Báo Xuân‎ > ‎

Tình Nghĩa Vợ Chồng Qua Câu Hát Tiếng Hò

Dân gian ta ngày xưa quan niệm rằng hễ đã có tình thì tất nhiên phải có nghĩa. Và trong quan hệ vợ chồng, hai chữ "tình", "nghĩa" được ghép liền với nhau, như trong các thành ngữ: "tình nghĩa vợ chồng", hay "tình chồng nghĩa vợ" chẳng hạn.

 Nói về tình, dân ta vốn là giống đa tình và lãng mạn không ít. Chẳng yêu thì thôi, mà đã yêu thì thật là say mê đắm đuối:

 Đã nhuộm thì nhuộm cho đen,

Đã khêu, khêu tỏ ngọn đèn mới thôi !

Ân trầu thì phải đỏ môi,

Thương nhau thì phải thắm đôi nghĩa tình.

 Yêu say đắm đến mức có bị giết chết cũng đành, chớ nhất định không chịu xa lìa nhau:

 Gươm vàng để đó anh ơi,

Chết thì chịu chết, lìa đôi không lìa.

 Và đến nổi con gái có thể bỏ cả cha mẹ để ra đi theo chồng:

 Cha mẹ bú mớm nâng niu,

Tội trời đành chịu, không yêu bằng chồng.

Ai kêu ai hú bên sông,

Mẹ gọi con dạ, có chồng phải theo.

 Cái tình ấy có khi lãng mạn đến quên cả thực tế sinh hoạt, lấy nhau cũng bất chấp giàu nghèo, sướng cực

Bạn ra về lòng ta khô, dạ ta héo,

Bạn ra về không lẽ ta réo, ta kêu.

Nghiêng tai giữa gió, ta bảo nhỏ đôi điều,

Ai xa mặc họ, hai đứa mình nghèo đừng xa.

 Cái mộng "một túp lều tranh, một trái tim" không phải riêng gì cho các thanh niên lãng mạn thời tiền chiến, mà từ ngày xưa trai gái nông thôn cũng đã từng mơ ước như vậy:

 Đêm hè gió mát, trăng thanh,

Em ngồi chẻ lạt cho anh chắp thừng.

Lạt chẳng mỏng sao thừng được tốt,

Duyên đôi ta đã trót cùng nhau.

Trăm năm thề những bạc đầu,

Chớ ham phú quí đi cầu trăng hoa.

 Còn chữ "nghĩa" trong thành ngữ "tình nghĩa vợ chồng", bao gồm "lòng chung thủy" và "nghĩa vụ giữa vợ chồng". Lòng chung thủy là tấm lòng yêu thương giữa vợ chồng trước sau như một:

 Non non, nước nước khơi chừng,

Ái ân đôi chữ xin đừng có quên.

Tình sâu mong trả nghĩa đền,

Đừng vui chốn khác mà quên chốn nầy.

 Và ngay lúc đang sống trong hiện tại, nhưng vẫn không hề quên những giờ phút vui, buồn, sướng, khổ mà vợ chồng đã từng chia xẻ với nhau:

 Rủ nhau xuống bể mò cua,

Đem về nấu với mơ chua trên rừng.

Em ơi chua ngọt đã từng,

Non xanh nước biếc ta đừng quên nhau."

 Thật vậy, trong cái ta gọi là "nghĩa" ấy, đã từng chứa đựng biết bao kỷ niệm của cả một cuộc đời của đôi bên, mà đối với những con người còn mang ít nhiều tâm tình, bản sắc của giống nòi Việt Nam, không mấy ai có thể gạt bỏ ra khỏi tâm tư, ký ức của mình được.

 Phần đông người phương Tây khó mà quan niệm được chữ "nghĩa" của chúng ta. Đối với họ, hễ không thương yêu nhau nữa thì thường dứt bỏ ra đi, để làm lại cuộc đời. Họ chú trọng đến hạnh phúc cá nhân của bản thân nhiều hơn. Nhưng dân ta ngày xưa, trái lại, một khi yêu nhau thường chỉ nghĩ đến hạnh phúc của người mình yêu, và của con cái mình mà thôi. Nên vợ chồng ăn ở với nhau, phải có cả "tình" lẫn "nghĩa". Khi "tình" vì một lẽ gì mà phai nhạt, thì cũng vẫn còn cái "nghĩa" để giữ cho hai bên tiếp tục gắn bó với nhau.

 Gắn bó nhau như thế, có thể là đã chịu ảnh hưởng của Nho giáo, mà cũng có thể vì tin vào thuyết nghiệp quả của Phật giáo mà cam lòng với duyên phận của mình, hay vào đạo đức, vào luật phép của Trời, vào sự lý khôn ngoan đương nhiên của dân tộc ta, mà suốt đời vợ chồng chung thủy với nhau, không nghĩ đến sự thay đổi, phân ly:

 Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm,

Rượu hồng đào chưa nhấm đã say.

Nợ nhà giàu trả hết lại vay,

Chớ nợ duyên chồng vợ, trả mấy ngàn ngàycho xong!

 Vì thế mà:

 Trăm năm trăm tuổi, may rủi một chồng,

Dầu ai thêu phượng, vẽ rồng mặc ai.

... Nghe lời bạn nói đậm đà,

Chồng em không phải, rứa mà em thương.

... Chồng ta áo rách ta thương,

Chồng người áo gấm xông hương, mặc người.

 Cho nên đàn bà ta ngày xưa thường nghĩ rằng:

 Rau răm ngắt ngọn khó trồng,

Cho say mê đi nữa, cũng là chồng người ta.

…Đã thành gia thất thì thôi,

Đèo bòng chi lắm, tội Trời ai mang.

 Chính cái "nghĩa" (hay " nghĩa vụ giữa vợ chồng") là sự thể hiện cụ thể của cái tình, thể hiện qua các quan hệ đối xử hằng ngày giữa vợ chồng với nhau cho đúng với đạo lý tự nhiên của dân tộc, thể hiện cao độ trong lòng hy sinh không bờ bến, thể hiện trong cái mà dân gian gọi là "đắc nghĩa" cùng chồng:

 Lạy cha ba lạy, một quì,

Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng.

Mẹ sắm cho con cái yếm nhất phẩm hồng,

Lời mẹ ghi khắc trong lòng nhớ không?

Ở sao đắc nghĩa cùng chồng,

Sao cho họ mạc cũng không chê cười...

 Nhưng thực hiện cho được cái mà dân gian thường gọi là "đắc nghĩa" cùng chồng ấy, tưởng không phải là dễ. Từ thời xa xưa, khi xã hội ta còn ở chế độ mẫu hệ, người đàn bà không những là "nội tướng" của gia đình, mà đã từng là những "tướng lãnh" đầu tiên trong lịch sử nước ta, đứng lên điều khiển các cuộc kháng chiến chống xâm lăng, như các Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị và Bà Triệu nữ vương...

 Thời xa xưa ấy, bao nhiêu trách nhiệm trong gia đình đều qui về người mẹ, và mãi đến ngày nay, dân gian vẫn còn quen miệng bảo "Con dại cái mang" (chớ không nói: "Con dại bố mang"), và cũng quen miệng nói "tình nghĩa vợ chồng" (chớ ít khi nói "tình nghĩa chồng vợ").

 Ngày nay, xã hội ta bước sang chế độ phụ hệ, người đàn bà tuy bị mất nhiều quyền lực, song vẫn phải tiếp tục đảm nhận nghĩa vụ quan trọng "gánh vác giang sơn nhà chồng " của mình:

 Anh về hái đậu chảy cà,

Để em đi chợ kẻo mà lỡ phiên.

Chợ lỡ phiên tốn công thiệt của,

Miệng tiếng người cười rủa sao nên.

Lấy chồng phải gánh giang sơn,

Chợ phiên còn lỡ, giang sơn còn gì ?"

 Và luôn luôn tận tình chăm lo cho chồng khi đau, khi ốm:

 Tại em nghe anh đau đầu chưa khá,

Em băng đồng chỉ sá (a) bẻ ngọn lá nọ sang xông.

Có làm ri mới trọn đạo vợ chồng,

Đổ mồ hôi ra em quạt, ngọn gió lồng em che.

 Chú giải - (a) Có tác giả cho rằng hai chữ nầy là một địa danh: " Chỉ Xá", tên một làng thuộc quận Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên.

Nhất là lam lũ làm ăn, cho chồng có thì giờ học hành, thi cử để nên sự nghiệp, công danh:

 Canh một dọn cửa dọn nhà,

Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm.

Canh tư bước sang canh năm,

Khuyên chàng dạy học, chớ nằm làm chi.

Nữa mai Chúa mở khoa thi,

Bảng vàng choi chói kia đề tên anh.

Bõ công cha mẹ sắm sanh,

Sắm nghiên, sắm bút, cho anh học hành.

 Cũng vì yêu chồng, người vợ đã hy sinh, chịu mọi thiệt thòi, gian khổ cho chồng được đầy đủ, yên vui:

 Vì chồng thiếp phải bắt cua,

Những như thân thiếp, thiếp mua ba đồng.

Vì chồng nên phải mua mâm,

Những như thân thiếp, bốc ngầm cũng xong.

Vì chồng thiếp phải long đong,

Những như thân thiếp, cũng xong một bề.

Vì chồng thiếp phải gắng công,

Nào ai xương sắt da đồng chi đây!

 Vì yêu chồng mà phải nhịn mẹ chồng cho "êm cửa ấm nhà":

 Mẹ già khó lắm, em ơi!

Nhịn ăn, nhịn nói, nhịn lời mẹ cha.

Nhịn cho nên cửa, nên nhà,

Nên kèo, nên cột, nên xà tầm vông.

Nhịn cho nên vợ, nên chồng,

Nhịn cho êm ấm ở trong cửa nhà.

 Rồi vì yêu chồng mà tha thứ, chịu đựng tất cả:

 Yêu nhau vạn sự chẳng nề,

Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng.

...Đốn cây ai nỡ dứt chồi,

Đạo chồng, nghĩa vợ, giận rồi lại thương.

 Cuối cùng vì yêu chồng mà nhiều bà vợ đã tự nguyện hy sinh, để cho chồng an tâm ra đi tranh đấu với đời:

 Anh đi, em ở lại nhà,

Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ.

Lầm than bao quản muối dưa,

Anh đi! Anh liệu chen đua với đời.

 Trong lịch sử của dân tộc ta, "người vợ hiền" đã hy sinh, giúp đỡ, khuyến khích chồng làm nên sự nghiệp vẻ vang như thế không phải là ít. Nhà cách mệnh Phan Bội Châu trước khi qua đời, đã có mấy lời về Cụ bà, trối lại với con, có đoạn như sau:

 "Bây giờ ta lúc sắp sửa chết, mà chưa chết, đem lịch sử mẹ mầy nói với mầy:

"Mầy nên biết, nếu không có mẹ mầy thì chí của cha mầy đã hư hỏng những bao giờ kia!...

 "Từ năm ta ba mươi sáu tuổi, cho tới ngày xuất dương, những công việc kinh dinh việc nước, mẹ mầy ngầm biết hết thảy, nhưng chưa từng hé răng một lời. Duy có một ngày kia, ta tình cờ ngồi một mình, mẹ mầy đứng dựa cột kề một bên ta mà nói:

 -Thầy toan bắt cọp đó mà? Cọp chưa thấy bắt, người ta đều biết nhiều, sao thế ?

"Mẹ mầy tuy có câu nói ấy mà lúc đó ta làm ngơ, ta thiệt dở quá. Bây giờ nhắc lại, trước khi ta xuất dương, khoảng hơn mười năm, nghèo đói mà bạn bè nhiều, khốn cùng mà chí vững, thiệt một phần nửa là nhờ ơn mẹ mầy.

"Tới ngày ta bị bắt về nước, mẹ mầy được gặp ta một lần ở thành tỉnh Nghệ, hơn nửa tiếng đồng hồ, chỉ có một câu với ta:

-Vợ chồng ly biệt nhau hơn hai mươi năm, nay được một lần gặp mặt thầy, trong lòng tôi đã mãn túc rồi. Từ đây về sau, chỉ trông mong cho thầy giữ được lòng xưa, thầy làm những gì mặc thầy, thầy chớ nghĩ tới vợ con.

"Hỡi ơi ! Câu nói ấy bây giờ còn phảng phất ở bên tai ta, mà ta chầy chà năm tháng, chẳng việc gì làm, chốc đã chẳn mười năm. Phỏng khiến mẹ mầy chết trước ta thì trách nhiệm của ta e còn nặng mãi mãi.

"Suối vàng quan cách, biết lối nào thăm; đầu bạc trăm năm còn lời thề cũ. Mẹ mầy thiệt chẳng phụ ta, ta phụ mẹ mầy!

"Công nhĩ vong tư", chắc mẹ mầy cũng lượng thứ cho ta chứ !

 Xét cho kỹ, cái "nghĩa " trong "tình nghĩa vợ chồng" đó chưa hẳn đã do Nho giáo ngoại lai đem đến, mà vốn là một bản tính tự hữu trong tâm hồn các bà vợ Việt Nam từ ngàn xưa. Có thể về sau, các nho sĩ đã đem những hành động hy sinh cao đẹp đã có sẵn của phụ nữ Việt Nam, lồng vào các lễ giáo của đạo Nho Trung quốc. Để rồi các ông chồng Việt lợi dụng vin vào đấy, mà áp bức, bắt buộc vợ mình phải tuân theo một cách rất là phi lý, bất công.

 Một bất công lớn nhất ở chế độ phụ quyền là tục đa thê: "Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng". Nhưng ở thời Nho giáo phong kiến, nếu có người đàn bà nào lên tiếng trực tiếp chỉ trích, chống đối, thì không thể nào khỏi bị ghép vào tội "dâm loạn".

 Cho nên họ chỉ có thể mượn những lời nửa đùa nửa thật để tự chế diễu: đem cái tội mà người ta gán cho mình, thậm xưng lên, phóng đại ra một cách quá đáng, để chọc cười, theo lối nói lẫy, cho đã nư, đã tức. Đồng thời cũng để gián tiếp châm biếm, chống đối cái lạm quyền phi lý, cái quan niệm hẹp hòi, lố lăng về hai chữ "tiết trinh" của bọn đàn ông:

 Chữ trinh đáng giá nghìn vàng,

Từ anh chồng cũ đến chàng là năm.

Còn như yêu vụng dấu thầm,

Họp chợ trên bụng đến trăm con người.

 Và cũng để tự chế diễu cái tính lẳng lơ hoa nguyệt mà khi người chồng hay ghen bóng, ghen gió đem vu khống cho mình:

 Chồng ăn chả, (thì) vợ ăn nem,

Đứa ở có thèm mua thịt mà ăn.

...Hai tay cầm hai quả hồng,

Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai.

Đêm nằm vuốt bụng thở dài,

Thương chồng thì ít, nhớ trai thì nhiều.

...Anh đánh thì tôi chịu đòn,

Tánh tôi hoa nguyệt mười con chưa chừa.

Anh đánh thì tôi xin thưa,

Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa được đâu !

Ăn quen chừa chẳng được lâu,

Lệ làng, làng bắt mất trâu, mặc làng.

...Có chồng còn dễ chơi ngang,

Đẻ ra con thiếp con chàng, con ai ?

 Thứ đến, dân gian còn dùng cách tự chế diễu để tố cáo, chống đối tục lệ bất nhân của thời xưa buộc người đàn bà chồng chết phải thủ tiết, không được làm lại cuộc đời của mình theo ý muốn:

 Hỡi thằng cu lớn, cu bé, cu tí, cu tị, cu tỉ, cu tì,

Con dậy, con ăn, con ngủ, con bú với bà,

Để mẹ đi xuất giá kiếm thêm một và đứa em.

Kể từ ngày bố con gục đi, bố con thác đi, bố con chết đi,

lòng mẹ đây nó vẫn còn thèm,

Mẹ xem quẻ bói nói, nó vẫn còn có đàn em ở trong bụng nầy.

Con ra, con gọi chú con vào đây.

Để mẹ trao trả cái cơ nghiệp nầy, mẹ mới bước đi.

Mẹ nào có dám tiếc gì!

 Và cuối cùng, người đàn bà góa khốn khổ kia thốt lên một lời kêu van não nuột:

 Ngày sau con tế ba bò,

Sao bằng lúc sống con cho lấy chồng.

 Phải chăng dân gian tự chế diễu cho hả hơi, hả giận! Vì " đối với những hỗn xược, xã hội trả lời bằng tiếng cười, là một hỗn xược còn mạnh hơn nữa... Cái cười trước hết là một phương tiện để trừng phạt. Cười lên cốt để sỉ nhục. " (1)

 Ngoài ra, qua những trào lộng trên đây, ta thấy được nỗi khốn khổ của người đàn bà dưới chế độ phong kiến phụ quyền. Trong tiếng cười có pha lẫn tiếng khóc, trong cái hài có cái bi! Đó cũng là một giá trị nghệ thuật đáng kể của các văn phẩm cổ kim, vì một sáng tác văn nghệ xứng với danh vị ấy, trước tiên phải phản ảnh cho trung thực cuộc sống con người giữa xã hội cũng như thân phận con người trước định mệnh. Mà ở thế gian nầy, không có trạng huống nào hoàn toàn vui hay hoàn toàn buồn. Đời người bao giờ cũng đầy dẫy những nỗi vui buồn lẫn lộn.

 Nhưng các nhà phân tâm lý học cho rằng trào lộng, chế diễu ở đây còn là một phương tiện để nữ giới bộc lộ những niềm u ẩn, uất ức, những khát vọng thầm kín bị dồn ép trong tâm tư của họ.

Không rõ có phải quả như thế không? Nhưng chắc chắn là trào lộng đã phần nào có công dụng chế ngự kẻ làm chồng không được lợi dụng chữ "nghĩa" để trắng trợn hiếp đáp vợ con. Trào lộng cũng gián tiếp củng cố "tình nghĩa vợ chồng" ở thời xa xưa.

 Tóm lại, chính diện hay phản diện, tình và nghĩa, từ nghìn xưa và trải qua bao nhiêu thế kỷ, đã khắng khít nhau, để điều hòa, và thăng hoa mối quan hệ giữa vợ chồng trong gia đình Việt Nam, trong một khí thế cao đẹp cho xã hội và cho dân tộc:

 Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn,

Núi lở non mòn, nghĩa bạn không quên.

Đường mòn đi xuống đi lên,

Tình qua, nghĩa bạn, quyết nên vợ chồng.