MY THO CITY MAP

SỞ Y TẾ TỈNH TIỀN GIANG

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

SỐ NGƯỜI ĐANG ONLINE

1267ngày cho tới
khi tốt nghiệp Dược sĩ Đại học

Chủ sở hữu trang web

  • TUẤN PHAN

ĐÔ THỊ MỸ THO XƯA VÀ NAY

Lịch sử Cầu Quay

Người Pháp đến Mỹ Tho vào năm 1861. Theo ghi chép của các nhà sử học, khoảng năm 1890, Pháp cho xây cây cầu đầu tiên bắc qua kinh Bảo Định để thay thế cho những cây cầu tre thô sơ hay những chiếc đò ngang nhỏ bé, đó chính là cầu Quay.

Cầu Quay giúp cho người dân phía bên Chợ Cũ (xưa có tên gọi là làng Mỹ Chánh, tiền thân của thành phố Mỹ Tho) và người dân của  các thôn Điều Hoà, Thạnh Trị, Bình Tạo (các làng phía Tây thành phố) qua lại dễ dàng. Việc xây cầy Quay còn làm cho nơi đây trở thành một trung tâm hành chánh, thương mãi, kinh tế, xã hội... của lỵ sở trấn Định Tường. Và từ đó, khu vực bên phía Tây cầu Quay từng bước trở thành trung tâm thành phố Mỹ Tho ngày nay.






Trải theo từng bước thăng trầm của lịch sử, cho đến nay cầu Quay đã qua ba lần xây cất. Lần thứ nhất vào khoảng năm 1890, xây dựng bằng sắt thép, mang tên cầu Quay. Đến năm 1938, do cầu bị sập (nhưng không tai nạn nào), người Pháp cho làm lại ngay sau đó bằng bê tông cốt sắt tức là loại cầu đúc, nhưng vẫn giữ tên Cầu Quay. Đến năm 199? cầu được phá đi và xây cất lại cũng bằng bê tông cốt sắt, dù vậy vẫn còn mang tên Cầu Quay khiến cho những người lớn tuổi chạnh nhớ đến cây cầu Quay ngày xưa và một số thanh thiếu niên không hiểu vì sao cây cầu nầy lại có tên là Cầu Quay.

Cầu Quay Mỹ Tho nguyên thủy là một công trình kiến trúc mà người Pháp gọi là “mẫu Eiffel” (style Eiffel), hàng đầu thế giới thời ấy. Công trình do kiến trúc sư người Pháp - ông Gustave Eiffel thiết kế, hoàn toàn dùng vật liệu sắt thép. Eiffel là nhà tiên phong trong công trình sắt thép trên thế giới, là công trình sư của tháp Eiffel, Paris – biểu tượng và cũng là thắng cảnh nổi tiếng của Pháp. Hầu hết các công trình kiến trúc bằng sắt thép ở Pháp cũng như ở Việt Nam thời bấy giờ, trong đó có cầu xe lửa Bến Lức, cầu xe lửa Tân An, cầu Hàm Rồng ở Thanh Hóa… cầu Quay nguyên thủy ở Mỹ Tho cùng những cây cầu quay khác ở nhiều tỉnh của Việt Nam, trong toàn cõi Đông Dương và luôn cả thế giới đều có công đóng góp của vị kiến trúc sư tài ba nầy.

Cây cầu Quay Mỹ Tho được xây cất hoàn toàn bằng sắt với đặc điểm là nhịp giữa có 2 đoạn rời nhau. Bình thường, 2 đoạn của nhịp giữa hạ xuống để cho xe cộ và bộ hành qua lại. Khi cần, hai đoạn nầy được tách ra và kéo lên cao như nóc nhà để có độ cao cho tàu bè lưu thông phía dưới.

Cũng nên biết, trước khi có bê-tông cốt sắt, ngoài gạch đá, các công trình xây cất đều được thực hiện bằng sắt thép. Nhân tiện, xin nêu ra 4 mô hình cầu bằng sắt thép trên thế giới mang dấu ấn Eiffel cách nay vài thế kỷ để thấy Việt Nam ta và nhất là thành phố Mỹ Tho đã có được một công trình độc đáo như vậy.

Có đến 4 kiểu mẫu như sau, để ta biết vì sao cây cầu lịch sử nầy có tên là cầu Quay, và biệt danh nầy mãi đến bây giờ vẫn còn.

  • Cầu Mở: Cầu Quay Mỹ Tho vận hành theo lối mở lên cao như đã trình bày ở phần trên, lẽ ra không gọi là cầu quay mà phải gọi là cầu mở (pont ouvert). Sở dĩ người dân gọi là Cầu Quay vì khi cần mở cho hai nhịp cất lên cao để tàu bè qua lại, người ta phải dùng tay quay hệ thống ròng rọc để kéo hai đầu nhịp cầu lên cao như mái nhà có dáng đỉnh của hình tam giác. Xin đừng nhầm lẫn với loại cầu quay sẽ trình bày ở phần sau.
  • Cầu Nâng: Hệ thống cầu Tower bridge, tức là Cầu Tháp qua sông Thames ở Luân Đôn hiện thời, nếu chưa đi chúng ta cũng có thể thấy trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cầu có đặc điểm là nhịp giữa nằm trên hai trụ cầu, thiết kế thành hai tháp (tower, do đó có tên Tower bridge) được đồng bộ nâng lên cao, khi tàu bè qua lại. Cầu nầy thuộc loại cầu nâng (pont levant).
  • Cầu Quay: Một loại cầu nữa có hai nhịp giữa nằm cân đối trên mỗi trụ hai bên. Khi tàu bè qua lại, hai nhịp giữa được xây ngang do một trục ở giữa. Loại cầu nầy mới chính là cầu quay (pont tournant) có nghĩa là quay ngang.
  • Cầu Tàu: Còn một loại cầu nữa gọi là cầu tàu (pont de bateaux) không phải cầu cho tàu đậu, mà vẫn là một chiếc cầu bắc sang sông, nhưng nhịp giữa thay vì nằm trên cột cầu, lại được nằm trên chiếc tàu, mỗi bên một chiếc thế cho cột cầu đỡ 2 nhịp cầu. Khi có tàu bè qua lại, hai chiếc tàu nầy nổ máy chở theo 2 nhịp giữa tách khỏi cầu mẹ, nhường chỗ cho tàu qua, xong trở lại vị trí cũ cho xe cộ qua lại.

Hinh anh thanh pho My Tho xua



Thế kỷ 17-18, Mỹ Tho đại phố là một trong những trung tâm kinh tế sầm uất bậc nhất Nam Bộ- các thư tịch cổ nói vậy. Hình thành vào khoảng năm 1679, Mỹ Tho đại phố chiếm trọn một phần thôn Mỹ Chánh thuộc dinh Trấn Định (nay thuộc phường 2, 3, 8 của thành phố Mỹ Tho, nằm cặp sông Tiền).

Từ đầu thế kỉ 17 hoặc sớm hơn, cuối thế kỉ 16, Mỹ Tho đã có lưu dân người Việt vào khẩn hoang và tiến hành sản xuất nông nghiệp.
Vào vùng đất mới, người đi khai hoang gặp những thuận lợi rất cơ bản như : khí hậu điều hòa, không có bão lụt, mặt đất bằng phẳng với sông rạch chằng chịt mang lại tôm cá, nước tưới, phù sa màu mỡ và thuận tiện cho việc giao lưu… Tuy nhiên, trong buổi đầu, cư dân gặp không ít trở ngại như : rừng rậm hoang hiểm, ác thú đầy dẫy…Thế nhưng, bằng sức lao động quả cảm, bền bỉ, sáng tạo trong việc khai thác 
tài nguyên tự nhiên (đất, nước…) đến nửa sau thế kỉ 17, việc mở mang ruộng đất, trồng tỉa hoa lợi của cư dân người Việt ở Mỹ Tho về cơ bản đã đi dần vào ổn định.

Đến năm 1679, đất và người Mỹ Tho đã tiếp nhận đùm bọc một nhóm người Hoa do Dương Ngạn Địch dẫn đầu, vì chống đối vương triều Mãn Thanh nên di trú sang nước ta. Ở Mỹ Tho, số người Hoa này chủ yếu sống nhờ vào nghề buôn bán, và qua quan hệ hôn nhân với người Việt, chỉ sau vài thế hệ, họ 

Ký ức Mỹ Tho Đại phố

nhập thân hòan toàn vào dân tộc Việt Nam, mà dấu ấn còn sót lại để nhận biết chỉ là danh xưng “Minh Hương” (tức là con cháu nhà Minh) mà thôi.

Ky su Me Kong thanh pho My Tho

TP. My Tho 1970

Khối cộng đồng dân tộc Việt – Minh Hương đã 

Hinh anh TP. My Tho ngay nay

TP. My Tho "Ai con nho chang"

chung sức đồng lòng ra sức phát triển Mỹ Tho. Cho đến khoảng 
cuối thế kỉ 17, Mỹ Tho đã trở thành một trong ba trung tâm thương mại lớn nhất ở toàn Nam bộ hồi đó (hai trung tâm kia là Cù Lao Phố _ Biên Hòa và Hà Tiên), với 

Tro ve TP. My Tho

Thanh pho My Tho truoc 1975

“chợ phố lớn Mỹ Tho, có nhà ngói cột chạ
m, đình cao chùa rộng, ghe thuyền ở các ngả sông biển đến đậu đông 
đúc, làm thành một chốn đại đô hội, rất phồn hoa, huyên náo” (Gia Định thành thông chí - 

GIOI THIEU THANH PHO MY THO NGAY NAY VA XUA

Trịnh Hoài Đức). Sự sung thịnh của chợ Mỹ Tho đã nói lên nền sản xuất nông nghiệp và kinh tế hàng hóa ở địa phương đã có những bước phát triển đáng kể. 
Nông sản, nhất là lúa gạo và cau, không chỉ đủ dùng cho nhu cầu của cư dân Mỹ Tho, mà còn dư ra với số lượng lớn, trở thành hàng hóa được buôn bán trên thị trường cả nước. Do đó, ở Mỹ Tho, sự hình thành vào buổi đầu là yếu tố “phố chợ”, và đó cũng là nền móng quyết định cho sự nghiệp phát triển về sau của Mỹ Tho.Có thể nói, lúc bấy giờ, làng xã của người Việt ở Mỹ Tho cũng bước dần vào chỗ ổn định. Đó là các làng Điều Hòa, Phú Hội, Mỹ Chánh, Bình Tạo, Mỹ Hóa, Đạo Ngạn, Thạnh Trị. Do chợ Mỹ Tho đã nổi lên như một trung tâm kinh tế - thương mại sầm uất, do cơ chế hành chánh ở cơ sở là làng xã đã có nề nếp, qui củ, cho nên năm 1781, chúa NGuyễn cho dời lỵ sở dinh Trấn Định từ giồng Kiến Định (Tân Hiệp) về thôn Mỹ Chánh - chợ Mỹ Tho (tức khu vực Chợ Cũ thuộc phường 2, phường 8 ngày nay). Bắt đầu từ đây, Mỹ Tho đã trở thành một trung tâm hành chánh thật sự, và để đi đến chỗ hoàn thiện nó, năm 1792, chúa Nguyễn đã cho xây dựng thành Mỹ Tho. Thành này do Trần Văn Học vẽ kiểu theo phương pháp đồ họa phương Tây, có tham khảo kiểu thành Vauban của Pháp. Thành Mỹ Tho có “dạng hình vuông, chu vi 998 tầm (khoảng 2000m), có mở hai cái cửa ở phía tả và phía hữu, nơi cửa có xây cầu bắc ngang hào, hào rộng 8 tầm (khoảng 16m), sâu 1 tầm (khoảng 2m), bốn mùa nước ngọt có nhiều tôm cá, dưới cầu có cửa cống nhỏ để lưu thông với sông lớn, ngoài hào có đắp lũy đất, có cạnh góc lồi ra hũng vô như hình hoa mai, chân lũy mặt tiền 30 tấm (khoảng 60m) thì đến sông lớn. Trong đồn có những kho gạo, kho thuốc đạn, trại quân và súng lớn, tích trữ đầy đủ, nghiêm chỉnh” (Gia định thành thông chí).
Đến cuối thế kỉ 18, Mỹ Tho đã có phố chợ buôn bán náo nhiệt, và khi đã xây dựng xong ngôi thành kiên cố, có quân đội thường trực và súng lớn để bảo vệ, thị địa phương Mỹ Tho đã trở thành một thành phố đúng nghĩa của nó.
Do yêu cầu phát triển thành phố, năm 1826, vua Minh Mạng cho dời lỵ sở của trấn Định Tường (trấn này được thành lập năm 1808 dưới thời vua Gia Long) ở thôn Mỹ Chánh sang hai thôn Điều Hòa và Bình Tạo ở về phía hữu ngạn sông Bảo Định (nay thuộc các phường 1,4,7), hình thành nên Mỹ Tho “mới”. Thành Mỹ Tho “mới” được Lê Văn Duyệt trực tiếp chỉ huy khoảng 11 ngàn nhân công thi công, xây dựng. Thành này vẫn được đắp bằng đất, chu vi 320 trượng (khoảng 2000m), cao 9 thước 5 tấc (khoảng 4,3m) mở 4 cửa, hào rộng 8 trượng (khoảng 3m), sâu 6 thước 5 tấc (khoảng 2,9m) (theo Đại Nam nhất thống chí).
Theo phỏng đoán, Mỹ Tho “mới” nằm lọt trong khung các con đường Rạch Gầm (phía nam), Lê Đại Hành (phía bắc), Lê Lợi (phía đông) và Nam Kì Khởi Nghĩa (phía tây). Các cửa thành, phỏng đoán tọa lạc tại các địa điểm sau :

- Cửa Bắc : ngã tư Lê Đại Hành – Hùng Vương.
- Cửa Nam : ngã ba Rạch Gầm – Hùng Vương.
- Cửa Đông : ngã tư Lê Lợi – Thủ Khoa Huân.
- Cửa Tây : ngã ba Nam Kì Khởi Nghĩa – Thủ Khoa Huân.

Ở lỵ sở mới, ngoài việc xây dựng thành tỉnh, chính quyền phong kiến còn tiến hành xây dựng hàng loạt các công trình khác nhằm phục vụ cho yêu cầu kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng …của địa phương, xứng đáng với vị trí trung tâm của toàn tỉnh Định Tường, như cất chợ, xây dựng cửa quan để thu thuế (1835), trường học (1826), đàn Xã Tắc (1833) thờ thần Xã Tắc (thần đất nước), đàn Tiến Nông (1832) thờ Thần Nông, miếu Thành Hoàng (1848)…(Gia Định thành thông chí). Đồng thời, lúc bấy giờ ở Mỹ Tho cũng có nhiều cá nhân bỏ tiền của ra để xây dựng một số chùa chiền có kiểu kiến trúc đẹp, độc đáo như chùa Bửu Lâm (1803) ở thôn Phú Hội, chùa Thiên Phúc (1803) ở thôn Mỹ Hóa, hội quán Kim Bảo (1819) (nay là chùa Ông phường 8), chùa Vĩnh Tràng (1849) ở thôn Mỹ Hóa…
Như vậy từ năm 1826 trở đi, Mỹ Tho bao gồm Mỹ Tho “cũ” và “mới”, cùng nhau phát triển. Giữa Mỹ Tho “cũ” và “mới”, do cách nhau bởi kinh Bảo Định, nên liên lạc với nhau bằng đò ngang, và từ đó hình thành nên một xóm đưa đò chuyên nghiệp mà sử sách gọi là “giang trạm Điều Hòa” (Gia Định thành thông chí). Được biết trước đó, năm 1791, chính quyền phong kiến có xây cầu Quỳ Tông bắc ngang kinh Bảo Định nhưng đến năm 1801, do nước sông chảy xiết, gây xoáy lở, nên cầu bị bỏ (Đại Nam nhất thống chí).
Điểm độc đáo của Mỹ Tho là được dựng lên ở ngã ba sông, thành phố ven sông, đặc trưng của hầu hết các thành phố - đô thị ở miền Nam. Đó là ngã ba sông do sông Mỹ Tho và kinh Bảo Định giao dòng với nhau, tạo ra sự thuận lợi về mọi mặt và làm chất xúc tác để Mỹ Tho vươn lên mạnh mẽ. Có thể nói do nằm ở vị trí ngã ba sông nên Mỹ Tho có sức quy tụ ghe thuyền, vật lực từ các địa phương khác đến đây và từ đó lan tỏa ra khắp nơi : ngược dòng sông Tiền theo hướng tây lên Cai Lậy, Cái Bè, Sa Đéc ..v..v.. Hoặc xa hơn nữa là Campuchia, hay xuôi dòng về phía đống đến Chợ Gạo, Gò Công, rồi ra cửa Tiểu theo đường biển ngoặc lên Gia Định hay ra tận Phú Xuân đến Huế, còn nếu như theo con kinh Bảo Định thì vẫn đến được Vũng Gù (Tân An ngày nay) rồi đi tiếp đến Gia Định.
Và một khi đã nói đến Mỹ Tho thì phải nói đến Cồn Rồng nằm trên sông Tiền ở phía trứơc mặt thành phố. Cồn này bắt đầu nổi lên từ năm 1788, có dáng như con rồng nằm, nên vua Gia Long mới đặt tên là Long Châu, còn dân gian thì quen gọi là Cồn Rồng.
Tên “Mỹ Tho” xuất hiện từ rất sớm. Có thể tên Mỹ Tho được viết bằng chữ Hán Nôm đã xuất hiện từ năm 1679 khi Trịnh Hoài Đức ghi trong quyển Gia Định thành thông chí sự kiện sau đây : “Ngày 28 tháng 2 năm Kỷ Vị (1679), tướng Long Môn là Dương Ngạn Địch từ nước Tàu chạy sang quy phục. Tháng 5, chúa Nguyễn sai Xá sai Văn Trinh dẫn cả binh biền và ghe thuyền đến đóng dinh trại ở địa phương Mỹ Tho”.
Còn tên Mỹ Tho viết bằng chữ Quốc ngữ xuất hiện cùng thời với tên Sài Gòn, tức là vào khoảng năm 1747.
Về từ nguyên và ngữ nghĩa của địa danh Mỹ Tho có hai cách giải thích. Cách thứ nhất cho rằng, địa danh Mỹ Tho có nguồn gốc từ chữ Hán Nôm với Mỹ là xinh đẹp và Tho là tên một loại cỏ. Cách thứ hai cho là, Mỹ Tho từ tiếng Khmer “Mêso” đọc trại mà ra, có nghĩa là “cô gái đẹp” hay “nàng tiên”.

Bến tàu thủy Mỹ Tho

Năm 1881, theo đề nghị của Hội đồng Quản hạt Nam kỳ, Bộ Công chính Pháp đã thông qua đề án khởi công xây dựng tuyến đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho. Ngày 20-7-1885 chuyến tàu đầu tiên xuất phát từ ga Sài Gòn, vượt sông Vàm Cỏ Đông bằng phà tại Bến Lức, đến ga Mỹ Tho. Mỗi ngày có 4 đôi tàu chạy trên tuyến đường này, chuyến đầu tiên xuất phát từ Mỹ Tho lúc 1g30 sáng, đến Sài Gòn lúc 5 giờ. Đường dài 72 km, gồm các ga Sài Gòn, An Đông, Phú Lâm, An Lạc, Bình Điền, Bình Chánh, Gò Đen, Bến Lức, Tân An, Tân Hương, Tân Hiệp, Lương Phú, Trung Lương và Mỹ Tho, ga cuối cùng nầy tại điểm Vườn hoa Lạc Hồng. Tuy nhiên phải chờ đến tháng 5-1886, sau khi xây xong hai cây cầu Bến Lức và Tân An, xe lửa mới chạy một mạch 72 cây số từ Sài Gòn về đến Mỹ Tho, còn trước đó thì phải sử dụng loại phà lớn có đường ray cho xe qua. Bấy giờ Mỹ Tho là điểm cuối cùng của đường sắt phía nam, đồng thời cũng là điểm khởi hành của nhiều xà - lúp hơi nước vận tải hàng hóa và khách về các điểm khác của Tây Nam bộ và sang Campuchia. 


Tuy nhiên trước đó ít năm, việc vận chuyển đường sông đã hình thành và phát triển với số lượng tương đối đông đúc, trong đó hai chiếc tàu Altalo và tàu Mauhot đậu bến Sài Gòn là phương tiện chủ lực. Gia Định báo số ra ngày 20 décembre 1884 trong mục Công việc tàu đò đàng sông cho biết: Từ tháng Mai cho tới tháng Octobre, các ngày thứ hai, thứ tư, thứ năm, thứ bảy, 10 giờ chiều, còn từ tháng Otobre cho tới tháng Mai, từ 8 giờ cho tới 10 giờ chiều (đêm) thì đi Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sa Đéc, cù lao Gien (Giêng), Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng và Sa Đéc. Ngoài ra các tàu đi sang Campuchia cũng theo tuyến nầy. Gia Định báo số ra ngày 14 février 1885 cho biết “ Chiếc tàu Altalo với chiếc tàu Mauhot đi trong đàng ấy. Từ Sài Gòn mỗi ngày thứ ba cùng thứ 6, 19 giờ chiều thì đi Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cái Tàu, Tân Châu, Vĩnh Lợi, Ba Nam, Nam Vang. Ngoài ra còn một tuyến đi Gò Công, Bến Tre, Trảng Bàng, Tây Ninh và Tân An vào ngày thứ bảy, lúc 10 giờ đêm.

Sau khi đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho hoạt động ổn định, Số lượng tàu thủy tăng lên đáng kể. Đầu thế kỷ XX, theo thống kê số xà - lúp hơi nước có 4 bến đậu thường xuyên ở Mỹ Tho là 6 chiếc, gồm: Công ty Ưng Tín Lâm (của Hoa kiều): 2 chiếc chạy tuyến Mỹ Tho – Phnômpênh, ông Nguyễn Văn Kiệu 2 chiếc và 2 chiếc khác là Vĩnh Bảo và Vĩnh Thuận thuộc Công ty Vĩnh Hiệp của ông Phan Văn Tòng. Trong giai đoạn này, Mỹ Tho còn là bến đậu loại tốt nhất, vì vậy ngoài các xà - lúp của các công ty vận tải trong tỉnh, còn rất nhiều xà - lúp khác đậu ở đây. Buổi sáng từ 6 giờ đến 8 giờ, cảng Mỹ Tho rất náo nhiệt và được ghi nhận là một cảng sông rất quan trọng trong vùng. Trong Một tháng ở Nam Kỳ đăng trên tạp chí Nam Phong, Phạm Quỳnh có nhắc đến thú vui của khách trọ chờ tàu, chờ xe ở ga Mỹ Tho “…Có những buổi đương trưa nồng nực, ngồi trên lầu cao trông xuống dưới bến, pha chén trà ngon mà đối diện đàm tâm. Có lúc đêm khuya gió mát, bắc cái ghế cao dài ngoài sân gác mà cùng nhau hùng biện cao đàm về văn chương cùng triết lý. Lại buổi chiều kia trời u ám, gió chiều như giục cơn sầu, cùng nhau thơ thẩn trên vườn hoa ngay trên bến nước, đương tìm giải quyết một nổi tâm sự gian nan, chợt thấy chiếc thuyền thấp thoáng bên kia sông, ngọn đèn lấp ló trong bụi cây um tùm, sực nhớ đến câu: “ giang phong ngư hỏa đối sâu miên”...

Từ ngày 6.10.1936, thêm một ô tô chạy trên đường sắt (autorail) chạy mỗi ngày một chuyến từ Sài Gòn – Mỹ Tho và ngược lại, làm tăng thêm hành khách. Các tàu thuỷ đi từ Mỹ Tho đến các điểm khác ở Nam kỳ và sang Campuchia được ghi nhận vào năm 1936 như sau:

- Khởi hành lúc 7h30 từ Mỹ Tho đi Pnômpenh (qua Vĩnh Long và Châu Đốc) tàu của Cty Ưng Tín Lâm 2 lần mỗi tuần.

- Khởi hành lúc 18h từ Mỹ Tho đi Cà Mau tàu của Cty Vĩnh Hiệp mỗi ngày.

- Khởi hành lúc 7h30 từ Mỹ Tho đi Cần Thơ và Trà Vinh là 2 chiếc của Cty Vĩnh Hiệp mỗi ngày.

Phương tiện đường thuỷ/ xà - lúp hơi nước ở Mỹ Tho bắt đầu gặp khó khăn từ khoảng cuối năm 1939, do việc mở mang đường sá. Sự vận chuyển công cộng bằng xe hơi đã hấp dẫn một số đông hành khách, do vậy số hành khách trên các tàu cũng bắt đầu giảm đi. Đây cũng là thời điểm chiếc cầu quay nổi tiếng của Mỹ Tho chấm dứt vai trò của nó. Cầu Quay là công trình xây dựng năm 1895 tại chợ Mỹ Tho. Đó là cầu có nhịp tự động nối liền hai bờ gần vàm lớn Mỹ Tho – con rạch thông vào kinh quan trọng và Bảo Định. Cầu dài 70 m và nhịp quay được, để cho tàu thuyền đi qua. Nhưng vào cuối thập niên 1930, tàu thuyền ít đi tuyến nầy mà chuyển sang đi tuyến kinh Chợ Gạo về Sài Gòn gần hơn, đồng thời các loại thuyền buồm trên sông cũng không còn phổ biến nên không cần thiết phải “quay cầu” để thông thương trên dòng Bảo Định nữa. Vì vậy người Pháp quyết định phá bỏ, thay bằng cầu sắt bê tông vào năm 1940.

Có thể nói, nhờ là đầu mối giao thông thuỷ, bộ mà Mỹ Tho ở thành vị trí trung chuyển lý tưởng và từng tự hào với câu “trên Sài Gòn dưới Mỹ Tho”.


Đồn Mỹ Tho - Thành Trấn Định

 

Sau nhiều biến cố, năm Nhâm Tý (1792) Mỹ Tho lại trở thành trung tâm kinh tế thương mại sầm uất. Nhận thấy chợ Mỹ Tho đã trở thành một trung tâm kinh tế chính trị thật sự, chúa Nguyễn Phúc Ánh cho dời lỵ sở dinh Trấn Định từ giồng Kiến Định về Mỹ Tho thuộc thôn Mỹ Chánh nhưng nhận thấy nơi này chưa có thành trì che chở nên chúa Nguyễn Phúc Ánh hoàn thiện nó bằng việc cho xây thành Trấn Định "Thành là chỗ để ngăn quân bạo ngược, giữ yên cho dân, tất phải có vách cao, hào sâu, phòng sự bất ngờ, ấy là việc lớn tốt vậy". 

   Thành Trấn Định đắp tại địa phận làng Mỹ Chánh, tổng Kiến Hòa, huyện Kiến An. Thành này do ông Trần Văn Học vẽ theo kiểu thành Vauban của Tây Âu nhưng ứng dụng Dịch lý của phương Đông trong việc xây thành trì.

Hình dạng tòa thành.


Theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức: Đồn Mỹ Tho (thành Trấn Định) được đắp bằng đất có "dạng hình vuông, chu vi 998 tầm, có mở hai cái cửa ở phía tả và phía hữu, nơi cửa có cầu treo bắc ngang hào, hào rộng 8 tầm, sâu 1 tầm, bốn mùa nước ngọt có nhiều tôm cá, dưới cầu có dòng nhỏ để thông với sông lớn Mỹ Tho, ngoài hào có đắp lũy đất, có cạnh góc lồi lõm như hình hoa mai, chân lũy mặt tiền ra 30 tầm thì đến sông lớn. Trong đồn có kho gạo, kho thuốc súng, trại quân và súng lớn, tích trữ đầy đủ, nghiêm túc, mặt sông rộng lớn. Năm Giáp Dần 1794 trên đồn có đặt súng lớn,...". Theo sách Đại Nam Thực Lục (1): Tháng Giêng Nhâm Tý 1792, vua (chúa) sai đắp Thành Mỹ Tho. Thành được đắp bằng đất, góc thành có dạng như hoa mai, chu vi 499 trượng, phát quan quân các dinh đến ứng dịch, vua ngự đến xem.... Còn theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí, phần tỉnh Định Tường (2) ghi rằng: "Bảo cũ Mỹ Tho ở địa phận huyện Kiến Hòa, cách lỵ sở tỉnh Định Tường chừng một dặm về phía Đông. Chu vi chừng 4 dặm, mở hai cửa tả hữu. Hào rộng 4 trượng, ngoài cửa có bắc cầu treo. Ngoài cửa hào có dạy đắp bằng đất có góc như hình con hổ. Bảo được dựng từ năm Nhâm Tý (1792) đầu đời trung hưng, nay bỏ, dấu cũ vẫn còn."   

Theo như sử liệu của hai sách đã dẫn, và dựa vào cách quy đổi hệ thước đo của thời kỳ này ra hệ mét là 1 thước ta bằng 0,487(3) mét  thông qua số đo quy đổi ra hệ mét của tòa thành Bát Quái (thành Quy Gia Định) được in trong sách "Địa chí Văn hóa TP.HCM" nhân kỷ niệm "Sài Gòn 300 năm" do nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu chấp bút, ta có thể tính ra một cách tương đối số đo của thành Trấn Định này vì thành Trấn Định là ngôi thành thứ nhì (sau thành Bát Quái Gia Định) được xây thời chúa Nguyễn Phúc Ánh.

Chu vi : 998 tầm (4) X (5 thước x 0,487m) = 2.430,13 m

Tính ra mỗi cạnh khoảng 607,53 mét

Với cách quy ra mét này, ta nhận thấy số liệu của sách Gia Định thành thông chí có số đo thành vuông Trấn Định nhỏ hơn thành Quy ở Gia Định (chu vi thành Quy: 2555,78 m, mỗi cạnh khoảng 638,94 m = 131 trượng 2 thước). Khi ấy Gia Định là kinh đô ở trong Nam, mà Mỹ Tho thì chịu sự cai quản của Gia Định nên phải xây nhỏ hơn thành ở kinh đô khoảng 30 mét mỗi cạnh. 

Vậy thì số đo của sách Đại Nam Thực Lục nói điều gì:

Chu vi thành: 499 trượng X (10 thước ta  X 0,487m) = 2430,13 m

Tính ra mỗi cạnh khoảng 607,53 mét.

Vậy thì dù cho cả hai sách dùng hai đơn vị đo là tầm... hay "trượng" đều đúng với so đo quy ra mét của thời nay với mỗi trượng = 4,87 mét hay mỗi tầm = 2,435 mét.

Điều này hợp lý, tính theo số liệu của Đại Nam Thực Lục, ta thấy thành Trấn Định chỉ nhỏ hơn tòa thành Quy (thành Bát Quái) ở Gia Định khoảng 30 mét mỗi cạnh. (cạnh thành Quy dài: 638,94 m, và cạnh thành Trấn Định dài 607,53 m). Vả lại, cụ Trần Văn Học mới vẽ đồ bản để xây thành Bát Quái có hai năm trước đấy thôi (1790), hai năm sau cụ sử dụng lại số liệu bản vẽ cũ của chính mình, chỉ chỉnh sửa cho nhỏ hơn chút ít và đắp tường thành thẳng chứ không lồi ra lõm vào như thành Bát Quái, chỉ cần cho chu vi của thành Trấn Định nhỏ hơn thành Bát Quái ở kinh đô là được.

Thành Trấn Định có dạng hình vuông, có mở hai cái cửa ở phía trái và phải, nơi cửa có cầu treo bắc ngang hào, hào rộng 8 tầm (19,48 m), sâu 1 tầm (2,435 m). Bốn mùa nước ngọt có nhiều tôm cá, dưới cầu có dòng nhỏ để thông với sông lớn Mỹ Tho. Ngoài hào có đắp lũy đất, có cạnh góc lồi lõm như hình hoa mai, chân lũy mặt tiền ra 30 tầm (73,05 m) thì đến sông lớn. 

Còn số đo của sách Đại Nam Nhất Thống Chí ghi: chu vi thành khoảng 4 dặm, Hào rộng 4 trượng (x 4,87 m) = 19,48 mét.

Như vậy về quy mô, thành Trấn Định xây vừa nhỏ hơn vừa đơn giản hơn so với thành Bát Quái ở Gia Định Kinh. Chỉ có 2 cửa Tả và Hữu so với 8 cửa của thành Bát Quái. Có cầu treo bắc ngang hào nước.

Từ khi vua Minh Mạng lên ngôi, năm 1826 vua cho dời lỵ sở Trấn Định từ làng Mỹ Chánh qua làng Điều Hòa và Bình Tạo bằng cách cho đắp một thành mới có chu vi nhỏ hơn. Từ đó, thành Trấn Định trở nên hoang phế.Hào thành Trấn Định chỉ rộng 19,48 m (8 tầm) hoặc (4 trượng) so với 75,49m (15 trượng 5 thước) của thành Bát Quái và Hào chỉ sâu 2,44 m (1 tầm) so với 6,82 m (15 thước) của thành Bát Quái. Vị trí của thành vuông Trấn Định này nằm lọt vào trong khu vực ngày nay là đường Nguyễn Huỳnh Đức (Quan lộ xưa). Học Lạc, Lộ Ma và vắt qua Đinh Bộ Lĩnh ra đến gần bờ sông Tiền. Qua chuyến đi tìm hiểu thực tế tại phường 8, Miễu Bà Cố tại hẻm khu phố 3, đường Học Lạc xưa là bên ngoài hào thành thuộc góc thành Tây Bắc. Còn góc thành Đông Nam là ngã ba Sở Rác giáp với Nguyễn Văn Nguyễn (Tạ Thu Thâu cũ) và Đinh Bộ Lĩnh (5). Còn một phần Trường Tiểu học Đinh Bộ Lĩnh (Trường Mỹ Phúc cũ) thì nằm trên một phần hào thành phía Đông Nam xưa. Khu vực này bị bỏ hoang và còn tồn tại đến đầu những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước với cỏ dại, cây cối um tùm và nhiều rắn rết, chỉ bị san ủi phát quang khi chính quyền cũ cho nối dài lộ Học Lạc và xây Cư Xá Kiến Thiết từ năm 1964 - 1965. Nhưng cả hai sách đều không ghi tường thành cao bao nhiêu hay dầy bao nhiêu.

Chàng vốn dòng ăn học, hào hoa, sống chốn thị thành Sài Gòn Gia Định, với dòng máu phiêu bạt giang hồ:


Chim buồn tình, chim bay về núi

Cá buồn tình, cá lủi xuống sông

Anh buồn tình, anh dạo chốn non bồng

Dạo miền sơn nước, xuống chốn ruộng đồng mới gặp em.



Đó là típ người được các cô gái Miệt Vườn Lục Tỉnh ngưởng mộ và thầm mong được kết duyên:

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu

Anh về học lấy chữ nhu (chữ nhu = chữ nho)

Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

Đất Sài Gòn nam thanh, nữ tú
Cột cờ Thủ Ngữ cao rất là cao
Vì thương anh, em vàng võ má đào
Em đã tìm khắp chốn, nhưng nào thấy anh?

Chàng thuộc loại đa tình, đầu môi chót lưởi:

Sông Cửu Long chín cửa, hai dòng,
Người thương anh vô số, nhưng chỉ một lòng với em
.

Và chàng tán tỉnh nàng:

Nội trong lục tỉnh Nam Kỳ (1)
Thấy em ăn nói nhu mì anh thương
Có mặt tui mình nói mình thương
Tui về chốn cũ mình vấn vương nơi nào?

Hay:

Đồng Nai, Châu Đốc, Định Tường
Lòng anh sở mộ con gái vườn mà thôi

Nước chảy liu riu
Lục bình trôi líu ríu
Anh thấy em nhỏ xíu anh thương!

Tàu Nam Vang chạy ngang cồn cát,
Xuồng câu tôm đậu sát mé nga,
Thấy em cha yếu mẹ già
Muốn vô phụng dưỡng biết là đặng không?



Rồi chàng thề thốt:

Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn

Núi lở non mòn, ngỡi bạn không quên



Dầu nói vậy, đã từ lâu chàng chưa về thăm người tình:

Cần Thơ là tỉnh

Cao Lảnh là quê

Anh đi lục tỉnh bốn bề,
Mải lo buôn bán không về thăm em

Vì vậy chàng chỉ hỏi thăm nàng qua thư từ:

Cách một khúc sông kêu rằng cách thủy
Sàigon xa, chợ Mỹ không xa
Gởi thơ thăm hết mọi nhà
Trước thăm phụ mẫu sau là thăm em



Và nhắn nhủ với nàng:

Cúc mọc bờ sông kêu là cúc thủy,
Chợ Sài Gòn xa, chợ Mỹ cũng xa.
Chồng gần không lấy, em lấy chồng xa.
Mai sau cha yếu mẹ già
Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ trà ai dâng



Tuy vậy, chàng hứa hẹn đẩy đưa, sẽ có một ngày về Lục Tỉnh thăm nàng:

Chẻ tre bện sáo cho dày
Ngăn ngang sông Mỹ, có ngày gặp em



Còn nàng thì ngày ngày ra bến sông, ngóng đợi người tình:

Ghe ai đỏ mủi xanh lường

Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em?



Trước những lời thôi thúc của nàng, cuối cùng chàng quyết định về Lục Tỉnh thăm nàng. Ngày xưa, đường bộ đi Lục Tỉnh rất khó khăn, không có cầu bắt qua sông rạch, lại lắm truông nguy hiểm:

Ai về Giồng Dứa qua truông (Giồng Dứa thuộc Tiền Giang)

Gió đưa bông sậy, dạ buồn nhớ ai



Kễ từ tháng 5 năm 1886, có thể đi Lục Tỉnh bằng xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho tại nhà ga xe lửa ở trước chợ Bến Thành:

Mười giờ xe lửa nhỏ bỏ chợ Bến Thành,
Xúp lê kia dạo thổi, bộ hành xôn xao.



Tuy nhiên, phương tiện thông thường và lý thú nhất vẫn là ghe thuyền trên hệ thống sông rạch Đồng Nai nối liền với Sông Tiền, sông Hậu. Chàng bắt đầu khởi hành bằng ghe ở Sông Sài Gòn:

Sông Sài Gòn chạy dài Chợ Củ

Nước mênh mông nước lũ phù sa



Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định Đồng Nai thì về



Thất Sơn ai đắp mà cao
Sông Tiền, sông Hậu ai đào mà sâu

Suốt cuộc hành trinh, đâu đâu cũng:

Sông Tiền sông Hậu cùng nguồn
Thuyền bè tấp nập bán buôn dập dìu.



Không có gì lý thú bằng đi ghe thuyền trên sóng nước:

Gió lên rồi căng buồm cho sướng

Gác chèo lên ta nướng khô khoai

Nhậu cho tiêu hết mấy chai

Bỏ ghe nghiêng ngửa không ai chống chèo.



và:

Đường rừng có bốn cái vui

Lúc chống, lúc lạo, lúc bơi, lúc chèo



Ngoài ra, trên dòng sông thơ mộng, chàng còn có thể tán tỉnh bao cô gái miệt vườn:

Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi

Kẻo khúc sông này bờ bụi tối tăm.



Cô gái miệt vườn cũng đẩy đưa:

Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo
Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em



Cơ hội tán tỉnh đã đến:

Gíó thổi lao xao khúc sông nào sóng nấy

Thuyền em đi giữa dòng anh thấy anh thương



Khúc sông chật hẹp khôn tuỳ

Lo cho thân bậu sá gì thân qua

Gặp nhiều cô gái miệt vườn xinh đẹp, chàng thoáng có ý nghĩ:

Sông Tiền cá lội huyên thiên

Lòng anh muốn bắt con cá lội riêng một mình



Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn

Dựa lưng em như uống chén rượu ngon

Thà rằng chẳng biết cho đừng

Biết ra dan díu nửa chừng lại thôi

Con sông bên lở bên bồi

Một con cá lội mấy người buông câu



Và chàng thả hồn mơ mộng đến cô gái Tiền Giang:

Gió lao xao thổi vào mái lá

Như ru tình cô gái Tiền Giang



Thời gian thơ mộng lửng lờ trôi như dòng nước chảy, ghe chàng đến vùng Bến Lức:

Thủ Thiêm, Thủ Đức, Bến Lức, Thủ Đoàn (1),

Anh phải lòng nàng tại Thủ Chiến Sai (2)

Nơi Bến Lức có sông Vàm Cỏ nước xanh trong vắt, chàng chạnh lòng:

Sông Vàm Cỏ nước trong thấy đáy

Dòng Cửu Long xuôi chảy dịu dàng

Ai về Mỹ Thuận Tiền Giang

Có thương nhớ gã đánh đàn năm xưa.



Mặc dầu đầy thơ mộng, sông Vàm Cỏ rất nguy hiểm cho ghe thuyền ở đoạn Vàm Bao Ngược

Thứ nhất Vàm Nao, thứ nhì Bao Ngược. (3)



Một là sang ngang Bao Ngược,

Hai là vượt sông Vàm Tuần (4)

Anh đi ghe lúa Gò Công,

Trở về Bao Ngược bị dông đứt buồm.

Đứt buồm nước chảy có cuồn,

Anh đi qua đó dựng buồm chạy luôn.

Sông Tra (5) thả ra Bao Ngược, sợ gặp sóng thần

Vịnh Xã Kiểng đến Vàm Tuần, sợ thần Hà Bá.

  

Bến Lức, Long An là quê hương của các giống lúa có gạo thơm ngon:

Đi đâu cũng nhớ quê mình

Nhớ cầu Bến Lức, nhớ chình gạo thơm

Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai

Ai về xin nhớ cho ai theo cùng

Cám ơn hạt lúa nàng co

Nợ nần trả hết, lại no tấm lòng



Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi

Gạo thơm Nàng Quốc em nuôi mẹ già



Bây giờ ghe chàng đã gần tới Mỹ Tho:

Rạch Gầm Xoài Mút tăm tăm

Xê xuống chút nữa tới vàm Mỹ tho…


“Mỹ Tho Đại Phố” là thành phố cổ nhất của miền Lục Tỉnh, được thành lập năm 1623 do Dương Ngạn Địch, một tướng Tàu tị nạn chạy trốn Mản Thanh và được chúa Nguyễn cho định cư ở Peam Mesar thuộc Thủy Chân Lạp. Mysar phát âm theo người Miên là M’Tho, và người Việt nói trại thành Mỹ Tho. Mỹ Tho tuy không lớn đẹp bằng Sài Gòn “Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ, Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu”, nhưng cũng không thua kém lắm:

Đèn nào cao bằng đèn Chợ Mỹ
Lộ nào kỹ bằng lộ Cần Thơ
Anh thương em lững đững lờ đờ
Tỷ như Tôn Các ngồi chờ Bạch Viên.



Đúng vậy, chàng đã bị thôi miên bởi cô gái Mỹ Tho vừa đẹp vừa gan dạ:

Gái Mỹ Tho mày tằm mắt phượng
Giặc đến nhà chẳng vụng quơ đao



Cô gái Mỹ Tho cũng lắm đa tình:

Khi nào anh thấy nhớ ai

Xin về chợ Mỹ, đường dài dễ đi

Vườn xoài vườn ổi xum xê

Mặc tình anh "hái” anh đòi… em cho



Mỹ Tho còn nổi tiếng với cam sành, vú sửa và nấm rơm:

Vú sữa Sầm Giang căng dáng mộng

Nấm rơm Long Định ủ ngàn sương



Cam sành vú sửa Trung Lương,

Dừa xanh, dừa nước, quít đường Ba Tri


Đến Mỹ Tho mà không đến Gò Công là một điều thiếu sót. Gò Công chỉ cách Mỹ Tho 30 km, có bờ biển đẹp, là quê hương của hoàng thái hậu Từ Dủ (vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức) và Nam Phương hoàng hậu (vợ vua Bảo Đại), cũng là quê hương của Võ Tánh và Trương Công Định:

Gò Công rạch Lá nhớ nhung

Quê xưa Võ Tánh, Trương công oai hùng

Lạc loài cách bến xa sông

Gió thu hiu hắt chạnh lòng cố hương.



Đến Gò Công, ai chẳng bùi ngùi nhớ lại trận bảo năm Thìn (ngày 16/3/1904), gây tổn thất nhiều cho Lục Tỉnh, từ vùng biển cho tới Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc. Riêng tại Gò Công hơn 5000 người chết:

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc
Gió nào độc bằng gió Gò Công
Thổi ngọn đông phong lạc vợ xa chồng,
Đêm nằm nghĩ lại nước mắt hồng tuôn rơi.

Gió nào độc bằng gió Gò Công
Sông nào nông bằng sông Châu Đốc



Gò Công đẹp lắm, ai chẳng si tình:

Ước chi anh như đám dừa xanh cuối sông Vàm cỏ

Như rặng trâm bầu đón gió cửa Cửu Long

Để được sống bên em giữa muôn trùng sóng vỗ

Ơi người anh yêu, người con gái Gò Công



Gò Công là vùng biển giàu tôm cá, nên có nhiều món hải sản đặc thù, đặc biệt món “Mắm Tôm Chà Gò Công”:

Gò Công giáp biển, nổi tiếng mắm tôm chà
Mắm tôm chua ai ai cũng chắt lưỡi hít hà
Saigon, chợ Mỹ ai mà không hay



Chợ Gò Công có bán đủ thứ:

Chợ nào vui bằng chợ Gò (Công)
Tôm khô, cá trung, thịt bò, thịt heo
Thật nhiều bánh ướt, bánh xèo
Bánh khô bánh nổ bánh bèo liên lu.



Gò Công cảnh đẹp người xinh, thế mà có kẻ nói xấu Gò Công:

Có bún nào ngon hơn bún Chợ Gạo
Có đứa nào xạo bằng thằng Út Gò Công



Bỏ xứ Gò Công thẳng xông chợ Mỹ
Đến chốn Sài Gòn làm đĩ nuôi thân

Lòng chàng phân vân, xao xuyến, ngao ngán tình đời. Chàng tiếc nuối một mối tình dang dở ở vùng đất biển:

Phượng hoàng đậu nhánh vông nem
Phải dè năm ngoái cưới em cho rồi
Ngã tư Chợ Gạo nước hồi
Tui chồng mình vợ còn chờ đợi ai



Chàng từ giả Gò Công, Mỹ Tho, và tiếp tục cuộc hành trình về miền Lục Tỉnh.




Cước chú:

(1) Nam Kỳ Lục Tỉnh: Năm 1834, Nam Kỳ được vua Minh Mạng chia làm 6 tỉnh, gồm: Gia Định hay Phiên An (lỵ sở là Sài Gòn), Biên Hòa (lỵ sở Thành Biên Hòa), Định Tường (lỵ sở thành Mỹ Tho, từ Đồng Tháp đến Gò Công), Vĩnh Long (lỵ sở thành Vĩnh Long, gồm Vĩnh Long, Sa Đéc, Bến Tre, Trà Vinh), An Giang (lỵ sở là thành Châu Đốc, gồm Châu Đốc, An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng) và Hà Tiên (lỵ sở là thành Hà Tiên, gồm Rạch Giá, Bạc Liêu, Cà Mau) (xem bản đồ).



(2): Giồng Dứa thuộc Tiền Giang

(3): Đồn canh ngày xưa trên sông Tiền

(4): Một nhánh sông ở Lý Nhơn, Cần Giờ, nối Vàm Cỏ với Sài Gòn

(5): Một nhánh sông nối Gò Công với Vàm Cỏ