CAC VI TUONG VIET NAM

I.DAI TUONG VO NGUYEN GIAP:

 

 
 
 
 
1. Họ và tên: Võ Nguyên Giáp
 
2. Năm sinh: Ngày 25/8/1911.
 
3. Cấp bậc, chức vụ cao nhất: Đại tướng, Phó thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
 
4. Quê quán: Làng An Xá, xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình
 
5. Trú quán: Phố Hoàng Diệu, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
 
6. Thành phần: Nhà nho yêu nước.
 
7. Năm tham gia cách mạng: Năm 1925.
 
8. Năm nhập ngũ: Năm 1944.
 
9. Ngày vào Đảng - Chính thức: Năm 1940.
 
10. Năm phong quân hàm cấp tướng: Đại tướng năm 1948.
 
11. Quá trình tham gia cách mạng
 
 
Đồng chí tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1925 khi mới 14 tuổi. Năm 1929, đồng chí tham gia cải tổ Tân Việt Cách mạng Đảng thành Đảng Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Năm 1930, đồng chí bị thực dân Pháp bắt giam vì tham gia các cuộc biểu tình chống Pháp. Không có chứng co, cuối cùng, chúng buộc tha đồng chí. Đồng chí tiếp tục hoạt động cách mạng hoá trên mặt trận văn, bài viết cho những tờ báo công khai như: Tin tức, Nhân dân, Tiếng nói của chúng ta, Lao động, làm biên tập viên cho các tờ báo của Đảng, dạy sử, địa cho Trường tư thục Thăng Long.
 
Năm 1934, đồng chí kết duyên với Bà Nguyễn Thị Minh Thái, một Đảng viên Cộng sản, cộng sự đắc lực của đồng chí. Trong những năm tháng hoạt động bí mật, hai vợ chồng đồng chí sống ở số nhà 46 phố Nam Ngư, Hà Nội. Sau này, Bà Nguyễn Thị Minh Thái bị thực dân Pháp bắt, giết chết bà trong ngục nhà tù Hoả Lò. Từ năm 1936 1939 đến, đồng chí tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, biên tập viên các tờ báo của Đảng, Chủ tịch Uỷ ban báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội.
 
Năm 1939, đồng chí cùng đồng chí Phạm Văn Đồng sang Trung Quốc gặp Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Được sự dìu dắt của Người, năm 1940, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 5 năm 1941, đồng chí trở về Cao Bằng, tham gia gây cơ sở cách mạng, lập ra Mặt trận Việt Minh, tham gia chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng. Năm 1942, đồng chí phụ trách Ban Xung phong Nam tiến, dùng hoạt động tuyên truyền vũ trang mở đường liên lạc giữa miền núi với đồng bằng Bắc Bộ.
 
Tháng 12/1944, đồng chí được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Ngày 22/12/1944, tại một khu rừng ở châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã uỷ nhiệm cho đồng chí đứng ra tuyên bố thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Đồng chí được giao nhiệm vụ trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy.
 
Tháng 3 / 1945, đồng chí đưa Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tiến xuống phía Nam, hội quân với đội Cứu quốc quân của đồng chí Chu Văn Tấn ở vùng chợ Chu, Thái Nguyên để thống nhất tổ chức thành Việt Nam giải phóng quân.
 
Ngày 08 tháng tư năm 1945, đồng chí là Uỷ viên Uỷ ban Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ, làm Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang thống nhất mang tên Việt Nam Giải phóng quân, tham gia Uỷ ban Chỉ huy Lâm thời khu Giải phóng Việt Bắc.
 
Đồng chí được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II, cử vào Ban Chấp hành Trung ương và là Uỷ viên Thường vụ ban Chấp hành Trung ương, tham gia Uỷ Ban Khởi nghĩa toàn quốc, Uỷ ban Giải phóng Dân tộc Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ Lâm thời.
 
Tháng 1 / 1946, đồng chí được cử là Chủ tịch quân sự, Uỷ viên hội đồng trong Chính phủ Liên hiệp, Phó trưởng đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đàm phán với Pháp tại Hội nghị ở Đà Lạt. Năm 1946, đồng chí kết hôn với Bà Đặng Thị Bích Hà (Con gái cố Giáo sư Đặng Thai Mai).
 
Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 110/SL, phong đồng chí làm Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 27/10/1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương ra Nghị quyết: "Lập chế độ chính trị uỷ viên, đại diện chỉ huy kiêm Chính uỷ Tháng 6. / 1950, có Nghị quyết của Thường vụ Trung ương Đảng chấn chỉnh tổ chức thành Bộ Quốc phòng, đồng chí là Tổng tư lệnh, chính Tổng hợp uỷ, Bí thư Quân uỷ Trung ương Đồng chí. đảm nhiệm các cương vị trên từ năm 1945 đến năm 1975.
 
Về Đảng, đồng chí liên tục được bầu là Uỷ viên Trung ương Đảng các khoá II (năm 1951), đến khoá VI (Ngày 20/12 / 1986), làm Uỷ viên Bộ Chính trị các khoá từ khoá II đến khoá VI. Đồng chí là đại biểu Quốc hội từ khoá I (năm 1946) đến khoá VI (Năm 1986). Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí trực tiếp chỉ huy các chiến dịch lớn: Biên Giới năm 1950, Điện Biên Phủ năm 1954.
 
Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí cùng Bộ Chính Trị chỉ đạo các chiến dịch lớn ở miền Nam Việt Nam, trong đó có Chiến dịch Hồ Chí Minh, chỉ đạo cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam.
 
Năm 1980, đồng chí thôi giữ chức Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, rút khỏi Bộ Chính trị năm 1982. Cuối năm 1983, đồng chí được cử làm Chủ tịch Uỷ ban sinh đẻ có kế hoạch. Cuối năm 1993, đồng chí được suy tôn làm Chủ tịch danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
 
Đồng chí là tác giả của nhiều tác phẩm và sách lý luận quân sự được xuất bản trong và ngoài nước. Từ năm 1948 đến nay, đồng chí có gần 70 đầu sách trong đó có sách văn học, có sách viết về đề tài khoa học kỹ thuật, kinh tế, có cuốn tái bản đến 5,6 lần. Ngoài ra còn có 21 tuyển tập gồm các lệnh động viên, báo cáo tổng kết, diễn văn, huấn thị, chỉ thị.
 
 
12. Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:
 
- Huân chương Sao vàng.
 
 
- Hai Huân chương Hồ Chí Minh.
 
- Hai Huân chương Quân công hạng nhất.
 
- Huân chương Chiến thắng hạng nhất.
- Huân chương Chiến công hạng nhất.
 
- Huân chương Kháng chiến hạng nhất.
 
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất.
 
- Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.
 
Đồng chí được Nhà nước Lào tặng Huân chương vàng Quốc gia Lào, Nhà nước Campuchia tặng Huân chương Ăng Co Đồng chí được Đảng, Chính phủ các nước tặng nhiều Huân chương cao quý.
 
 
 
 
 
 
 

-------------------------------------------------- -------------------------------------------------- ---------------------------------------

 
 
II.THIEU TUONG NGUYEN SON_LUOMG QUYOC TUONG QUAN:
 
 
 
 

Thiếu tướng Nguyễn Sơn (01/10/1908 - 21/10/1956), nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu IV Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Giám đốc Toà soạn "Tạp chí Huấn luyện Chiến đấu" Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Huân Chương Quân công hạng Nhì của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Huân chương Bát nhất hạng Nhất, Huân chương Giải phóng hạng Nhất của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Có tượng đồng đặt tại Bảo tàng Quân đội Nhân dân Việt Nam (Hà Nội) và Bảo tàng Giải phóng quân Trung Quốc (Bắc Kinh). Tại Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có 2 con đường mang tên ông - Nguyễn Sơn - viên tướng duy nhất trên thế giới làm tướng của 2 quốc gia.


"Tướng quân Hồng Thủy đã có cống hiến rất lớn cho cách mạng Trung Quốc ..., nhân dân Trung Hoa mãi mãi nhớ ơn" (Nguyên Soài Rạp Bánh Đức Hoài, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc)

"- Không chính xác Đồng chí! Ấy tham gia quân đội từ thời kỳ Hoàng Phố, liệu xem có thể sửa thành tướng cấp quân đoàn chính quy được không ?..." (Chủ tịch Mao Trạch Đông)

"Hồng Thủy quả là một con ngựa bất kham đấy, điều khiển không tốt, không cẩn thận, đồng chí ấy sẽ ... đá người khác đấy" (Chủ tịch Mao Trạch Đông!)

''Nguyễn Sơn là một chiến sĩ cộng sản kiên định, một con người có khí Phách, có chút ngang tàng, có khả năng về chính trị, về tuyên truyền, về văn nghệ. Anh lại có phong cách rất riêng - rất là Nguyễn Sơn. Anh bạn bè coi trọng, coi trọng con người, coi trọng bồi dưỡng đội ngũ kế cận.

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam cũng như trong lòng mỗi người chúng ta, anh vẫn còn sống mãi với hình ảnh một người cộng sản kiên định, một người bạn, người đồng chí, một người chiến hữu thân thiết và rất mực chân thành , suốt đời phục vụ sự nghiệp cách mạng của nước ta và nước bạn.''(Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

Thiếu tướng Nguyễn Sơn tên thật là Vũ Nguyên Bác, bí danh Lý Anh Tự, Hồng Thủy, tại quê làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

Nguyễn Sơn rời quê hương sang Pháp năm 1923. Năm 1925, ông tham gia Việt Nam cách mạng thanh niên ông hội, được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang Trung Quốc học Trường Võ bị Hoàng Phố.

Tháng 8 / 1927, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 12 năm 1927, ông tham gia khởi nghĩa ở Quảng Châu.

Năm 1929, ông tham gia Hồng quân Công nông Trung Quốc, lần lượt giữ các chức vụ; Chính trị viên Đại đội, Chính uỷ Trung đoàn, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 34, Quân đoàn 12.

Tháng 1 / 1934, ông là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản nước Cộng hoà Xô viết Trung Hoà, Uỷ viên Chính phủ Dân chủ Công nông Xô Viết Trung ương.

Từ năm 1934 - 1936, ông tham gia "Vạn lý trường chinh". Sau đó là Tổng Biên tập báo "Kháng địch" của Biên khu Tấn Sát Ký.

Trong cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân Trung Quốc nhằm rút lui, bảo toàn lực lượng, lập căn cứ mới thuận lợi kéo dài hơn một năm, trải dài hai vạn năm ngàn dặm. Lúc đi 72 vạn người, đến nơi còn 7 vạn 2, phải vượt qua núi tuyết, vượt qua đồng cỏ mênh mông hoang vắng. Vậy mà Nguyễn Sơn đi tới 3 lần trên con đường ấy và tiền trạm để giải quyết thương bệnh binh. Gần 2 năm trời hành quân có lúc đi một mình, lạc đường đến vùng dân tộc thiểu số ông phải giả câm xin chăn dê để ăn cơm có, dưỡng sức tìm đường. Về tới Diên An gầy ốm như một bộ xương, quần áo rách không ai nhận ra.

Trong khoảng thời gian ấy ông bị khai trừ Đảng 3 lần vì đấu tranh với những điều sai trái và bị vu cáo là phản động, là gián điệp quốc tế, có lúc suyt bị chặt đầu. Nhưng cấp trên nhận ra sai trái lại khôi phục Đảng tịch cho ông.

Năm 1938, ông là giáo viên chính trị Trường Cán bộ quân chính kháng Nhật, Biên khu Tấn Sát Ký.

Tháng 8 / 1945, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông về nước tham gia lực lượng vũ trang. 10-1,945 Tháng, Chính phủ quyết định thành lập Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam. Trên thực tế lúc này Uỷ ban kháng chiến Miền Nam mới chỉ đạo được ở các tỉnh Nam Trung Bộ, Nam Bộ vẫn còn làm xứ uỷ Nam Bộ lãnh đạo. Uỷ ban kháng chiến miền Nam do Tướng Nguyễn Sơn được Trung ương phân công làm chủ tịch. Vào cuối tháng 11-1,945, trước khi vào Nam công tác, ông đã cùng Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái bàn bạc việc thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng hai trường quân sự (Một trường ở miền Bắc và một trường ở miền Nam). UBKC miền Nam Việt Nam lúc ấy được Trung ương chỉ định ông Hoàng Quốc Việt uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng làm chính trị uỷ viên; tướng Nguyễn Sơn làm chủ tịch kiêm Hiệu trưởng trường Trung học lục quân Quảng Ngãi; tướng Nguyễn Chánh làm uỷ viên UBKC miền Nam Việt Nam đồng thời là uỷ viên Trưởng quốc phòng Trung bộ (chủ yếu là các tỉnh phía Nam Trung Bộ), sau này gọi là Liên khu 5.

Tháng 12/1945, thực dân Pháp từ phía Đông Nam Bộ đã đánh lan lần lượt chiếm các vùng Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai thượng, Đắc Lắc, rồi đến Nha Trang, Khánh Hoà và cả Tây Nguyên. Quân đội ta còn non trẻ lại phải đương đầu với một lực lượng mạnh của quân lê dương Pháp, cộng với hàng nghìn quân thiện chiến Nhật. Tuy vậy quân ta vẫn cương quyết chống cự, không cho chúng lan ra Phú Yên và ở Tây Nguyên, chúng chỉ có thể lập căn cứ An Khê, phía ngoài Pleiku.

Tướng Nguyễn Sơn đã cùng với UBKCMN chủ trương tập trung lực lượng đánh sâu vào vùng địch hậu ở Khánh Hoà, đồng thời tăng cường cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cho các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận ... tăng cường đánh địch. Thế trận ta hoàn toàn chủ động, nhất là sau khi giác Pháp phản bội hiệp định sơ bộ 03 tháng 6 năm 1946. Tháng 4 / 1946, Nguyễn Sơn cho mở lớp bổ túc cán bộ Trung đoàn, đồng thời xúc tiến chiêu sinh, mở trường Trung học Quân sự tại Quảng Ngãi do ông làm hiệu trưởng khai giảng vào ngày 19/5/1946.

Tháng 1 / 1947, ông được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu.

Tháng 7 / 1947, ông là Khu trưởng kiêm Chính uỷ Liên khu 4. Ngày 19 / 1 / 1948, ông được Chủ tịch Chính phủ phong quân hàm thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội theo sắc lệnh số 111/SL.

Tháng 10 năm 1950, ông trở lại Trung Quốc, phụ trách khoa Việt Nam bán Mặt trận thống nhất Trung ương và học tại Học viện Quân sự Nam Ninh. Năm 1954, ông tốt nghiệp loại xuất sắc, được cử đến Bộ Tổng Giám Huấn luyện Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc giữ chức Phó cục trưởng Cục Điều lệnh. Sau đó được bổ nhiệm Giám đốc Toà soạn "Tạp chí Huấn luyện Chiến đấu".

Ngày 27/9/1955, ông được Nhà nước Trung Quốc phong quân hàm thiếu tướng. Ông là vị tướng duy nhất của Trung Quốc là người nước ngoài.

Năm 1956, làm trầm trọng tình bệnh, ông xin về nước và đã từ trần ngày 21/10/1956. Lễ tang được Nhà nước Việt Nam tổ chức trọng thể và an táng tại nghĩa trang Mai Dịch.

Ông là tác giả của nhiều tác phẩm và bài viết về quân sự và văn học bằng tiếng Việt và tiếng Trung Quốc.

Tướng Nguyễn Sơn là một người có tài diễn thuyết và phát biểu trước đám đông. Lý luận của ông có tình, có lí lại không cứng nhắc rất dễ đi vào lòng người. Chính nhờ tài năng này đã giúp ông hoàn thành xuất sắc công tác dân vận suốt cuộc Vạn lý trường chinh ở Trung quốc rồi trong quãng thời gian làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam rồi Tư lệnh quân khu IV.

Tướng Nguyễn Sơn là người có lòng nhân ái, thương yêu cán bộ, chiến sĩ dưới quyền của mình; chan hoà mật thiết với đồng bào, cả những đồng bào tôn giáo luôn tỏ thái độ thân ái, đoàn kết và cởi mở. Các vị cao tăng, linh mục, tu sĩ đều tỏ lòng quý mến. Ông rất giản dị, với bộ quần áo Chăm, có thể theo kiểu áo người dân tộc thiểu số miềm Bắc, luôn miệng Ngậm tẩu thuốc, y như người hết nông dân bình thường, không ai biết đó là vị tướng.

Tướng Nguyễn Sơn còn là một người rất yêu và am tường văn hóa - nghệ thuật, đồng thời biết trân trọng các văn nghệ sĩ. Nguyễn Sơn chính là ngưòi bênh vực, bảo vệ, cho khôi phục các hình thức sân khấu tuồng, chèo vì sau Cách mạng tháng Tám bị những người hữu khuynh toan dẹp bỏ. Ông chi tiền để nhân dân Thanh Hóa dựng lại Hội Múa dân gian cổ truyền. Ông mời Đinh Ngọc Liên - Quản Liên vốn chỉ huy đội kèn Bảo an của Bảo Đại-trao nhiệm vụ khôi phục lại đội kèn, bây giờ là đoàn quân nhạc của quân đội ta. Ông cũng rất khuyến khích phát triển các vốn cổ văn hóa nghệ thuật truyền thống: tuồng, chèo, cải lương, dân ca ... Chuyện ông tướng quân sự mà giảng về kịch Lôi Vũ suốt mấy buổi liền vẫn hấp dẫn người nghe. Đến người dịch Lôi Vũ từ tiếng Trung qua Việt ngữ - Đặng Thai Mai - nghe xong cũng phải thốt lên lời uyên thâm kham phuc sự văn học của Nguyễn Sơn.

Tướng Nguyễn Sơn luôn có cái nhìn, cách nghĩ vô cùng nhân văn. Ông không thích những thứ cứng nhắc, khuôn mẫu, gò ép con người ... điều này thể hiện rõ qua cái cách mà ông bảo vệ truyện Kiều. Ông phê phán những Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Ngô Đức Kế ... đã đành. Ông làm người còn thốt giật, tái mặt cả những Hoài Thanh, Đào Duy Anh, Trương Tửu ... và cả cụ Huỳnh Thúc Kháng. Phê rằng nghiên cứu Kiều mà đứng trên lập trường chính trị, lấy quan điểm con người thời nay để chê bai Nguyễn Du là "tiêu cực", là "định mệnh", là "có hậu" một cách gượng gạo vv .., thì thật là phi lịch sử ... Tướng Nguyễn Sơn không thích nghe những như: "Bao chiến sĩ anh hùng lạnh lùng vung guom ra sa trường ..." hay "Không quân Việt Nam trời bay ram lướt ... bom đạn gầm reo" ... bởi theo ông thì "Nó đế quốc quá!".

Là một người tham gia Việt Nam thanh niên Cách mạng hôi từ rất sớm, lại tham gia cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân Trung quốc nghĩa là ông là một người Cộng sản thực thụ. Nhưng qua những gì ông thể hiện thì ông chỉ là một người chiến đấu Gianh độc lập, hòa bình cho Tổ quốc, chống lại chiến tranh và xây dựng tình hữu nghị giữa các dân tộc. Với ông Tổ quốc là trên hết.



Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Bài viết: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Báo điện tử Quân đội Nhân dân Việt Nam, Báo điện tử Quảng Ngãi.
___________________________________________________________________________________________________________________________
 
III.TRUNG TUONG LE QUANG DAO_VI CHU TICH QUOC HOI LA TUONG LINH QUAN DOI;
 

Trung tướng Lê Quang Đạo (8/8/1921 - 24/7/1999), nguyên Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng (truy tặng 2003), Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang Nhất - Nhì - Ba, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng. Huân chương Itxala (Itxala: Nhân dân) của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.


"Yêu anh từ lần gặp đầu tiên. Người ấy đã mang trong mình một sức mạnh tôi tin tưởng làm Gắm gửi cả cuộc đời" (Nhà văn Nguyệt Tú, vợ Trung tướng Lê Quang Đạo).

''Anh Lê Quang Đạo có đức tính thật quý bầu, rất hiếm có của một cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng và của quân đội mà không phải nhiều người đều có được. Đức tính quý bầu của anh ấy có sức cảm hoá lòng người mà bất kỳ ai, dù chỉ được gặp anh một lần cũng đều có được cái cảm nhận sâu sắc ấy''(Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên) ..

"Không có sự lựa chọn nào tốt hơn, un choix heureux (một sự lựa chọn thích hợp)" (Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, nói khi Trung tướng Lê Quang Đạo Chủ đề được giữ trách nhiệm xuất tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)

Trung tướng Lê Quang Đạo tên thật là Nguyễn Đức Nguyện quê tại xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ngoài ra ông còn các bí danh sau đây: Nho Mẫn, Minh, Miện, Đăng, Trần Hoạt ...


Năm 1938, ông tham gia phong trào thanh niên dân chủ ở Hà Nội. Năm 1939, ông tham gia phong trào thanh niên Phản đế Đông Dương, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1940.

Từ năm 1940-1942, ông là Bí thư chi bộ xã Đình Bảng, Uỷ viên Ban cán sự phủ Từ Sơn, Uỷ viên Ban Cán sự tỉnh Bắc Ninh, Bí thư Ban Cán sự tỉnh Bắc Ninh, Bí thư Ban Cán sự tỉnh Phúc yên rồi làm Xứ uỷ viên Xứ uỷ Bắc kỳ.

Từ năm 1943 đến tháng 5 / 1945, ông là Bí thư Ban Cán sự Hà Nội, Uỷ viên Thường vụ Xứ uỷ Bắc kỳ, phụ trách tờ báo "Quyết thắng" và các lớp huấn luyện Việt minh ở Chiến khu Hoàng Hoa Thám.

Tháng 8 / 1945, ông là Chính trị viên Chi đội Giải phóng quân tỉnh Bắc Giang, tham gia lãnh đạo tổng khởi nghĩa ở Bắc Giang.

Từ cách mạng Tháng Tám năm 1945-1948, ông giữ các chức vụ: Bí thư thành uỷ Hải Phòng, Hà Nội, Phó Bí thư Khu uỷ đặc biệt Hà Nội Xứ uỷ viên Bắc kỳ, Bí thư Liên tỉnh uỷ Hà Nội - Hà đông, Uỷ viên thường vụ Liên khu uỷ Liên khu III, phụ trách công tác tuyên huấn.

Năm 1949, ông là Phó trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Đảng.

Từ năm 1950-1976, ông công tác trong Quân đội nhân dân Việt Nam và được giao nhiều trọng trách: Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Phó Chủ nhiệm Chính trị Chiến dịch Điện Biên Phủ, Phó trưởng đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam trong Uỷ ban Liên hiệp đình chiến Việt Pháp, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào, Bí thư Đảng uỷ và Chính uỷ Mặt trận giải phóng Quảng trị.

Năm 1960, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, ông được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Uỷ viên Quân uỷ Trung ương. Năm 1976, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Bí thư Trung ương Đảng. Năm 1978, ông là Phó Bí thư thành uỷ Hà Nội, Chính uỷ Bộ chỉ huy quân sự thành phố Hà Nội.

Năm 1982, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, ông được bầu làm Uỷ viên Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Bí thư Trung ương Đảng, trực tiếp làm Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương.

Từ năm 1983-1987, ông giữ các chức vụ: Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Trung ương Đảng phụ trách công tác dân vận của Đảng, Bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Từ năm 1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, ông tiếp tục được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Tháng 6 / 1987, tại kỳ họp lần thứ nhất khoá VIII, ông được bầu làm Chủ tịch Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.

Tháng 11/1988, tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ III đã bầu ông vào Đoàn Chủ tịch Uỷ Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và là Bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Từ tháng 8 / 1994 đến tháng 7 / 1999, ông làm Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khoá IV).

Một con người''trắng trẻo, nhỏ nhắn, thư sinh, cặp kính cận để dày''như Trung tướng Lê Quang Đạo, nếu không nói ra, ít ai nghĩ rằng ông là một vị tướng. Một vị tướng đã từng tham gia hoạt động cách mạng từ những ngày tiền khởi nghĩa. Một vị tướng đã từng tham gia lãnh đạo Khởi nghĩa Gianh chính quyền tại Bắc Giang với tư cách là Chính trị viên Chi đội. Và một vị tướng từng tham gia đã chỉ huy Chiến dịch Đường 9 Khe Sanh, Chiến dịch Đường 9 Nam Lào. Là một người làm công tác Chính trị, một Chính ủy nhưng ông là một người rất uyên bác về Quân sự.

Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Trang thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam

Bài viết: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Báo điện tử Quân đội Nhân dân
 
___________________________________________________________________________________________________________________________
 
IV.THIEU TUONG NGUYEN THI DINH_VI YUONG TOC DAI;
 

Thiếu tướng Nguyễn Thị Định (15/3/1920 - 26/8/1992), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (truy tặng 30/8/1995), nguyên Thiếu tướng Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang Giải phóng miền Nam Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, 2 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang Nhất - Nhì - Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Giải thưởng Hòa bình Lê-nin, Huân chương Playa Giron và Huân chương Ana MariaGranajales của Nhà nước Cu-ba.


"Phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam là cô Nguyễn Thị Định Cả thế giới chỉ nước ta có vị nữ tướng quân như vậy Thật là vẻ. Vang Cho cả. Miền Nam, cho cả dân tộc ta" (Chủ tịch Hồ Chí Minh ).

"Tôi cảm thấy rất vinh hạnh khi viết thư này gửi thǎm Bà - một người phụ nữ nổi tiếng và có một vai trò quan trọng trong lịch sử thế giới, một tấm gương của người phụ nữ chân chính. Tôi rất sung sướng khi sử dụng cuốn hồi ký của Bà để dạy cho sinh viên nước mình về truyền thống Cách mạng Việt Nam "(Giáo sư sử học Christine Whate trường Đại học Tổng hợp Hawai, trong một lá thư gửi Thiếu tướng Nguyễn Thị Định).

"Sự thực là có chị Ba Định ở Bộ Tư lệnh, nhiều việc cụ thể ở chiến trường đã được làm sáng tỏ Dưới sự. Chỉ đạo của anh Nguyễn Chí Thanh ở cương vị Chính ủy, chúng tôi được phân công giúp chị nắm những vấn đề cơ bản về chỉ huy và công tác tham mưu quân đội, cũng như công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang, đồng thời chúng tôi cũng học tập được ở chị nhiều kinh nghiệm quý trong bầu lãnh đạo đấu tranh chính trị và trong công tác xây dựng phong trào quần chúng.

Chúng tôi không khỏi ngạc nhiên về sự thông minh và hiểu biết nhanh chóng của chị về các vấn đề quân sự. Chỉ sau một thời gian dài không, chị đã có nhiều ý kiến đóng góp có giá trị trong việc chỉ huy lực lượng tổng hợp trên chiến trường.

Trong công tác, chị bộc lộ khá rõ sự năng động và tinh thần tích cực, hết mình trong mọi việc. Chị hầu như có mặt trong tất cả các cuộc hội nghị tổng kết về chiến tranh du kích, trong Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua của Miền. Chị đi thăm các sư đoàn, trung đoàn chủ lực, các đơn vị binh chủng không chỉ ở nơi đóng quân mà còn ở mặt trận. Chị quan tâm cụ thể đến việc tổ chức, huấn luyện, tác chiến và cả việc ăn ở, giải trí của chiến sĩ.

Anh em tiếp đón chị với cương vị người chỉ huy, đồng thời như người chị cả thân thương, họ thường gọi chị bằng cái tên "Chị Ba trìu mến". Anh Nguyễn Chí Thanh có lần nói vui với chị là "Chúng tôi ghen với chị về lòng thương yêu, quý mến của cán bộ, chiến sĩ đối với chị đấy ...". (Thượng tướng Trần Văn Trà)

"Bước vào lan của chị Ba, cái đập vào mắt trước tiên là tấm bản đồ không ảnh toàn miền Nam bằng lụa treo trên vách Kế đó Là chồng sách quân sự Trên bàn làm việc. Của chị lúc nào cũng có một quyển đang. Chị xem dở nghiên cứu, chị học ngày, học đêm chiến thuật chiến tranh hiện đại .. Nhớ hôm địch tấn công căn cứ vào, Bộ Tư lệnh phải di chuyển đến nơi an toàn, mỗi người ở cách xa nhau trong cự ly một quả bom địa để hạn chế bom sát thương một lúc hai người Bên bờ. suối hoang vắng, chị vẫn đọc sách ... Tôi mời chị đi xem đơn vị diễn tập, chị vui vẻ nhận lời, và tôi đã tổ chức bảo vệ chị đi chu đáo Chị tham quan diễn tập với cặp mắt và bộ óc của người chỉ huy binh chủng hợp thành .. Chị chỉ ra những chỗ cần phải suy nghĩ thêm, khi chiến đấu ở đồng bằng với điều kiện địch chiếm ưu thế tuyệt đối về không quân, pháo binh, xe thiết giáp, đổ bộ trực thăng Phải công nhận rằng,. với bề dày kinh nghiệm lăn lộn đấu tranh nhiều năm qua, chị biết địch biết ta, am hiểu thời tiết, địa hình, chị tiếp thu nghệ thuật tác chiến hiện đại khá nhanh với nhiều hứa hẹn sáng tạo .. "(Thiếu tướng Bùi Cát Vũ)

"Chị Ba Định ạ Ngày xưa!, Người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần" (Giáo sư Trần Văn Giàu, trong lời đề tựa cuốn Nhớ chị Ba Định).

Với các chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam Thiếu tướng Nguyễn Thị Định luôn được gọi bằng cái tên trìu mến "Cô Ba Định"

Và trong lòng người dân Việt Nam: "Nǎm 1992 Nguyễn Thị Định qua đời sau một cơn đau tim đột ngột, hầu hết các tỉnh, thành Hội phụ nữ trong cả nước đều lập bàn thờ để tưởng nhớ đến Bà, theo triết lý dân gian: "Sống làm tướng chết thành thần" Nhân dân Hát Môn., Phúc Thọ, Hà Tây nơi thờ Hai Bà Trưng đã rước bát hương thờ Bà Nguyễn Thị Định về thờ trong khu đền Hai Bà như một vị nhân thần mới. Nhiều địa phương đã đặt tên trường học Nguyễn Thị Định, quỹ hỗ trợ trẻ em nghèo hiếu học mang tên Nguyễn Thị Định ". (Theo Phụ nữ Việt Nam)
Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân có 10 con người (là bà nên cho con út thường tên thường gọi lúc nhỏ là Út) ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà sinh ra với thể chất yếu đuối, ốm nhom vì hen suyễn.

Đến tuổi đi học, làm trường học xa nhà, ở trọ thì Tốn kém, bà không được đi học, đành ở nhà học chữ với người anh thứ ba tên là Chẩn. "Người thầy" ấy có ảnh hưởng sâu sắc với cuộc đời cô về nghĩa khí Lục Vân Tiên, về chí hướng đánh Tây, Gianh độc lập cho đất nước.

Bà tận mắt chứng kiến anh trai tham gia cách mạng, bị bắt, bị đánh đập trong nhà giam ở quận. Bà đứng nhìn, căm thù mà không biết làm gì để cứu anh ra, đành khóc tức tươi. Từ đó, những câu hỏi về thời cuộc, về cách mạng nay nở trong đầu bà. Cô hiểu và tin làm cách mạng là việc tốt nhưng là việc rất khó, là con gái chắc không thể làm được. Có thể nói bà đến với Cách mạng trước hết là do sự dìu dắt, hướng dẫn của người anh trai.

Năm 16 tuổi, bà rất đẹp, da trắng, môi đỏ, tóc xoắn, một vẻ đẹp rất đặc biệt. Nhiều gia đình giàu có đánh tiếng hỏi đập. Tuổi cô thời ấy con gái đã lo lấy chồng nhưng bà không quan tâm đến điều hệ trọng ấy. Bà nói "Nếu lấy chồng, phải là người cách mạng, em mới Ưng".

Đó cũng là năm phong trào dân chủ lên cao. Bà nói Sưa lắng nghe anh trai và các bạn của anh diễn thuyết, rồi tham gia rải truyền đơn, làm giao liên, lo cơm nước cho các anh, tham gia các hội tương tế ái hữu, cổ động báo "Dân chúng". ..

Tháng 10 năm 1938, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Được tổ chức Cách mạng và người anh trai mai mối, bà kết hôn với một người Đồng chí của mình tên là Bích. Nhưng hạnh phúc đến với vợ chồng Út Định chưa bao lâu thì giông tố Ap đến. Mới sinh con 3 ngày (đây là người con duy nhất của bà tên là Nguyễn Ngọc Minh, tên thường gọi là Ngày Sáu tập Kết ra. Bắc học ở trường học sinh miền Nam ở Đông Triều, Quảng Ninh Ngày mắc bệnh nặng rồi. nằm lại nghĩa trang Văn Điển), mật thám đến nhà vây bắt chồng bà rồi sau đó bị kết án 5 năm tù và 5 năm đầy đi biệt xứ. Đây là thời điểm sau Nam kỳ khởi nghĩa năm 1940, cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre đã bị giác Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có nhiều đồng chí trong cấp ủy tỉnh và huyện.

Ngày 19/7/1940, bà bị mật thám vây bắt và đưa về khám Lá ở Bến Tre cùng với con trai. Sau đó, Thực dân Pháp tuyên bố đưa bà đi giam giữ ở "căng" Bà Rất và buộc bà phải gửi con về nhà khi bà có con mới 7 tháng tuổi. Trước khi đưa chồng bà ra Côn Đảo và bà đi Bà Rất, Pháp đưa cả hai người đến một nhà giam ở Sài Gòn. Tuy nhiên, hai vợ chồng bà không hề biết điều này.

Tại Bà Rồi bà bị xếp và nhà B, nơi dành riêng cho nữ tù chính trị, ở đây mọi người gọi bà là Bà Bích (theo tên chồng). Tại đây bà tiếp tục hoạt động và là trung tâm đoàn kết của khu nhà B, trước hết là việc đoàn kết nữ tù nhân nhằm chống lại những trò choc ghẹo của những tên cò Tây. Bà còn bày thêm kinh nghiệm là bọn quản tù hay chụp nắm tóc phụ nữ trước khi đánh. Vì vậy, chị em nên cài ít kim có thể vào trong bui tóc, để khi chúng chụp vào đầu tóc chị em, tay bị kim đâm, sẽ bỏ ra ngay. Tới lúc đó, chị em có thì giờ để đối phó ...

Tên quan ba nổi tiếng tàn ác, có thú tính thích nhìn thấy đổ máu, thích xui chó bec-giê cắn xé tù nhân cho ra máu lai Láng, bắt bà bước ra sân, giơ cao vỏ chai đựng rượu làm đích cho hắn bắn . Hắn vừa muốn khoe tài bắn súng vừa "nan gân" bà "chuyên xách động nữ tù đấu tranh".

Nếu bà không chịu bước ra, không giơ cao chai rượu cho hắn nhắm bắn, hắn sẽ có dịp bêu Rieu chị là hẹn nhát. Còn nếu thể hiện chí khí, viên đạn của tên quan ba có thể cắm vào cơ thể bà.

Bà bình tĩnh bước ra sân rồi giơ cao vỏ chai rượu lên. "Đoàng". Tiếng súng nổ, vỏ chai vỡ toang. Hắn khoái chí cười khanh khách. Chưa thỏa mãn thú tính, hắn bắt bà tháo chiếc vòng cẩm thạch đang đeo ở tay - kỷ vật chồng chị tặng ngày cưới mà bà rất yêu quý, làm đích cho hắn bắn tiếp.

Quá phần uất, bà tháo vòng, nem mạnh vào viên gạch gần đó, làm chiếc vòng vỡ tan. Trước sự bướng bỉnh, gan dạ của bà, tên quan ba hơi bất ngờ. Lúc ấy, hắn không làm gì nhưng định bụng sẽ trung trị bà và các "nữ tù ngoan cố" vào một dịp khác.

Bệnh tim ngày càng trở nặng, bà liên tục bị ngất. Chị em nữ tù đấu tranh quyết liệt với tên sếp Tây. Cuối cùng, chúng đành chấp nhận đưa bà về điều trị tại Nhà thương Biên Hòa. Năm 1943, bà được Thực dân Pháp đưa về quản thúc tại địa phương ...

Ba tháng sau, vết thương những ngày bị đóa đây trong nhà tù đế quốc chưa lành thì bà nhận được hung tin: chồng bà đã hy sinh ngoài Côn Đảo ngày 6 tháng 12 năm 1942.

Năm 1944, phong trào Việt Minh lên mạnh, bà bắt được liên lạc với tổ chức. Bà gửi con cho mẹ, lao vào công tác và hoạt động ở huyện Châu Thành. Trong Cách mạng tháng Tám 1945, bà đã cầm cờ dẫn đầu hàng ngàn quần chúng tay dao, tay gậy, cờ, băng, biểu ngữ ram ro tiến chiếm thị xã Bến Tre.

Sau ngày cách mạng thành công, bà là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh và sau đó làm Hội trưởng - lúc bây giờ quen gọi là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh.

Tháng 3 năm 1946, bà là thành viên trong đoàn cán bộ của khu 8 vượt biển ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và tỉnh để xin Trung ương chi viện. Đồng đi trên chiếc tàu đánh cá nghi trang, từ cửa biển Bến Tre ra Phú Yên. Rồi từ Phú Yên, họ ngồi xe lửa ra Hà Nội.Chuyến đi này không những cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ - một chiến trường xa cách Trung ương - mà còn đặt cơ sở cho việc tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Kết thúc chuyến đi miền Bắc, bà đi thẳng vào Quảng Ngãi - trụ sở của Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, nhận súng, tiền và mang tài liệu của Trung ương về cho Xứ ủy Nam Bộ.

Bà cũng là người duy nhất trong 4 thành viên của đoàn trở về lại Bến Tre với chiếc thuyền chở đầy vũ khí chi viện cho chiến trường, xuất phát từ bờ biển Phú Yên, lúc này đang còn là vùng tự do. bằng lòng quả cảm, trí thông minh, bà lại cùng các đồng chí của mình khéo leo vượt trùng dương đưa được 12 tấn vũ khí chi viện cho miền Nam một cách an toàn. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bà cùng với các đồng chí lãnh đạo ở địa phương bám đất, bám dân, đưa phong trào kháng chiến trong tỉnh vượt qua những khó khăn, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm.

Chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết (7 / 1954), bà quyết định ở lại miền Nam, chỉ mình con ra Bắc. Khi đó Bến Tre là một trọng điểm đánh phá bình định ác liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà phải giả làm nghề nuôi heo, nuôi gà vịt tại nhà một đồng bào ở giữa cánh đồng vùng giáp ranh ba xã Tân Hòa, Thạnh Phú Đông, Phước Long. Bà đã từng cải trang thành người tu hành, người chăn vịt, người đi mua bán, làm vợ bé, người ở ... Đôi chân của bà hết in dấu bên Minh lại về bên Bảo, hết qua An Hóa lại về Châu Thành xây dựng cơ sở, nắm tình hình phong trào. Cái đầu của bà được địch treo giá: "Thưởng 10.000 đồng cho ai bắt được Nguyễn Thị Định".
 
                                                                                                                                                                         Tro ve
__________________________________________________________________________________________________________________________
 
LA NHUNG NGUOI CON CUA DAN TOC VIET NAM CHUNG TA HAY TU HAO VE CAC DANH TUONG CUA TO QUOC

Comments