Home‎ > ‎

Tranh Biển - Seascape

Chia sẻ

Những dòng chia sẻ và tranh ảnh đăng nơi trang này mong rằng sẽ giúp trang chủ gần gũi với quý bạn. Hy vọng quý bạn tìm được chút niềm vui khi tiếp xúc với những gì được post lên ở đây. Trang chủ mong nhận được những ý kiến, những chỉ giáo xây dựng. Không gì vui hơn nếu có dịp bàn thảo và giải thích những thắc mắc từ khách viếng thăm về những bức tranh post lên ở trang blog này.
Quý mến

A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
 
Địa chỉ liên lạc:
tiengthongreovui@gmail.com

hay :
aclawave@hotmail.com

___________________________________________________



______________________________________________________________
Vẽ Cảnh Biển

A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh



Khi vẽ tranh, người thì nghiêng về hiện thực, người lại nghiêng về ấn tượng và/hoặc trừu tượng.

Tranh vẽ theo lối ấn tượng với những nét cọ mạnh bạo, tạo ra độ tương phản lớn, màu thường rực rỡ nên gây cảm giác phấn khích nơi người thưởng lãm.

Nói như thế không có nghĩa là tranh hiện thực không đẹp. Tranh hiện thực vẫn có những nét quyến rũ riêng, và luôn luôn làm say mê đa số người hâm mộ hội họa.

Hình lấy từ internet
 
Tuy phát xuất từ hai quan niệm khác nhau, hiện thực và ấn tượng không phải là hoàn toàn biệt lập về cách vẽ. Rất nhiều họa sĩ kết hợp những lối vẽ khác nhau, tùy trường họp mà gia giảm lối vẽ mình thích.




Có người dùng bút pháp của phái tả chân nhưng về bố cục thì lại do trí tưởng tượng dẫn đi khá xa. Chẳng hạn như tranh biển của Byron Pickering. Tranh của ông rất đẹp nhưng ít nhiều không có "thực". Nhiều người say mê tranh của ông có lẽ vì những đường sóng huyễn hoặc này.  (hình bên cạnh: một bức tranh của Pickering)

Nhưng dù vẽ theo cách này hay cách khác, vẽ biển là một thách đố.  Tôi có một người bạn là họa sĩ xuất thân từ trường vẽ ở Miền Bắc trước 1975, tất nhiên có bài bản. Có môt lần đến xem tranh của tại hạ, trong câu chuyện qua lại, anh nói vẽ sóng liếm trên cát rất khó, "chớ mó vào". Tôi rất thích ngắm cảnh biển cả, gần bờ hay xa khơi. Lúc đó tôi đã bắt đầu vẽ biển. Nghe câu nói này chẳng những không nao núng mà lại còn khiến tôi hứng chí. Chỉ tìm cái dễ có thể sẽ vuột mất những thử thách để đào luyện cái năng khiếu trời ban, và mặc dù đó chỉ là một cái sở thích lúc nhàn tản.

Đã thích biển mà không thử thì mất cơ hội vui với điều mình thích. Nhưng hơi phiền là sách chuyên khảo hội họa hiếm; sách biên khảo lịch sử hội họa thì nhiều nhưng sách dậy vẽ hay phân tích kỹ thuật thì hiếm. Bởi vậy mà khi muốn tích lũy sự hiểu biết về kỹ thật vẽ biển thì việc khảo sát phim ảnh và phân tích các bức tranh nổi tiếng về biển chiếm phần quan trọng trong thời gian học hỏi.

Trong các cuộc triển lãm, ở các gian hàng trưng bày tranh hay nơi các bảo tàng hội họa mà gặp những bức tranh "hớp hồn", tôi thường đứng sững ra mà ngắm. Những lúc như vậy thời gian qua rất nhanh mà không hay.

Thế nhưng khi ngắm tranh ta chỉ thấy bức tranh đẹp hay xấu, đúng hay sai và chẳng cần biết tại sao như vậy. Biết thêm thì tốt, bằng không cũng chẳng sao bởi vì người ta thưởng thức một nghệ phẩm qua cảm xúc, qua sự rung động chứ không qua kỹ thuật. Còn đối với người vẽ, ngoài rung động và cảm hứng cần có vốn liếng kỹ thuật để chuyển tả những ý nghĩ và cảm hứng ấy lên khung vải. Trong số những kinh kỹ, trung gian thương mại trong lãnh vực tranh ảnh, nhiều người am tường về hội họa. Họ là những họa sĩ không cầm cọ. Thế nên họ đánh giá tranh chính xác chưa kể đến chuyện lượng giá theo thị hiếu người mua và theo trào lưu thị trường.

Nói đến vẽ trước tiên là nói đến ánh sáng. Có ánh sáng, đen thành trắng. Không ánh sáng trắng thành đen. Ánh sáng cho ta sắc độ. Ánh sáng giúp sự vật biểu hiện màu sở tại (local colour), và màu phản chiếu. Vẽ biển cũng vậy, tôi thường tập nhận ra các vùng khác nhau khi chúng tiếp xúc với ánh sáng. Ví dụ: (Chưa nói đến sóng), chỉ nói đến mặt biển thôi, tôi giản lược đối tượng vào 4 vùng nhận ánh sáng như sau:



1. Ánh nắng nếu phản chiếu thẳng góc sẽ rất sáng, vì mặt biển là một tấm gương. Đi trên máy bay nhìn xuống nhiều khi ta nhìn thấy mặt trời phản chiếu trên biển rất chói chang. Thực tế biển thường có sóng, mà sóng có nhiều mặt, chỉ có một mặt phản chiếu ánh mặt trời đến mắt ta (nên thấy "lăn tăn")

2. Khí quyển có ánh sáng thay đổi từng ngày, ngày nắng có màu xanh "da trời" (Trời không có thịt nhưng có da đấy!!!). Ngày mưa trời màu xám, v.v... Phản ánh của bàu trời trên sự vật rõ nhất khi sự vật không nhận tia nắng trực tiếp.

3. Ngày nắng ở ngoài khơi, nước biển trong vắt có màu aqua.

4. Thực tế ít khi ta thấy màu aqua tinh khiết (trừ khi là dân chài đi biển hàng ngày). Chúng ta thường ngắm biển từ trên bờ, nên màu nước biển bị pha trộn với màu của những vật thể nằm dưới nước như cây dưới biển, đá ngầm, rong rêu, sỏi cát ở gần bờ, dưới thềm lục địa ánh khúc xạ lên (Ảnh thật). Cộng thêm vào nhóm này có bóng của cây cối, của núi đá ... trên mức nước biển chiếu xuống bên dưới rồi phản chiếu lên mắt ta (Ảnh ảo).

Phân biệt để dễ nhớ thôi chứ trong thực tế chúng ảnh hưởng qua lại. Chẳng hạn đá có sắc riêng của đá, nhưng khi ánh nắng chiếu lên, màu đá sẽ biến và biến thiên theo góc độ tia nắng; thêm vào đó bầu khí quyển và mặt nước ánh lên lại khiến màu đá biến thiên một lần nữa...

Khi nào rảnh chúng ta lại nói tiếp về vẽ biển... Bây giờ mời quý anh chị và các bạn coi cho vui bức seascape mới vẽ. Bức tranh vẽ cảnh biển xa bờ nên phần cận cảnh (phần dưới của tranh) có những chỗ mầu đậm vì nước sâu. Bức vẽ là một tập hợp những halftones rất tinh tế, tiếc rằng máy ảnh không thể chụp lên hết được....

A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
(Hè 2015)



CHIỀU HOANG TRÊN BIỂN
**
24x36 inch (61x89 cm)
Oil on canvas
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
**




***


C
húng tôi nối đuôi nhau nhẩy xuống khỏi thuyền. Hàng dừa đong đưa. Gió vẫn thổi nhưng cường độ đã giảm đủ để không làm mất cái cảm giác sảng khoái của những người sau năm ngày đêm lênh đênh ngoài khơi nay đã dạt được vào bờ. Tôi không quên ngoái nhìn lại con thuyền thân yêu đã bị nứt thủng nhiều chỗ.

So với chiếc tầu đánh cá Thái Lan thì thuyền của chúng tôi tựa như chiếc Titanic bên cạnh khối băng sơn. Mỗi lần sóng vỗ mạnh, thuyền đập vào thành tầu, những tiếng răng rắc khô khan vang lên. Các khe nứt lớn đần. Tôi còn nhớ rất rõ mỗi lần bị ép mạnh giữa sóng biển và mạn tầu, bề ngang con thuyền bị ép nhỏ lại thấy rõ. Ở bờ sông con thuyền trông không đến nỗi nào, nhưng khi lênh đênh giữa biển cả, nó mong manh như một chiếc lá tre.

Hai thiếu nữ bị bắt đi và mất tích kể từ đó, để lại đau đớn cho thân nhân và thương nhớ cho cả thuyền. Thủy, một trong hai thiếu nữ tên là Thủy, tuổi không chênh lệch với tôi quá nhiều, lúc thì kêu tôi là cậu, vì Thủy là bạn của cháu tôi, lúc thì lại gọi tôi bằng anh và xưng em. Thủy không quen với sóng biển, những ngày qua gần như nằm li bì. Sáng nay, trời yên biển lặng, Thủy ngồi lên được, trông khá tỉnh táo. Nhưng khi nhìn thấy tôi Thủy như không còn hơi sức nữa bất ngờ té nhào vào ngực tôi và nằm gọn vào lòng. Tôi hơi lúng túng nhưng đưa tay ra ôm lấy cổ và vai nàng để đầu Thủy khỏi đập xuống sàn gỗ. Nàng mền nhũn như bún, không một chút cố gắng. Khi học tại viện Đại Học Đà Lạt, cháu gái tôi thường tha cả đống bạn về nhà quấy phá. Và Thủy là một trong đám bạn đó. Cứ coi Thủy như là cháu mình đi, thì có sao đâu. Tôi nhủ thầm ...

Chúng tôi đã nhìn thấy con chim nhỏ đứng trên một bẹ dừa trôi theo sóng, báo hiệu đầu tiên cho thấy chúng tôi không còn xa bờ nhiều nữa. Không bao lâu sau, đám trẻ tinh mắt đưa tay chỉ về phia trước, reo lên "Có núi mờ mờ đằng xa kia kìa", rồi quay sang những người bên cạnh: "Thấy không?". Hy vọng vượt thoát thành công tràn ngập cả thuyền. Nhưng có biết đâu bất hạnh lớn lao hai tiếng đồng hồ sau đã đến với hai thiếu nữ đồng hành. Những tên cướp trên chiếc thuyền đánh cá, sau khi moi móc được chút ít vàng, buông thả con thuyền trôi lênh đênh theo gió.

Thuyền đã chết hết máy ngay từ khi vừa rời khỏi bờ biển quê hương. Một tấm vải cuốn đắp cho con nít căng lên làm buồm. Vậy mà tấm vải đã đủ sức và bền bỉ lôi chiếc thuyền chở 37 người đi khoảng năm trăm cây số trên vịnh Thái Lan, từ Rạch Giá tới Bu-đi, Sông-La. Mỗi lúc nước rỉ vào một mạnh, có chỗ tuôn vào thành vòi. Để giữ cho con thuyền khỏi chìm, một người tát, rồi hai người tát nước liên tục. Nếu gió nổi mạnh như hôm trước, chắc số phận của chúng tôi đã đổi khác.

Sau cùng ước mơ đã trở thành sự thực: Con thuyền đã tấp được vào bãi cát bờ biển miền nam Thái Lan vào khoảng nửa đêm. Chúng tôi còn lại 35 người đã thực sự rời bỏ được cái quê hương ngục tù, ăn không có ăn, nói không dám nói, chung quanh là rình rập, ngày áo thấm mồ hôi, đêm chất chồng bất an và lo lắng.

Sau một đêm yên tĩnh là một buổi sáng trong lành phơi phới gió biển. Trên những khuôn mặt phờ phạc đã xuất những nét rạng ngời. Những đôi măt cuồng thâm đã thấy lóe lên những tia hy vọng. Lá cờ Thái bay phất phới xa xa trong một thôn xóm thanh bình dấu hiệu đầu tiên của ngưỡng cửa tự do đã cận kề. Lá cờ đỏ trên quê hương tôi mà truyền thông gọi là lá cờ tổ quốc tại sao lại mang đến khiếp sợ cho hàng chục triệu người Việt chứ không toát ra một chút nào của an bình như lá cờ Thái cả. Vì sao lại có sự nghịch lý như vậy? Tại sao người Việt không an tâm bên cạnh lá cờ dựng trên quê hương như khi nhìn thấy lá cờ Thái?

Trong trại tị nạn trên xứ Thái này, nhiều người nhờ tiền thân nhân ở nước ngoài tiếp tế, mua được những chiếc máy phát thanh bán dẫn, tối tối xúm nhau nghe Đài BBC hay VOA. Nhiều khi rà sóng bắt được cả đài cộng sản phát đi từ Miền Nam, rất mạnh. "Đây là đài Sài gòn Giải phóng"...  Giọng lanh lảnh muốn ăn tươi nuốt sống kẻ thủ khiến tôi dựng tóc gáy. Cái giọng ấy nghe sao gần quá như phát ra ngay từ bên cạnh cho tôi có cái cảm giác bất an như vẫn còn nằm trong tay những tên công an phường khóm, vẫn còn nằm trong bốn bức tường với cửa song sắt.

Nếu có ai hỏi có khi nào bạn cảm nhận rõ ràng nhất sự thanh thản và phơi phới, tôi sẽ nói ngay đó chính buổi sáng sớm chấm dứt cái đêm kỳ diệu thuyền dạt được vào bờ đất Thái. Sau giấc ngủ trên bãi cát dưới hàng dừa và gió biển lồng lộng, tôi cảm nhận được sự an lành tuyệt đối. Thức dậy mà thấy mọi sự vật chung quanh như chỉ có trong giấc mơ. Tôi ngước mắt lên trời nói lời cảm tạ.

Thời gian sống trên đất nước tạm dung, nhiều đêm vẫn còn nằm mơ đang lội lọp chọp giữa vùng xình bùn trong cuộc vượt thoát. Nhưng rồi tất cả đã được đền bù: Tự Do không còn ở xa nơi chân trời mịt mùng. Tự Do đã ở ngay nơi ngưỡng cửa.

A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh


Những bức tranh vẽ biển
(Seascape)
**

Đá Của Hải Âu
(Rocks of Seagulls)
Oil on canvas, 24x30 in (61x76cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
**

'Chân Trời Xa Kia Là Tự Do'

(Freedom at Far Horizons)
Oil on canvas, 24x30 in (61x76cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
**



Bông Hồng từ Phương Xa
(A rose from far-away land)
Oil on canvas, 24x30 in (61x76cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
**


NIỀM ĐAU CỦA BIỂN
Oil on canvas
36x48 inch (91.5cm X 122cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh

**


CHIỀU VÀNG - Golden Evening
Oil on canvas, 24x36 inch (61x91.5cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh

**

Ở LẠI VỚI BIỂN
(Stay belonging to the sea)
Oil on canvas, 24x36 inch (61x91.5cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh

**



SÓNG BIỂN & ĐÁ
(Sea Waves and Rocks)
Acrylic/Oil on canvas, 36x40 in. (91.5 x 101cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
**



HẢI TRIỀU ÂM

(Ocean Sounds)
Oil on canvas
24x30 inch (61x76 cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh

**



Em Tôi

Người em gái Việt Nam tôi đã gặp. Tôi đã gặp em nơi thành phố nghỉ mát Vũng Tàu. Tôi đã gặp em trên đường thị xã miền cao nắng bụi mưa bùn Pleiku. Tôi đã chọc ghẹo vui đùa với em ngay trước nhà mình ở Phú Nhuận Sài Gòn. Người em gái ngọc ngà ấy đã liều vượt biển tìm tư do khi lên 15 hay 16 và đã bị hải tặc bắt đi mất tích. Gia đình em tuôn tràn bao nhiêu là nước mắt. Lòng tôi đau.
 

Sóng nước tung hơi mờ kỷ niệm. Hình ảnh khuôn mặt thanh tú đẹp lạ lùng nay mờ nhạt với khói sương. Tiếng sóng âm vang vẫn muôn đời ở đó mỗi khi trở về thăm chốn xưa. Kỷ niệm dội về theo mùi nước mặn, mùi ngai ngái của rong biển. Biển cả đã đưa những người không chịu nổi ngột ngạt ra đi, nhưng nhiều người không tới được bờ bến tự do trong đó có em.
 
Đứng nơi bãi vắng ước mơ được sống lại chuyện xua. Sao mình không mãi bé nhỏ như thuở nào có em cùng đùa vui. Bốn bàn tay chung xây lâu đài cát. Nhìn dã tràng tung tăng không mệt mỏi thách thức sự bền bỉ với sóng nước. Đơn sơ nhưng đẹp vô ngần. Bây giờ nghĩ lại thấy mình đã sống nơi thiên đàng khi còn trẻ mà không hay.
 
Gió mơn man trên da mặt nhưng thuần chỉ gợi một nỗi nhớ nhung thương tiếc khôn nguôi. Nơi chân trời góc biển nào hiện đôi tay ngọc ngà ấy đang bị dày vò. Nơi sơn lâm cùng cốc nào đôi bàn chân hồng đang bị bủa vây. Không biết người hiện có được an phận, dù là phận gì.
 
Cầu mong chỉ có thế: Sự An Phận cho người EM tôi thương.
 
A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh

**


BIỂN ĐỘNG
(Rough Sea)
Oil on canvas, 18x24 in. (47x61cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
**



ÁO TRÙNG DƯƠNG
(?)
Oil on canvas
24x30 inch (61x76 cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
**



SỐNG SÓT
(The Survivors)
Oil on canvas, 22x28 in. (56x71cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh

Đôi điều về bức tranh

Có người bạn hỏi cảm hứng nào đã giúp vẽ bức tranh vượt biển này. Xin thưa ngay đó chính là ngày 30 tháng tư. Ngày mà "nếu chiếc cột đèn có chân cũng sẽ ra đi". 30 tháng tư, như lời phát biểu rất đúng đã thở thành quen thuộc trong dân gian "Ngày bỏ phiếu bằng chân" vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.

Trong bài viết "Tỉnh Thức Trên Mặt Trận Tri Thức" của tác giả Trần Thị Hồng Sương, có một đoạn ghi lại một sự thực mà người Việt Nam và đặc biệt những thuyền nhân Việt Nam sẽ nhớ mãi, đó là đoạn nói về những kẻ lầm lạc tin vào sự thành tâm của những người tạo ra phong trào cộng sản

"Ngày 20 tháng Sáu năm 1979, Sartre và Aron cùng hiện diện ở khách sạn Lutétia để kêu gọi ủng hộ sáng kiến cứu hộ “thuyền nhân” Việt Nam, tổ chức “con tàu cho Việt Nam” để tìm kiếm cứu vớt những người vượt biển tìm tự do đang lênh đênh đối mặt với sống chết trên biển Đông. Hai kẻ đối đầu tri thức suốt ba mươi năm đã hòa giải trước một sự thật cả hai đều phải công nhận và cùng nhau tranh đấu cho quyền của con người. Chừng nào trí thức trong và ngoài đảng CSVN mới có cuộc hội ngộ tư tưởng đẹp như biểu tượng thời đại giữa Aron và Jean Paul Sartre?"

Bộ máy kềm kẹp tư tưởng của Đảng Cộng Sản VN rêu rao rằng thuyền nhân chỉ là những người hốt hoảng bỏ chạy theo đế quốc Mỹ. Nhưng sự kiện đoàn người tiếp tục trốn bỏ chế độ cộng sản những năm sau ngày 30 tháng tư 1975 thì bộ máy tuyên truyền cộng sản không giải thích được mà phải để mặc cho thế giới thấy rằng chế độ CS không bao giờ thuận lòng dân.

Không còn cách nào khác để ngụy biện Đảng CSVN đã làm những việc vừa khôi hài vừa phản tác dụng như việc dùng ngoại giao ép buộc chính quyền các nước láng giềng phá bỏ các vết tích thuyền nhân đã để lại trên nước họ. Khi nhìn lại bức hình chụp một tượng đài kỷ niệm bị đục bỏ, tôi bỗng có ý làm một cái gì đó để góp phần thay thế tượng đài đã bị phá sập. Đó là lý do chính khiến bức tranh "Sống Sót" có mặt hôm nay trên Diễn Đàn này.

A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
**


ĐÊM XUỐNG TRÊN ĐẠI DƯƠNG
(Oceano Nox)
Oil on canvas
24x30 inch (61x76 cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
**


MỘT CHÚT NẮNG
(A Bit of Sun)
Oil on canvas
24x36 inch (61x91.5cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
**


TỰ DO CẬN KỀ - Freedom is nearby

24x30 inch (61x76 cm)
Oil on canvas
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
**
Có những địa danh xa xăm ở các nước đông Nam Á bỗng trở nên quen thuộc với các nước phương Tây vào cuối thế kỷ vừa qua. Sikiew, Galang, Palawan, Pulau Bidong...  vì đó là những nơi tạm giữ những thuyền nhân đến từ Việt Nam. Tất nhiên đó là Việt Nam do Đảng Cộng Sản thống trị. Cuộc chiến thắng của CS vào ngày 30.4.1975 có vẻ như càng lồng lộng bao nhiêu thì cuộc trốn thoát ồ ạt của người dân trốn bỏ chế đội cộng sản lại càng ê chề cho chế độ mới ở Việt Nam bấy nhiêu.

Có những sự thật hiển nhiên mà vì không muốn chấp nhận nên cố gắng chối bỏ, bóp méo, che đậy lâu ngày khiến lương tri  trở nên mờ mịt  không còn nhận ra đó là sự thật nữa. Nhưng sự thật mãi mãi vẫn là sự thật.

Hơn một triệu người bất chấp nguy hiểm tìm mọi cách chạy trốn cái tự nhận là thiên đường trần gian. Riêng Bidong - một đảo hoang thuộc Mã Lai - đã tiếp nhận gần 250.000 thuyền nhân kể từ năm 1978 cho đến ngày đóng cửa. Bidong hôm qua đã là ngưỡng cửa bước tới Tư Do. Hôm nay Bidong vẫn còn mang dấu ấn những cuộc hành trình bi hùng. Và ngày mai lịch sử sẽ ghi rằng vào thời đó đã có một chế độ tham tàn ở Nước Việt khi nói đến địa danh Bidong.

Để chúng ta cùng ôn lại một chặng đường phiêu bạt, xin gửi đến quý anh chị, đặc biệt những người vượt thoát bằng đường biển, bức tranh "Ngưỡng Cửa Tự Do" (Freedom Doorstep) vẽ ra do một đài tưởng niệm ở Bidong gợi hứng.

A.C.La
***


TRIỀU DÂNG
(At High Tide)
Oil on canvas
24x36 inch (61x91.5cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
**


HOÀNG HÔN BÃI VẮNG
(Sunset on vacant beach)
Oil on canvas - 29x53 in. (73.5x134.5cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
**


THÌ THẦM VỚI BIỂN
(Murmuring to the Sea)
Oil on canvas - 18x24 inch (51x61 cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
**

Tôi ngoại tình

Tiết trời đã vào đông từ lâu. Tuyết đã trắng xóa trên đỉnh non đồng ruộng, ấy thế mà tâm tư lại hướng về chốn biển cả mênh mông, về nơi có mồ hôi nhễ nhại và sóng vỗ trên ghềnh đá. Sống ở Miền Nam gần 30 năm thì cũng đã sống ngót nghét 30 năm nơi quê hương thứ hai này. Tám lạng nửa cân chứ đâu ít. Hay tại càng lớn tuồi càng muốn sống với kỷ niệm. Thất bại lúc nào cũng có, nhưng khi xẩy ra trong hiện tại nó đẩy người ta tìm về ẩn náu nơi quá khứ chăng?

Thuở thiếu thời những vui đùa gắn liền với biển. Núi đá, sóng biển, bãi cát bàng bạc trong kỷ niệm. Gió biển mang theo mùi muối mặn như đã thấm vào da thịt mình. Tiếng sóng vỗ ầm ì dội vách đá khiến lòng người xôn xao, hay rì rào đổ trên bãi cát thật gần nhưng sao nghe xa vắng.

Hỡi người tình đã in trên vách đá. Hãy vui với biển. Sóng biển mãi còn đó để chiều chuộng nàng, để mơn trớn nâng niu đôi chân ngà ngọc đến nghìn thu.

A.C.La


BIỂN RIÊNG EM
(My Own Sea)
Oil on canvas
30x40 inch (102x76 cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
**

**

**


CÒN TIẾP


Home



Subpages (1): Hoang Dã - Nature
Comments