tân Mỹ Chánh, Cụm công nghiệp Trung An… đều làm ăn có hiệu quả và luôn có mức tăng trưởng cao so với các KCN ở tỉnh lân cận và đang là nơi thu hút nguồn lao động lớn. Do có vị trí trung tâm, nơi đây còn là đầu mối chính chuyển hàng hoá từ TP. Sài gòn về toàn vùng đồng bằng và là đầu mối thu hút nhiều nguồn nông sản từ các tỉnh khác về. Dự kiến xây dựng mới cụm công nghiệp xã Mỹ Phong với diện tích 20 ha.
Ngành thương mại – dịch vụ chiếm 57,68% trong tổng cơ cấu GDP của toàn thành phố với tốc độ phát triển nhanh, phân bố rộng khắp trong nội thị. Do đó thành phố được xem là đầu mối dịch vụ hàng đầu của toàn tỉnh. Hệ thống giao dịch, trao đổi hàng hóa phân bố rộng và ngày càng được nâng cao về quy mô lẫn chất lượng. Phía đông nam là Bến Xe Tiền Giang và đông bắc là Cảng Mỹ Tho có công suất 1500 tấn – một cảng quan trọng trong hệ thống cảng của toàn đồng bằng và cả nước, có thể đón tàu có trọng tải lớn và là nơi trung chuyển hàng hóa của vùng.
Hoạt động hội chợ thương mại diễn ra rất sôi nổi, dưới sự quản lý của Trung tâm xúc tiến thương mại (thuộc Sở Công Thương Tiền Giang). Từ năm 2008-2010, tại thành phố Mỹ Tho trung bình mỗi năm có 5 hội chợ triển lãm. Đặc biệt là hội chợ tổ chức vào dịp tết (mỗi năm một lần).
Trên địa bàn thành phố hiện đã có nhiều ngân hàng chọn nơi đây để mở các chi nhánh và phòng giao dịch của mình như: ACB (Ngân hàng TMCP Á Châu), Sacombank (Ngân hàng Sài Gòn Thương tín), Vietcombank (Ngân hàng ngoại thương Việt Nam), Vietinbank (Ngân hàng công thuong Việt Nam), BIDV (Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam), MHB (Ngân hàng phát triển nhà ĐB Sông Cửu Long), SCB (Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn),Eximbank (Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Vịệt Nam ), Ngân hàng Phương Nam, Đông Á Bank (Ngân hàng Đông Á), Agribank, Ngân hàng Đông Nam Á (Sea Bank)… cùng một hệ thống các máy rút tiền tự động (ATM) trên toàn địa bàn thành phố giúp cho việc giao dịch của người dân và du khách rất thuận lợi. Ngoài ra Thành Phố Mỹ Tho còn có nhiều chuỗi siêu thị như : Coop Mark -Mỹ Tho (thuộc hệ thống Sài Gòn Coop) và hệ thống siêu thị diện máy Chợ Lớn liền kề. .Hệ thống Trung Tâm Thương Mại Mỹ Tho quy mô gồm 1 hầm thông và 5 tầng lầu ở vị trí Trung tâm TP, siêu thị Co.opMart, siêu thị Vinatex – Tập đoàn dệt may Việt Nam, siêu thị Baby Mark ,Siêu thị văn hóa sách Tiền Giang,…
Các địa điểm tham quan : Chùa Vĩnh Tràng, trại rắn Đồng Tâm, Bảo tàng Tiền Giang, cù lao Thới Sơn, Giếng Nước, Bến Tắm Ngựa…
Mỹ Tho đã và đang phát triển đa dạng nhiều loại hình du lịch theo tour liên kết và du lịch miệt vườn với nhiều chương trình tour đa dạng và mở rộng liên với Thành phố Sài gòn và Cần Thơ. Nhiều khu vui chơi du lịch trung tâm như: chùa Vĩnh Tràng, Trại rắn Đồng Tâm, khu vui chơi tổng hợp và du lịch miệt vườn sông nước Cửu Long Cù Lao Thới Sơn với các cồn: Cồn Long, cồn Lân, cồn Quy, cồn Phụng hợp thành vùng đất tứ linh vô cùng độc đáo mà du khách không thể không ghé qua. Ngoài ra, du khách còn có thể đón tàu ở bến Lạc Hồng để tham quan các cù lao miền sông nước, ăn trái cây, thăm trại làm mật ong, nghe hát cải lương đặc sắc Nam Bộ.
Comments