Biotech club‎ > ‎

Giáo trình

DANH MỤC GIÁO TRÌNH ĐIỆN TỬ TRONG BỘ SƯU TẬP SỐ nguồn đại học nông nghiệp Hà Nội

đăng 01:08, 17 thg 6, 2010 bởi Huy Hoàng Nguyễn

DANH MỤC GIÁO TRÌNH ĐIỆN TỬ TRONG BỘ SƯU TẬP SỐ

PHẦN NÔNG HỌC
                                                                                                                                                                         (Quay lại trang chính)

Nhan đề:  Bệnh cây chuyên khoa  
Tác giả:  Vũ Triệu Mân
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học khối Nông Lâm Ngư
Số trang:  0
   Xem chi tiết
    gtbenhcaychuyenkhoa.pdf

 

Nhan đề:  Bệnh cây đại cương  
Tác giả:  Vũ Triệu Mân
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    gtbenhcaydaicuong.pdf
   
   
Nhan đề:  Khí tượng Nông nghiệp  
Tác giả:  Đoàn Văn Điếm
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    mucluckhituong.htm
   
   
Nhan đề:  Sinh thái học Nông nghiệp  
Tác giả:  Trần Đức Viên
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học, Cao đẳng sư phạm
   Xem chi tiết
    sthnn.htm
   
   
Nhan đề:  Côn trùng học đại cương  
Tác giả:  Nguyễn Viết Tùng
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    GTConTrungHocDaicuong.pdf
   
   
Nhan đề:  Sản xuất giống và Công nghệ hạt giống  
Tác giả:  Vũ Văn Liết
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học khối Nông Lâm Ngư
    SanXuatHatGiong_CNhatGiong.pdf
   
   
Nhan đề:  Sinh lý Thực vật  
Tác giả:  Hoàng Minh Tấn
Nguyễn Quang Thạch
Nguyễn Quang sáng
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường ĐH, CĐ ngành Nông Lâm Ngư và Sinh học
    GTSinhLyThucVat.pdf
   
   
Nhan đề:  Sinh lý Thực vật ứng dụng  
Tác giả:  Vũ Quang Sáng
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường ĐH, CĐ khối Nông Lâm
   Xem chi tiết
    GTSinhLyThucVatUngDung.pdf
   
   
Nhan đề:  Côn trùng Nông nghiệp  
Tác giả:  Nguyễn Đức Khiêm
Mô tả:  Giáo trình dùng trong các trường ĐH & CĐ khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    GTConTrungNongNghiep.pdf
   
   
Nhan đề:  Thiết kế thí nghiệm và xử lý kết quả bằng phần mềm thống kê IRRISTAT  
Tác giả:  Phạm Tiến Dũng
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường ĐH, CĐ khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    GTPhanTichThiNghiemBangIRRISTAT.pdf
   
   
Nhan đề:  Chọn giống cây trồng  
Tác giả:  Vũ Đình Hoà
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường ĐH, CĐ khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    GTChonGiongCayTrongHUA.pdf
   
   
Nhan đề:  Dịch học bảo vệ thực vật  
Tác giả:  Hà Quang Hùng
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường ĐH, CĐ khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    GTDichHocBVTV.pdf
   
Nhan đề:  Động vật hại Nông nghiệp  
Tác giả:  Nguyễn Văn Đĩnh
Mô tả:  Giáo trình dùng cho hệ Sau đại học các trường Đại học Khối Nông Lâm
   Xem chi tiết
    gt_dongvathainn.pdf
   
   
Nhan đề:  Phương pháp thí nghiệm  
Tác giả:  Nguyễn Thị Lan
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    gtphuongphapthinghiem.pdf

 

Nhan đề:  Biện pháp sinh học trong Bảo vệ thực vật  
Tác giả:  Nguyễn Văn Đĩnh
Mô tả:  Giáo trình dùng cho sinh viên trường Đại học khối Nông Lâm
   Xem chi tiết
    GTBienPhapSinhHocBVTV.pdf
   
   
Nhan đề:  Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật  
Tác giả:  Nguyễn Trần Oánh
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường ĐH, CĐ Khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    GTSuDungThuocBVTV.pdf
   
   
Nhan đề:  Quỹ Gen và bảo tồn quỹ gen thực vật  
Tác giả:  Vũ Văn Liết
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học khối Nông Lâm
   Xem chi tiết
    gtquygen_baotonquygen.pdf
   
   
Nhan đề:  Cây Đậu tương  
Tác giả:  Trần Văn Điền
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học khối Nông Lâm
   Xem chi tiết
    cay_dau_tuong.pdf
   
   
Nhan đề:  Công nghệ sinh học thực vật  
Tác giả:  Mai Xuân Lương
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học
   Xem chi tiết
    congnghesinhhocthucvat.pdf
   
   
Nhan đề:  Côn trùng nông nghiệp - Phần B: Côn trùng gây hại cây trồng chính ở đồng bằng Sông Cửu Long  
Tác giả:  Nguyễn Văn Huỳnh
Lê Thị Sen
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học khối Nông Lâm
   Xem chi tiết
    contrungnongnghiep_ct.pdf
   
   
Nhan đề:  Cây hoa  
Tác giả:  Đào Thanh Vân
Đặng Thị Tố Nga
Mô tả:  Giáo trình
    giaotrinh_cayhoa.pdf
   
   
Nhan đề:  Tiếng Anh cho sinh viên ngành Nông học  
Tác giả:  Nguyễn Trung Tính
Mô tả:  Giáo trình dùng cho sinh viên trường Đại học khối Nông Lâm
   Xem chi tiết
    tienganhchuyennganhnonghoc.pdf
   
Nhan đề:  Di truyền số lượng - Giáo trình Cao học  
Tác giả:  Bùi Chí Bửu
Nguyễn Thị Lang
Mô tả:  Giáo trình Cao học dùng cho các trường ĐH khối Nông Lâm
   Xem chi tiết
    gtditruyensoluong.pdf
   
Nhan đề:  Giáo trình Bệnh cây chuyên khoa  
Tác giả:  Võ Thanh Hoàng
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    bcck.htm
   
   
Nhan đề:  Côn trùng Nông nghiệp - SÂU HẠI CÂY TRỒNG CHÍNH Ở ÐBSCL  
Tác giả:  Nguyễn Văn Huỳnh
Mô tả:  Bài giảng dùng trong các trường Đại học khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    bgct.htm
   
   
Nhan đề:  Chọn giống cây trồng nông nghiệp  
Tác giả:  Trần Thượng Tuấn
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    cgct.htm
   
   
Nhan đề:  CÁC NGUYÊN LÝ VỀ BỆNH HẠI CÂY TRỒNG  
Tác giả:  Phạm Văn Kim
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    gtbc.htm
   
   
Nhan đề:  Thực tập Hình thái giải phẫu thực vật  
Tác giả:  HÀ THỊ LỆ ÁNH
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    hinhthaigiaiphautv.pdf
   
   
Nhan đề:  Xử lý ra hoa cho cây ăn quả  
Tác giả:  TRẦN VĂN HẬU
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    XuLyRaHoa.pdf
   
   
Nhan đề:  Bảo vệ thực vật  
Tác giả:  Bùi Cách Tuyến
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường ĐH Khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    baovethucvat.pdf
   
Nhan đề:  Cơ sở di truyền học  
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học khối nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    cosoditruyen.pdf
   
   
Nhan đề:  Chọn giống cây trồng  
Mô tả:  Bài giảng tóm tắt
   Xem chi tiết
    gtchongiongcaytrong.pdf
   
   
Nhan đề:  Phân loại thực vật  
Tác giả:  Đặng Minh Quân
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học khối Nông Lâm
   Xem chi tiết
    gtpltv.pdf
   
   
Nhan đề:  Công nghệ DNA tái tổ hợp - Kỹ thuật Gen  
Tác giả:  Nguyễn Hoàng Lộc
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học kỹ thuật
   Xem chi tiết
    CongNgheDNAtaitohop.pdf
   
   
Nhan đề:  Công nghệ Nuôi cấy mô và tế bào thực vật  
Tác giả:  Lê Văn Hoàng
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học kỹ thuật
   Xem chi tiết
    GTNuoicaymotebaoTV.pdf
   
   
Nhan đề:  Khuyến nông  
Tác giả:  Nguyễn Văn Long
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường ĐH, CĐ khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    GTKhuyenNong.pdf
   
   
Nhan đề:  Nhập môn Công nghệ Sinh học  
Tác giả:  Nguyễn Hoàng Lộc
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường ĐH, CĐ ngành Nông Lâm Ngư và Sinh học
   Xem chi tiết
    GTNhapMonCNSH.pdf
   
   

Nhan đề:

 Bài giảng bệnh cây đại cương - Các bệnh do dinh dưỡng và các độc chất

 

 

 

 

 

 

Tác giả:

 Võ Thanh Hùng
Nguyễn Văn Tuyền

Mô tả:

 Bài giảng cho sinh viên các trường ĐH Khối Nông Lâm

 

 Xem chi tiết

    BaiGiangBenhCayDaiCuong.pdf
Nhan đề:  Tiếng Anh cho sinh viên ngành Thổ nhưỡng và môi trường đất  
Tác giả:  Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Mô tả:  Giáo trình dùng cho sinh viên trường Đại học khối Nông Lâm
   Xem chi tiết
    tienganhchuyennganhthonhuong_mtdat.pdf
   

PHẦN CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Nhan đề:  Di truyền số lượng  
Tác giả:  Bùi Chí Bửu
Mô tả:  Giáo trình dùng cho hệ Sau đại học các trường Đại học khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    gtdtsl_buu.htm
   
   
Nhan đề:  Xử lý ra hoa cho cây ăn quả  
Tác giả:  TRẦN VĂN HẬU
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học khối Nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    XuLyRaHoa.pdf
   
   
Nhan đề:  Cơ sở di truyền học  
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học khối nông Lâm Ngư
   Xem chi tiết
    cosoditruyen.pdf
   
   
Nhan đề:  Công nghệ Protein  
Tác giả:  Cao Đăng Nguyên
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học
   Xem chi tiết
    gtcnprotein.pdf
   
   
Nhan đề:  Công nghệ DNA tái tổ hợp - Kỹ thuật gen  
Tác giả:  Nguyễn Hoàng Lộc
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học kỹ thuật
   Xem chi tiết
    CongNgheDNAtaitohop.pdf
   
   
Nhan đề:  Công nghệ Nuôi cấy mô và tế bào thực vật  
Tác giả:  Lê Văn Hoàng
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học kỹ thuật
   Xem chi tiết
    GTNuoicaymotebaoTV.pdf
   
   
Nhan đề:  Công nghệ sinh học môi trường  
Tác giả:  Lê Phi Nga
Mô tả:  Bài giảng PowePoint cho Cao học ngành môi trường
   Xem chi tiết
    CNSH_MoiTruong.pdf
   
   
Nhan đề:  Nhập môn Công nghệ Sinh học  
Tác giả:  Nguyễn Hoàng Lộc
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường ĐH, CĐ ngành Nông Lâm Ngư và Sinh học
   Xem chi tiết
    GTNhapMonCNSH.pdf
   
   
Nhan đề:  Các quá trình và thiết bị Công nghệ sinh học trong công nghiệp  
Tác giả:  Lê Văn Hoàng
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường ĐH, CĐ Kỹ thuật
   Xem chi tiết
    ThietbiCNSinhHoc.pdf
   
   
Nhan đề:  Kỹ thuật cơ bản trong Sinh học phân tử  
Tác giả:  Phạm Hồng Sơn
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học
   Xem chi tiết
    GTKyThuatCoBan_SinhHocPhanTu.pdf
   
   
Nhan đề:  Công nghệ sinh học thực vật  
Tác giả:  Mai Xuân Lương
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học
   Xem chi tiết
    congnghesinhhocthucvat.pdf
   
   
Nhan đề:  Hoạt tính Vi sinh vật Đất  
Tác giả:  Bạch Phương Lan
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học
   Xem chi tiết
    hoattinhvisinhvatdat.pdf
   
   
Nhan đề:  Công nghệ chuyển Gen (Động vật, Thực vật)  
Tác giả:  Trần Quốc Dung
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học
   Xem chi tiết
    cong_nghe_chuyen_gen.pdf
   
   
Nhan đề:  Kỹ thuật cơ bản trong sinh học phân tử  
Tác giả:  Phạm Hồng Sơn
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học
   Xem chi tiết
    ky_thuat_co_ban_trong_sinh_hoc_phan_tu.pdf
   
   
Nhan đề:  Một số vấn đề của sinh học phân tử  
Tác giả:  Võ Thị Hương Lan
Mô tả:  Giáo trình dùng cho các trường Đại học
   Xem chi tiết
    motsovandecuasinhhocphantu.pdf
   
Nhan đề:  Sinh học phân tử màng tế bào - Tập 1  
Tác giả:  Đỗ Ngọc Liên
Mô tả:  Giáo trình
   Xem chi tiết
    sinhhocmangtebaotap1.pdf
   
   
Nhan đề:  Tiếng Anh chuyên ngành công nghệ Hoá học, công nghệ thực phẩm và công nghệ sinh học  
Tác giả:  Nguyễn Thị Hiền
Mô tả:  Sách chuyên khảo
   Xem chi tiết
    tienganhtronghoa_thucpham.pdf
   

hình ảnh dùng để làm báo cáo.

đăng 01:08, 17 thg 6, 2010 bởi Huy Hoàng Nguyễn

hãy sử dụng một phần hình ảnh này cho bao cáo của bạn. Còn lại hãy dung usb để tải vì dung lượng khá lớn, tải lên như thê này không phải là dễ. xin lỗi các bạn.

download tại đây

Chương 2 môn vi sinh ứng dụng của cô Mỹ

đăng 09:35, 6 thg 4, 2010 bởi Huy Hoàng Nguyễn

NHÓM MÁU VÀ TRUYỀN MÁU

đăng 01:48, 2 thg 4, 2010 bởi Huy Hoàng Nguyễn

1.  NHÓM MÁU.
Sự hiểu biết về kháng nguyên nhóm máu là vô cùng cần thiết cho công tác truyền máu. Truyền máu đã được áp dụng từ lâu trong cấp cứu và điều trị. Khi truyền máu đã gặp nhiều tai biến rất nguy hiểm, mặc dù truyền máu lần đầu.
 Ngày nay chúng ta đã hiểu rằng nguyên nhân tai biến là do sự có mặt cuả kháng thể tự nhiên trong cơ thể. Các kháng thể này chống lại các kháng nguyên với tính miễn dịch cao có trên bề mặt hồng cầu.
 Trên bề mặt hồng cầu người có nhiều kháng nguyên khác nhau người ta đã tìm được khoảng 30 kháng nguyên thường gặp và hàng trăm kháng nguyên khác nhưng đều là kháng nguyên có tính miễn dịch yếu, thường chỉ dùng để nghiên cứu gen. Các kháng nguyên xếp thành hệ thống các nhóm máu AB0, Rh, Lewis, MNSs, P, Kell, Lutheran, Duffy, Kidd... Trong số này có hai hệ thống nhóm máu AB0 và Rh đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong truyền maú.
1.1. Hệ thống nhóm máu AB0.
Năm 1901, Landsteiner phát hiện ra hiện tượng: huyết thanh của người này làm ngưng kết hồng cầu của người kia và ngược lại. Sau đó nguời ta đã tìm được kháng nguyên A và kháng nguyên B, kháng thể a( chống A) và kháng thể b
( chống B).
Kháng nguyên A và B có mặt trên màng hồng cầu; kháng thể  ab có mặt trong huyết tương. Kháng thể a sẽ làm ngưng kết hồng cầu mang kháng nguyên A, kháng thể b
sẽ làm ngưng kết hồng cầu mang kháng nguyên B.
Do cơ thể có trạng thái dung nạp với kháng nguyên bản thân, nên trong huyết tương không bao gời có kháng thể chống lại kháng nguyên có trên bề mặt hồng cầu của chính cơ thể đó. Từ đó hệ thống nhóm máu ABO được chia làm 4 nhóm: nhóm A, nhóm B, nhóm AB và nhóm O. Ký hiệu nhóm máu biểu thị sự có mặt của kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu.
Cơ thể nhóm máu A có kháng nguyên A trên bề mặt hồng cầu và có kháng thể b
(chống B) trong huyết tương .
Cơ thể nhóm máu B có kháng nguyên B trên bề mặt hồng cầu và có kháng thể a
(chống A) trong huyết tương
Cơ thể nhóm máu AB có kháng nguyên A và B trên bề mặt hồng cầu và không có kháng thể  ab
trong  huyết tương.
Cơ thể nhóm máu 0 không có kháng nguyên Avà B trên bề mặt hồng cầu, trong huyết tương có cả kháng thể ab
.
Người ta cũng biết rằng các kháng thể ab
là những kháng thể xuất hiện tự nhiên trong huyết thanh. Sự phân bố các kháng nguyên, kháng thể thuộc hệ thống nhóm máu AB0 như sau:
Genotypes
Nhóm máu
Kháng nguyên
Kháng thể
Tỷ Lệ %
Người da trắng
Người  Việt
00
0A hoặcAA
0B hoặc BB
AB
0
A
B
AB
-
A
B
A và B
ab
b
a
-
47
41
9
3
43
21,5
29,5
6
 Nhóm A được chia thành hai phân nhóm A1 và A2. Vì vậy số lượng nhóm máu đã trở thành 6 nhóm: A1, A2, B, A1B, A2B và 0. Một số người có kháng nguyên A1, có kháng thể chống A2. Một số người có kháng nguyên A2, có kháng thể chống A1. Các kháng thể này yếu nên ít gây nguy hiểm, nhưng trong thực tế có thể gây tai biến nghiêm trọng khi truyền nhóm máu A2 nhầm tưởng là nhóm máu 0 và nhóm máu A2B nhầm tưởng là nhóm B cho bệnh nhân nhóm máu B.
Các kháng nguyên thuộc hệ ABO do một locus kiểm soát với 3 alen AB0 trong đó A và B là trội. Việc phát hiện ra cấu trúc kháng nguyên nhóm máu thuộc hệ AB0 đã làm thay đổi quan niệm trước đây cho rằng: kháng nguyên A là sản phẩm trực tiếp của gen A, kháng nguyên B là sản phẩm trực tiếp của gen B. Người ta cho rằng tham gia hình thành kháng nguyên nhóm máu trong hệ AB0 có các hệ gen Hh và hệ thống gen AB0. Các hệ thống gen này di truyền độc lập. Người có nhóm máu 0 chỉ có gen H mà không có gen A và B nên không có enzym biến chất H thành kháng nguyên A hoặc B, do đó chỉ có chất H chiếm toàn bộ bề mặt hồng cầu. Người có nhóm máu A có cả gen H và gen A nên có enzym biến chất H thành kháng nguyên A do đó trên bề mặt hồng cầu có cả chất H và cả kháng nguyên A. Với sự giải thích tương tự, người có nhóm máu B, trên bề mặt hồng cầu có cả chất H và kháng nguyên B. Người có nhóm máu AB, trên bề mặt hồng cầu có cả chất H, kháng nguyên A và kháng nguyên B.
Đại bộ phận người là có gen H. Một số ít người không có gen H (cơ thể đồng hợp tử hh), không có chất H trên bề mặt hồng cầu. Người không có gen H, dù có gen A hoặc gen B thì cũng không có kháng nguyên A hoặc kháng nguyên B, vì các kháng nguyên này chỉ xuất hiện từ chất H. Khi thử máu bằng kỹ thuật ngưng kết, người không có gen H đều được ghi nhận là nhóm máu O, nhưng họ (cơ thể đồng hợp tử hh) có thể tạo ra kháng thể chống H khi truyền máu của người nhóm máu O thật sự (có chất H) vì thế có thể gây tai biến. Người có nhóm máu này được gọi là nhóm máu O Bombay.
Đa số người (80%), kháng nguyên nhóm máu còn có mặt trong các dịch tiết: nước bọt, dịch vị...
Ngay sau khi ra đời, kháng thể có nồng độ rất thấp. Từ tháng thứ 2 trở đi, kháng thể tăng dần lên và cao nhất từ 8 -10 tuổi, sau đó giảm dần trở về bình thường ở tuổi trưởng thành rồi giảm dần theo tuổi tác. Kháng thể là g
globulin, hầu hết là IgM, sau đó là IgG. Giống các kháng thể miễn dịch khác IgM và IgG cũng do các lympho bào sản xuất.
1.2. Hệ thống nhóm máu Rh.
Năm 1940 Landsteiner và Wiener nhận thấy: nếu lấy hồng cầu khỉ Macacus Rhesus gây miễn dịch cho thỏ thì huyết thanh miễn dịch thỏ ngoài việc gây ngưng kết hồng cầu khỉ còn gây ngưng kết hồng cầu người. Lúc đầu xếp những người có hồng cầu bị ngưng kết bởi huyết thanh này vào nhóm Rh+ những người có hồng cầu không bị ngưng kết vào nhóm  Rh-. Nhưng sau này thấy hệ thống kháng nguyên Rh không đơn giản như vậy. Trong hệ thống Rh có nhiều kháng nguyên, phần lớn chúng có tính phản ứng chéo và sinh miễn dịch yếu. Do đó kháng thể không gây ngưng kết mạnh như hệ thống AB0.
Kháng nguyên hệ Rh phân bố thưa thớt trên bề mặt hồng cầu. Có 3 loại kháng nguyên chính: kháng nguyên D (Rh0), kháng nguyên C (Rh'), kháng nguyên E (Rh''). Chỉ có kháng nguyên D có tính kháng nguyên mạnh và có tính sinh miễn dịch cao. Vì vậy khi có kháng nguyên D thì được gọi là Rh+. Những nhóm máu khác thuộc hệ Rh đều có tính kháng nguyên rất yếu, ít được chú ý như Rh1, Rh2, Rhz, Rhy, rh. Tỷ lệ Rh+ của người da trắng là 85%, người Mỹ da đen là 95%, người Phi da đen là 100%, người Việt là 99,92%. Nói một cách khác là tỷ lệ Rh- của người Việt là 0,08% gần như không đáng kể.
Kháng nguyên hệ thống nhóm máu Rh là di truyền, còn kháng thể chống Rh chỉ xuất hiện ở cơ thể Rh-  khi được miễn dịch bằng hồng cầu có kháng nguyên D (Rh+ ). Kháng thể này thường là IgG. Nếu một người Rh- , chưa hề được truyền máu Rh+ bao giờ thì việc truyền máu Rh+ cho họ sẽ không bao giờ xảy ra phản ứng tức thì nào. Tuy nhiên sau khi truyền máu Rh+ từ 2-4 tuần sau, lượng kháng thể chống Rh đã tương đối cao đủ để gây ngưng kết hồng cầu Rh+ của người cho vẫn tồn tại trong máu người nhận. Phản ứng này chậm và rất nhẹ. Sau 2-4 tháng truyền máu Rh+, nồng độ kháng thể chống Rh trong máu người Rh- mới đạt tối đa. Nếu truyền máu Rh+ cho những người này ở lần thứ 2, có thể gây ra tai biến truyền máu nặng, chẳng kém gì tai biến như hệ AB0. Sau vài lần truyền máu Rh+ cho người Rh-, người Rh- trở nên rất mẫn cảm với kháng nguyên Rh, tai biến khi truyền máu là cực kỳ nguy hiểm. Đó là lý do tại sao ta phải cần lưu ý tới người đã được truyền máu nhiều lần. Cần phải xác định nhóm máu hệ Rh cho họ, sợ rằng họ là người Rh-.
Trường hợp thứ hai là người mẹ Rh-, bố Rh+. Đứa trẻ được di truyền Rh+ từ bố. Hồng cầu Rh+ của thai và sản phẩm phân huỷ hồng cầu Rh+ của thai sang máu mẹ. Người mẹ sẽ có quá trình tạo kháng thể chống Rh, các kháng thể này qua nhau thai làm ngưng kết hồng cầu thai. Nếu người mẹ có thai lần đầu thì cơ thể người mẹ chưa sản xuất đủ kháng thể để gây nguy hiểm cho thai nhi. Khoảng 30% số thai thứ hai Rh+ có triệu chứng tăng nguyên hồng cầu bào thai, vàng da huỷ huyết và tỷ lệ mắc bệnh tăng dần lên và triệu chứng bệnh cũng nặng hơn cho những thai sau.
Nhiều người bố Rh+ dị hợp tử, do đó có khoảng 25% số con cái là Rh-. Vì vậy sau khi đẻ đứa con trước bị vàng da huỷ huyết, tăng nguyên hồng cầu, không nhất thiết đứa trẻ sau cũng bị bệnh này. Những đứa trẻ mắc bệnh tăng nguyên hồng cầu bào thai thấy các mô sinh máu đều tăng sinh hồng cầu; gan, lách to ra và sản xuất hồng cầu kỳ bào thai. Hồng cầu này xuất hiện nhiều trong máu. Trẻ thường chết do thiếu máu nặng. Nếu sống sót trẻ thường thiếu trí tuệ, tổn thương vỏ não vận động do lắng đọng bilirubin trong các neuron. Cũng có thể kháng thể chống Rh còn tấn công một số tế bào khác của cơ thể.
Trường hợp thứ hai mà ta cần lưu ý trên đây chính là người phụ nữ có tiền sử sảy thai, đẻ non, đẻ con có tăng nguyên hồng cầu bào thai, vàng da huỷ huyết. Những người này nếu cần truyền máu, phải xét nghiệm nhóm máu Rh. Người ta sợ rằng người mẹ này máu Rh- và trong máu đã có kháng thể chống Rh. Nếu truyền máu Rh+ cho họ thì sẽ có tai biến rất nguy hiểm xảy ra.
1.3. Các hệ thống nhóm máu khác.
Trong các hệ thống nhóm máu còn lại thì hệ Kell chiếm vị trí hàng đầu. Kháng nguyên Kell rất nguy hiểm. Năm 1947 người ta đã phát hiện tai nạn do kháng nguyên này gây ra, từ đó về sau tai nạn do kháng nguyên này vẫn được theo dõi.
Kháng nguyên Fya thuộc hệ Duffy cũng được quan tâm. 1950 lần đầu tiên Mollison phát hiện kháng thể chống Fya trong huyết tương bệnh nhân bị tan máu được truyền máu nhiều lần. Trong vòng 20 năm đó người ta đã miêu tả nhiều trường hợp tương tự. Năm 1951 có một tai biến chết người do Fya.
Kháng nguyên S thuộc hệ MNSs có thể gây ra miễn dịch sau truyền máu và xuất hiện tai nạn tan máu.  
Những kháng thể lạnh đặc hiệu tự nhiên như kháng thể chống Lea , Leb (thuộc hệ Lewis), M, N, P chỉ gây ra phản ứng ở một nhiệt độ nhất định và không nguy hiểm.
2. TRUYỀN MÁU.
Trong thực hành truyền máu, ngoài những qui định về những xét nghiệm phát hiện các virut lây theo đường máu, về kỹ thuật bảo quản... chúng ta cần phải thực hiện đúng qui tắc về nhóm máu, qui tắc cơ bản là: không để kháng nguyên và kháng thể tương ứng gặp nhau trong máu người nhận. Đối với hệ thống nhóm máu ABO, thoả mãn qui tắc trên là phải truyền cùng nhóm.
 Dựa vào kháng thể đã biết của huyết thanh mẫu (antiA, antiB, antiAB) người ta xác định chính xác kháng nguyên A và B trên bề mặt hồng cầu. Đồng thời với việc xác định nhóm máu thuộc hệ ABO, cần phải làm các phản ứng chéo: trộn hồng cầu người cho với huyết thanh máu người nhận và ngược lại trộn hồng cầu người nhận với huyết thanh máu người cho. Các phản ứng trên không có hiện tượng ngưng kết hồng cầu thì máu đó mới được truyền.
Có một số tác giả đề nghị rằng, để đảm bảo an toàn tuyệt đối, tốt nhất là truyền máu tự thân. Đối tượng được lấy máu lúc khoẻ mạnh và được bảo quản trong ngân hàng, khi cần thì lấy chính máu của họ truyền cho họ. Hiện nay chưa có điều kiện ký thuật để bảo quản máu được lâu (đặc biệt là các nước đang phát triển) cho nên điều này chưa thực hiện được. Để khắc phục tai biến truyền máu và tình trạng lây nhiễm bệnh qua truyền máu, các nhà khoa học đã nghiên cứu sản xuất ra máu nhân tạo để làm dịch truyền thay thế máu. Song phạm vi ứng dụng máu nhân tạo chưa được rộng rãi vì giá thành còn quá đắt.
Trong trường hợp cần truyền máu mà lại không có máu cùng nhóm, người ta có thể truyền theo một qui tắc tối thiểu: không để xảy ra ngưng kết hồng cầu của người cho trong máu của người nhận. Nếu để xảy ra tai biến này thì chỉ cần truyền nhầm 2ml máu đã có thể gây chết người do tắc mạch, rối loạn trao đổi khí của máu, tan máu, suy thận cấp... Như vậy có thể truyền máu khác nhóm, nhưng bắt buộc phải theo sơ đồ sau:
Hình ảnh từ www.benhhoc.com
                     
Nhóm O truyền được cho nhóm A,B và AB. Nhóm A và B truyền được cho nhóm AB. Nhóm AB không truyền được cho nhóm O, A và B. Trong trường hợp truyền máu khác nhóm như vậy, chỉ được truyền khoảng 250ml máu (một đơn vị máu), với tốc độ rất chậm. Tai biến do truyền máu rất khó xảy ra vì kháng thể trong máu người cho ngay lập tức bị pha loãng trong máu của người nhận do đó nồng độ kháng thể rất thấp. Các kháng thể này sau đó sẽ bị các enzym phân giải. Tuy vậy, ngày nay nhờ sự hiến máu nhân đạo được phổ cập nên sự truyền máu theo qui tắc tối thiểu ít được ứng dụng.
Đối với hệ thống Rh, kháng thể chống Rh chỉ hình thành ở người Rh- khi được miễn dịch bằng hồng cầu Rh+. Tỷ lệ Rh- của người Việt lại rất thấp, cho nên thực tế người ta chú ý hai trường hợp cần xét nghiệm nhóm máu hệ Rh đó là người đã được truyền máu nhiều lần và người phụ nữ có tiền sử xảy thai, đẻ non, đẻ con có hội chứng vàng da huỷ huyết. Việc xét nghiệm nóm máu hệ Rh cũng dựa trên kháng thể của huyết thanh mẫu để tìm kháng nguyên. Nếu người cần được truyền máu là Rh+ thì truyền máu Rh+ hoặc Rh- đều được. Nếu người cần được truyền máu là máu Rh- thì nhất thiết phải được truyền máu là Rh-.
SỰ RỐI LOẠN CƠ CHẾ CẦM MÁU.
Cầm máu là một cơ chế rất phức tạp, cho nên những rối loạn của cơ chế cầm máu thật sự là những hội chứng gây nhiều trở ngại cho việc chẩn đoán, điều trị của các thầy thuốc. Chúng ta có thể gặp rối loạn cơ chế cầm máu do những nguyên nhân sau.
- Rối loạn chức năng gan sẽ dẫn đến rối loạn cơ chế cầm máu, vì gan là cơ quan hầu như sản xuất toàn bộ các yếu tố gây đông máu và chống đông máu.
- Thiếu hụt vitamin K dẫn đến giảm các yếu tố II, VII, IX và X vì vậy gây rối loạn cơ chế cầm máu.
- Bệnh ưa chảy máu (hemophilia) do thiếu các yếu tố VIII (hemophilia A), yếu tố IX (hemopilia B), yếu tố XI (hemophilia C). Đây là những bệnh di truyền.
- Suy và nhược tuỷ làm giảm tiểu cầu gây rối loạn cơ chế cầm máu.
- Huyết khối.
Cục máu đông hình thành bất thường trong lòng mạch gây nghẽn mạch (thrombus) hoặc cục máu đông hình thành bất thường ở đâu đó trong hệ tuần hoàn rồi bong ra trôi tự do trong lòng mạch tới chỗ mạch nhỏ hơn thì dừng lại và gây tắc mạch tại đó (emboli). Rối loạn cơ chế đông máu gây huyết khối là một bệnh lý nặng nhất là hyết khối tại động mạch vành, động mạch não, động mạch thận, động mạch phổi sau đó là động mạch chi và các cơ quan khác.
Nguyên nhân của huyết khối là bề mặt lớp tế bào nội mô bị xù xì do xơ vữa động mạch, do nhiễm trùng (thấp tim, nhiễm trùng máu), do chấn thương... đã phát động quá trình đông máu. Hiện nay người ta thường dùng catheter để đưa các chất hoạt hoá plasminogen của mô vào vùng huyết khối để điều trị.
- Đông máu rải rác trong lòng mạch máu nhỏ được xuất hiện do rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Khi mô bị chết hoặc tổn thương nó giải phóng thromboplastin vào máu và tạo ra nhiều cục máu đông làm tắc phần lớn các mạch máu nhỏ ngoại vi. Đông máu rải rác còn gặp trong shock nhiễm khuẩn. Vi khuẩn hoặc độc tố của vi khuẩn, nhất là nội độc tố (endotoxin) sẽ hoạt hoá quá trình đông máu gây tắc, nghẽn mạch và đẩy tình trạng shock nặng thêm.
- Nhiễm trùng hoặc nhiễm độc gây huỷ fibrin làm chảy máu. Cũng có nhiều trường hợp bình thường cơ chế cầm máu rất cân bằng nhưng khi có sự can thiệp phẫu thuật vào cơ thể thì rối loạn cơ chế cầm máu mới xuất hiện, gây chảy máu kéo dài.
- Cấu trúc thành mạch bị biến đổi, thành mạch kém bền rất dễ gây chảy máu.
RỐI LOẠN LÂM SÀNG CỦA HỒNG CẦU.
1. Thiếu máu.
Thiếu máu là giảm Hb trong máu dưới mức bình thường. Theo W.H.O người bị thiếu máu là người có hàm lượng Hb máu giảm:
                    < 13gHb trong 100ml máu (đối với nam)
                    < 12g Hb trong 100ml máu (đối với nữ)
                    < 14g Hb trong 100ml máu (đối với trẻ sơ sinh)
Thiếu máu là do mất máu, do máu bị huỷ nhanh hơn trong cơ thể hoặc do tuỷ xương giảm sản xuất.
- Thiếu máu do mất máu cấp tính hoặc mạn tính.
- Thiếu máu do suy nhược tuỷ vì bị nhiễm xạ, nhiễm độc (chất độc hoá học công nghiệp, chiến tranh).
- Thiếu máu do thiếu acid folic, thiếu vitamin B12 hoặc thiếu yếu tố nội vì cắt bỏ dạ dày viêm teo dạ dày, viêm loét dạ dày- tá tràng.
-Thiếu máu do thiếu sắt, do thiểu dưỡng.
- Thiếu máu do thiếu các yếu tố kích thích tăng sinh, tăng trưởng hồng cầu erythropoietin (suy thận, gan mạn tính).
- Thiếu máu do tan máu, do đời sống hồng cầu quá ngắn. Một số bệnh của hồng cầu do màng hồng cầu kém bền dễ vỡ như bệnh thiếu máu có hồng cầu hình lưỡi liềm, bệnh thiếu máu có hồng cầu hình cầu (kích thước hồng cầu rất nhỏ, hình cầu).
2. Đa hồng cầu.
- Đa hồng cầu thứ phát do sống ở vùng núi cao, do suy tim, do bệnh đường hô hấp... đây là đa hồng cầu do thiếu oxy ở các mô.
- Đa hồng cầu thật sự do tuỷ xương tăng sản xuất hồng cầu (có kèm theo tăng bạch cầu và tiểu cầu). Hậu quả là quá tải chức năng tuần hoàn, độ nhớt máu tăng, rối loạn tuần hoàn mao mạch.
 
 

Hãy học bài bằng video sau về nguyên phân và giảm phân

đăng 23:54, 29 thg 3, 2010 bởi Huy Hoàng Nguyễn

 
 
 
 
 
 
 
 
Mitosis (nguyên phân)
 
 
Mitosis (nguyên phân)
 
thông qua đây bạn hãy xem một và bài sau giúp cho mình học tốt môn học này:
Mitosis Ppt Click in here 
 
 
 Trên đây là những file bằng tiếng anh giúp cho các bạn học tốt môn học này trên trường và qua đó giúp các bạn học tốt môn tiếng anh luôn. Hãy thử sức mình hy vọng các bạn có một kết quả học tập tốt hơn ý muốn.
bài tập qua những kiến thức chúng ta đã tích lũy trong các giờ học bạn hãy thử kiểm tra nó bằng hình sau:
Tế bào nào đang ở giai đoạn nào? Chúc bạn thành công.
 
 

một vài video giúp bạn phát triển môn học ở lớp

đăng 23:47, 29 thg 3, 2010 bởi Huy Hoàng Nguyễn

 
 

một số chương trình nghiên cứu nguồn đại học Huế

đăng 00:45, 25 thg 3, 2010 bởi Huy Hoàng Nguyễn

Danh sách Số Tạp chí




▪ Đánh giá khả năng bám dính và kháng khuẩn ở mức độ in vitro của một số chủng vi sinh vật có tiềm năng sử dụng làm Probiotics
- Hồ Lê Quỳnh Châu, Hồ Trung Thông, Nguyễn Thị Khánh Quỳnh, Trần Thị Hoài
- File kèm: 57_1.pdf

▪ Xây dựng cơ sở dữ liệu để phục vụ công tác đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất tại xã Phú Sơn, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Huỳnh Văn Chương, Nguyễn Thế Lân
- File kèm: 57_2.pdf

▪ Cây xanh đô thị ở thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
- Nguyễn Danh, Phan Thị Thanh Thủy
- File kèm: 57_3.pdf

▪ Đánh giá thực trạng sử dụng quỹ đất ở trong các khu quy hoạch dân cư mới trên địa bàn phường An Hòa, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Nguyễn Thị Hải
- File kèm: 57_4.pdf

▪ Thăm dò ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng và phát triển của cây hoa cúc tại thành phố Huế
- Hoàng Thị Thái Hoà, Đỗ Đình Thục
- File kèm: 57_5.pdf

▪ Đặc tính hóa học của một số loại phân hữu cơ và phụ phẩm cây trồng sử dụng trong nông nghiệp trên vùng đất cát biển tỉnh Thừa Thiên Huế
- Hoàng Thị Thái Hòa, Đỗ Đình Thục
- File kèm: 57_6.pdf

▪ Nghiên cứu thiết kế, chế tạo máy đào Lạc
- Phan Hoà, Trần Võ Văn May, Hồ Nhật Phong, Trần Thị Vinh
- File kèm: 57_7.pdf

▪ Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thụ phấn thụ tinh của một số dòng cà chua vụ Xuân hè 2008 tại Thừa Thiên Huế
- Phạm Lê Hoàng, Lê Thị Khánh
- File kèm: 57_8.pdf

▪ Đánh giá và tuyển chọn một số tổ hợp lai Cà chua có triển vọng vụ Đông xuân và Xuân hè tại Thừa Thiên Huế
- Lê Thị Khánh, Phạm Thị Hà
- File kèm: 57_9.pdf

▪ Nghiên cứu nhân giống in vitro hoa mắt mèo (Torenia fournieri L.).
- Trần Thị Lệ
- File kèm: 57_10.pdf

▪ Xác định một số hợp chất và tác dụng bảo vệ của dịch chiết nâm Hoàng chi trên tế bào nấm men khi bị chiếu tia cực tím
- Cao Đăng Nguyên
- File kèm: 57_11.pdf

▪ Nghiên cứu rối loạn nhịp ở bệnh nhân có hội chứng nút xoang bệnh lý bằng Holter điện tim 24 giờ
- Trịnh Hồng Nhựt, Hoàng Viết Thắng, Huỳnh Văn Minh
- File kèm: 57_12.pdf

▪ Đặc điểm sinh trưởng của cá chỉ vàng selaroides leptolepis (cuvier, 1833) ở vùng biển Thừa Thiên Huế
- Võ Văn Phú, Nguyễn Thị Hoàn
- File kèm: 57_13.pdf

▪ Sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn để đánh giá chất lượng môi trường nước ở một số điểm trên sông Bồ, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Võ Văn Phú, Hoàng Đình Trung, Lê Mai Hoàng Thy
- File kèm: 57_14.pdf

▪ Xác định lượng vết chì và asen trong mỹ phẩm và thực phẩm bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử
- Hoàng Trọng Sĩ, Trần Công Dũng
- File kèm:

▪ Phân tích xung đột trong quản lý rừng cộng đồng nhằm đề xuất giải pháp phát triển Nông thôn miền núi bền vững ở huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế
- Dương Viết Tình
- File kèm: 57_16.pdf

▪ Ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng (GA3, IAA, α-NAA) đến sinh trưởng và năng suất rau cải mầm ở Thừa Thiên Huế
- Nguyễn Đình Thi
- File kèm: 57_17.pdf

▪ Nhân một trường hợp Haemophilia A bị gãy xương đùi được phẫu thuật thành công tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế
- Trần Xuân Thịnh, Hồ Khả Cảnh
- File kèm: 57_18.pdf

▪ Năng lượng và nitơ nội sinh và ảnh hưởng của nó đến kết quả xác định giá trị năng lượng trao đổi trong thức ăn của Gà
- Hồ Trung Thông, Hồ Lê Quỳnh Châu
- File kèm: 57_19.pdf

▪ Ảnh hưởng của bổ sung các mức DL-methionine trong khẩu phần đến khả năng cho thịt của con lai (Ngan x Vịt)
- Lương Thị Thủy, Lê Đức Ngoan, Nguyễn Đức Hưng
- File kèm: 57_20.pdf

▪ Nghiên cứu công thức, quy trình sản xuất gel GCL và thử nghiệm dùng cho máy cắt lạnh mô trong xét nghiệm sinh thiết tức thì
- Ngô Văn Trung, Nguyễn Văn Mão
- File kèm: 57_21.pdf

Tóm tắt quy trình công nghệ xử lý nước thải:

đăng 00:44, 25 thg 3, 2010 bởi Huy Hoàng Nguyễn

 

Thứ bảy, 06 Tháng 2 2010 04:57 Quản trị viên
Email In PDF.
Giai đoạn tiền xử lý: Bằng phương pháp cơ học, hoá học và hoá lý để loại bỏ các loại rác thô, chất rắn lơ lửng (SS)...ra khỏi nguồn nước. Ngoài ra, còn có chức năng làm ổn định chất lượng nước thải như: điều chỉnh pH, lưu lượng và tải lượng các chất gây bẩn có trong nguồn  thải.    

 

   Giai đoạn xử lý sinh học: Chủ yếu dùng các phương pháp xử lý như: yếm khí, hiếu khí, thiếu khí để loại bỏ các hợp chất hữu cơ tan có trong nguồn nước nhằm làm giảm các chỉ số BOD, COD, T-N, Y-P...có trong nguồn nước. Quá trình này sẽ hoạt động hiệu quả khi các thành phần cơ chất (các hợp chất chứa cacbon), dinh dưỡng (các hợp chất chứa nitơ và photpho), nồng độ oxy hoà tan trong nước,...được bổ sung hợp lý.     

 

  Giai đoạn xử lý hoàn thiện: Nhằm mục đích làm ổn định chất lượng nước, khử trùng cho nguồn nước trước khi xả ra môi trường. Giai đoạn này thường dùng phương pháp hoá học để xử lý. Kết thúc quá trình xử lý, nước đầu ra đảm bảo yêu cầu chất lượng xả thải mà không làm ảnh hưởng tới môi trường.    

 

   Giai đoạn xử lý bùn: Sử dụng phương pháp cơ học và hoá lý để xử lý nhằm giảm thiểu thể tích bùn thải hay chuyển trạng thái bùn từ trạng thái lỏng sang trạng thái rắn dùng cho các mục đích khác như xả bỏ hay làm phân vi sinh

 

. BOD, COD LÀ GÌ?
       DO là lượng oxy hoà tan trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các sinh vật nước (cá, lưỡng thê, thuỷ sinh, côn trùng v.v...) thường được tạo ra do sự hoà tan từ khí quyển hoặc do quang hợp của tảo. Nồng độ DO trong nước nằm trong khoảng 8 - 10 ppm, và dao động mạnh phụ thuộc vào nhiệt độ, sự phân huỷ hoá chất, sự quang hợp của tảo và v.v... Khi nồng độ DO thấp, các loài sinh vật nước giảm hoạt động hoặc bị chết. Do vậy, DO là một chỉ số quan trọng để đánh giá sự ô nhiễm nước của các thuỷ vực.
      BOD (Biochemical oxygen Demand- nhu cầu oxy sinh hoá): lượng oxy cần thiết để vi sinh vật oxy hoá các chất hữu cơ theo phản ứng:

Vi khuẩn:

         Chất hữu cơ + O2 = CO2 + H2O + tế bào mới + sản phẩm trung gian

     Trong môi trường nước, khi quá trình oxy hoá sinh học xảy ra thì các vi sinh vật sử dụng oxy hoà tan, vì vậy xác định tổng lượng oxy hoà tan cần thiết cho quá trình phân huỷ sinh học là phép đo quan trọng đánh giá ảnh hưởng của một dòng thải đối với nguồn nước. BOD có ý nghĩa biểu thị lượng các chất thải hữu cơ trong nước có thể bị phân huỷ bằng các vi sinh vật.

     COD (Chemical Oxygen Demand - nhu cầu oxy hóa học) là lượng oxy cần thiết để oxy hoá các hợp chất hoá học trong nước bao gồm cả vô cơ và hữu cơ. Như vậy, COD là lượng oxy cần để oxy hoá toàn bộ các chất hoá học trong nước, trong khi đó BOD là lượng oxy cần thiết để oxy hoá một phần các hợp chất hữu cơ dễ phân huỷ bởi vi sinh vật.

      Toàn bộ lượng oxy sử dụng cho các phản ứng trên được lấy từ oxy hoà tan trong nước (DO). Do vậy nhu cầu oxy hoá học và oxy sinh học cao sẽ làm giảm nồng độ DO của nước, có hại cho sinh vật nước và hệ sinh thái nước nói chung. Nước thải hữu cơ, nước thải sinh hoạt và nước thải hoá chất là các tác nhân tạo ra các giá trị BOD và COD cao của môi trường nước.

Sinh học tổng hợp: Kỹ thuật, tiến trình, thành quả và dự phỏng tương lai

đăng 00:28, 23 thg 3, 2010 bởi Huy Hoàng Nguyễn

Sinh học tổng hợp: Kỹ thuật, tiến trình, thành quả và dự phỏng tương lai
     Trong vài năm gần đây đã xuất hiện một diễn tiến khoa học tuy còn trong giai đoạn thầm lặng, phôi thai, nhưng đang hứa hẹn mang lại một cuộc cách mạng mới trong sinh học bởi tiềm năng ứng dụng lớn lao trong xã hội, gồm  việc chế tạo dược phẩm, tạo năng lượng và xử lý môi trường. Ðó là sự ra đời của bộ môn sinh học tổng hợp (synthetic biology) hay còn gọi là sinh học kiến tạo (constructive biology), dựa trên kỹ thuật tổng hợp và điều hòa gene. Trong bài này từ ngữ “sinh học tổng hợp” sẽ được viết tắt là SB.
 
Ðịnh hướng và kỹ thuật:
 
      SB là một nhánh mới của sinh học hiện đại và là một ứng dụng cao điểm của kỹ thuật gene (genetic engineering) đã được triển khai từ đầu thập niên 1980. Trong kỹ thuật gene cổ điển này, người ta tách dòng các gene và sau đó chuyển vào các tế bào (E. coli, nấm men hay tế bào động, thực vật) nhằm mục đích tổng hợp protein và tìm hiểu bản chất sinh hóa (biochemical properties) của chúng. Các tính chất chức năng (functional properties) của gene được nghiên cứu bằng cách chuyển gene vào sinh vật, thường là chuột, dùng phương pháp gắn gene (knock-in) hay loại trừ gene (knock-out) để hoạt hóa hay bất hoạt gene. Các phương pháp này từng là nền tảng của công nghệ sinh học trong gần 3 thập niên qua ở nhiều nước trên thế giới.

Hình 1. Một số thành phần của bộ điều hành dùng trong kỹ thuật sinh học tổng hợp. Các thành phần (part) là DNA khi ghép lại sẽ tạo ra một bộ phận (device), và những bộ phận này sẽ tạo một hệ thống (system) cần thiết cho chức năng của tế bào mới thành lập.
 
      SB phát sinh từ ứng dụng các thành quả sinh học hiện đại để tiến lên một bình diện cao hơn (paradigm shift). SB nhằm tái tạo (reconstitute) hệ thống gene của chu trình sinh học (biological pathway) tế bào,  hoặc tái tạo bộ gene (genome) của virus, vi khuẩn, nấm men, và viễn tưởng xa hơn là của tế bào sinh vật bậc cao như thực vật và động vật. Mục đích tái tạo là làm thay đổi và hòan chỉnh các gene bằng phương pháp tổng hợp (synthesis) để tạo những sinh vật mới có đặc tính và khả năng sinh học như mong muốn.  Vì liên hệ đến tòan bộ gene, nên trên lý thuyết, SB bao gồm các bộ môn sinh học về bộ gene (genomics), bộ protein (proteonomics), sinh tin học (bioinformatics), sinh học cấu trúc và điện toán (structural and computational biology), cơ chế truyền tin của tế bào (cell signaling). Về kỹ thuật,  SB cũng cần kết hợp nhiều phương pháp gồm genomics (để tổng hợp gene), proteonomics (để tổng hợp protein), bioinformatics (để kiến trúc mạng lưới gene), signaling (để họat hóa gene) và những kỹ thuật thường qui như micro-array, tổng hợp và giải trình tự DNA (DNA chip synthesis, sequencing), vi sinh vật học (microbiology), sinh học môi trường (environmental biology), sinh học tiến hóa (evolution biology).  
 
      Ðặc điểm của phương pháp SB là tạo những bộ phận gene (gene parts) và ghép lại thành một chu trình tổng hợp sinh học (biosynthesis pathway) hoặc tạo cả một bộ gene (genome) của tế bào. Trong công việc này, có hai hệ thống  được phỏng theo mô hình thiên nhiên. Thứ nhất  là tạo bộ điều hành (regulatory parts) và thứ hai là tạo các gene hay bộ gene. Các bộ điều hành giống như hệ thống điện (electronic circus) có thể bật (open) và tắt (shut-down), có cơ chế cảm thụ (sensors) và hệ thống điều hòa hoạt tính của gene như tần số điện cũng được gọi là inverter và oscillator. Hiện thời  bộ điều hành gene có thể đặt làm hoặc mua ở một số hãng công nghệ sinh học chuyên về SB (Hình 1). Các bộ điều hành cũng được trao đổi rộng rãi giữa các trung tâm nghiên cứu và đang được cải tiến thêm mỗi ngày để tạo những hệ thống SB đa dạng và hữu hiệu hơn. Bộ điều hành của tế bào động vật bậc cao thì phức tạp hơn; các thành qủa thu được hiện nay từ E. coli và nấm men. Các phương pháp tổng hợp DNA đang dược cải tiến rất nhanh để đáp ứng nhu cầu tổng hợp số lượng lớn gene và bộ điều hành dùng trong nghiên cứu SB (Hình 2).

Hình 2. Một phương thức tổng hợp gene được dùng trong SB: xây dựng nhiễm sắc thể nhân tạo.
 
Tiến trình và thành qủa:
 
Ý niệm về SB hình thành từ giai đoạn khởi đầu của công nghệ gene khi các enzyme giới hạn (restriction enzymes) được Halmilton Smith khám phá và xử dụng vào năm 1978. Theo đó, chúng ta có thể cắt và ráp nối các đoạn gene để thay đổi hình thái và chức năng của chúng. Như đã nêu trên, phương pháp tách dòng cổ điển chỉ áp dụng được cho từng gene một. Thành qủa giải trình tự bộ gene của người, và của nhiều sinh vật khác, cũng như hiểu biết về chức năng và cơ chế điều hòa bộ gene, đã tạo điều kiện để các nhà nghiên cứu sinh học khai triển bộ môn SB trong khoảng 5 năm vừa qua. SB đã được thiết lập từ những đại học quốc tế như Viện Kỹ thuật Massachussets (MIT), Ðại Học California ở Berkeley (UCB), Oxford với đóng góp của các nhà nghiên cứu tên tuổị. Craig Venter, người giải mã bộ gene nhân loại, đã ứng dụng SB để thiết lập tế bào có bô gene nhỏ nhất (minimum-genome) gồm khoảng trên 200 gene để nghiên cứu về nguồn gốc sự sống. Về thực dụng, tế bào này cung cấp hệ thống điều hòa gene và là một môi trường sạch rất tốt để tổng hợp chế phẩm dược liệu hay năng lượng với độ tinh khiết cao vì không có những sản phẩm phụ (by product) như ở E. coli và nấm men.  Năm 2001, C. Venture đã thành lập công ty Synthetic Genomics và lên kế hoạch nghiên cứu SB để sản xuất, với công suất cao các hóa chất năng lượng (như hydrogen, ethanol) nhằm trong sạch hóa môi trường, và dự tính tiết kiệm được khoảng 20 tỷ USD hàng năm do việc thay thế ethanol để giảm thiểu lượng xăng tiêu thụ ở Mỹ.
 
Triển vọng dùng phương pháp SB để tổng hợp và sản xuất dược chất trị liệu được khẳng định từ nghiên cứu tạo artemisinin thành công của Jay Keasling ở Ðại Học California, Berkely năm 2003. Sau khi xác định được 12 gene tham gia trong tiến trình tổng hợp artemisinin ở thực vật, Keasling đã tổng hợp được 9 trong số các gene này, và thiết lập một hệ điều hành SB để sãn xuất artemisinin ở E. coli với năng suất gấp 10.000 lần so với hệ thực vật, và gần đây nhất là ở nấm men với năng suất tăng thêm 10 lần so với chủng E. coli. Thành qủa này đã mang lại cho Keasling giải thưởng Nhà Khoa Học của  năm 2006 (The Scientist of the Year 2006) do tập san khoa học Discovery bình chọn.  Keasling cùng cộng sự thành lập công ty Amyris Biotechnologies áp dụng SB cho việc tổng hợp artemisinin, và đặc biệt là tiền chất  (pro-compound) isopronoid với số lượng lớn để sản xuất (Hình 3). Dự tính có khoảng 50,000 dược liệu họ isopronoid có giá trị trị liệu cao đối với các bệnh như ung thư, huyết áp, tiểu đường, sốt rét; nhưng isopronoid chỉ tồn tại ở rất ít thực vật và với nồng độ thấp. Vì giá trị quan trọng này, hiệp hội Gate Foundation đã tài trợ 43 triệu USD để triển khai SB trong việc tổng hợp các dược chất trên. 
 

Hình 3. Từ hoá chất đường đơn giản, SB tái tạo chu trình tổng hợp isoprenoid ở E. coli để sản xuất dược liệu qúy hiếm với số lượng lớn.
 
SB cũng có những thành tựu nhiều hứa hẹn ở dòng E. coli từ các nghiên cứu của Christopher Voigt ở Ðại Học California, San Francsico (UCSF). Dùng phương pháp SB, Voigt đa tổng hợp các cảm thu (sensor) để tạo một dòng E. coli mới có khả năng tìm kiếm và xâm nhập tế bào ung thư, sau đó phóng thích ra những hóa chất trị liệu tiêu hủy tế bào.
 
Ngoài ra, nhu cầu nghiên cứu SB cũng mang đến sự hình thành một số trung tâm, hãng công nghệ sinh học chuyên sản xuất gene và các vật liệu gene (parts) như BioBricks Foundation và Codon Devices.
 
Dự phỏng tương lai:
 
Con đường phát triển SB chỉ mới ở giai đọan khởi đầu; việc chinh phục các khó khăn và các đề tài nghiên cứu SB trong tương lai sẽ thật hào hứng. Chỉ trong khoảng thời gian 5 năm ngắn ngủi vừa qua, SB đang tạo cho các nhà nghiên cứu sinh học một nền tảng kỹ thuật mới có khả năng thay đổi tế bào trên một bình diện rất rộng lớn so với các ứng dụng công nghệ gene từ trước tới nay. Từ khởi thủy, thiên nhiên đã không tạo dựng bộ gen hòan hảo cho con người cũng như cho mọi sinh vật khác. Có rất nhiều bệnh tật do sự sai lệch của bộ gene, và có rất nhiều khuyết điểm ở các sinh vật và cây cỏ vì bộ gene của chúng thiếu hiệu năng trong việc sản xuất. Kỹ thuật SB nhằm tái lập những bộ gene và làm hòan chỉnh như ý muốn để bù đắp những khuyết điểm của thiên nhiên. Những “sinh vật mới” này có khả năng tạo sản phẩm sinh hoc gồm tế bào, protein, dược chất, hoặc những hóa chất có năng xuất cao và hiệu ứng chuyên biệt, có công dụng thiết thực cho lãnh vực trọng yếu của xã hội như y tế, năng lượng và môi trường. Trên thực tế, cũng như mọi tiê’n bộ khoa học khác, nếu SB khẳng định được những giá trị nêu trên thì sẽ được sự tham gia tích cực của cộng đồng khoa học, và đo’ng go’p của nhiều tầng lơ’p trong xã hội. Cho đến nay, những viễn tượng tốt đẹp của SB đang hứa hẹn một cuộc cách mạng mới của ngành tân sinh học.
 
Vì hiệu ứng cao của SB, vấn đề an toàn và an ninh xã hội cần được đặt ra để ngăn ngừa sự tổng hợp những chủng virus có độc tố và khả năng gây dịch tễ; hoặc tạo các độc chất đe dọa sự an tòan của môi trường. Hiện nay tính an tòan của SB chỉ được sự lưu tâm của giới khoa học, và luật lệ điều hành SB được áp dụng từ luật lệ hiện dùng chung của kỹ thuật gene.
 
Ðối với ngành sinh học Việt Nam, vì tính ứng dụng cao của SB, chúng ta nên cứu xét các phương thức khả thi để hội nhập vào lãnh vực khoa học quan trọng nàỵ  Các bạn trẻ cũng nên lưu tâm đến SB trong các chọn lựa tương lai, vì rất nhiều tiềm năng SB chưa được khai triển và trí tuệ Việt Nam có thể đóng góp vào sự tiến bộ này để mang lại lợi ích cho việc phát triển khoa học của đất nước.    
 
  • TS. Nguyễn Đức Thái, Tokyo ngày 07/01/2007
 
Tài liệu tham khảo:
- Baker, D. et al. Engineering Life: Building a FAB for Biology (2006). Scientific America, June 2006, 34-41.
- Endy, D. Foundation for Engineering Biology (2005) Nature (2005) 24, Nov. 449-453
- Anderson, J. C., Clarke, E. J., Arkin, A. P., & Voigt, C. A. (2006) Environmentally Controlled Invasion of Cancer Cells by Engineered Bacteria, Journal of Molecular Biology, 355 (4): 619-627.
 

Sinh lý Người & Động Vật (human & animal physiology

đăng 23:46, 21 thg 3, 2010 bởi Huy Hoàng Nguyễn

 
 
 
SINH LÝ NGƯỜI VÀ ĐỘNG VẬT
 
CHƯƠNG 1: CẤU TẠO CƠ THỂ NGƯỜI VÀ ĐỘNG VẬT
Như chúng ta đã biết con người và động vật đều là những sinh vật nhân thật( EuKaryote). Tức là được cấu tạo từ tế bào, tế bào là đơn vị của sự sống sinh vật. Dù sinh vật đó có kích cỡ bao nhiêu nhưng vẫn được cấu tạo từ tế bào.
 
Ở cơ thể người và động vật có các cấp tổ chức cơ thể sau:
Tế bào (cell) -> Mô (tissue) -> cơ quan (organ)-> hệ cơ quan(organ system) -> cơ thể(organism).
 
 
 
Hình 1: Một tế bào điển hình.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 cấu tạo hệ mạch của cơ thể người
 
 
hình ảnh giải phẩu tim
 
 
 
 
 

Structure of the Human Heart

Home » Structure
Model of the human heart

The heart you see drawn on the average Valentine is only a rough representation of the actual structure of the heart. Your heart is actually shaped more like an upside-down pear.

The human heart is primarily a shell. There are four cavities, or open spaces, inside the heart that fill with blood. Two of these cavities are called atria. The other two are called ventricles. The two atria form the curved top of the heart. The ventricles meet at the bottom of the heart to form a pointed base which points toward the left side of your chest. The left ventricle contracts most forcefully, so you can best feel your heart pumping on the left side of your chest.

The left side of the heart houses one atrium and one ventricle. The right side of the heart houses the others. A wall, called the septum, separates the right and left sides of the heart. A valve connects each atrium to the ventricle below it. The mitral valve connects the left atrium with the left ventricle. The tricuspid valve connects the right atrium with the right ventricle.

The top of the heart connects to a few large blood vessels. The largest of these is the aorta, or main artery, which carries nutrient-rich blood away from the heart. Another important vessel is the pulmonary artery which connects the heart with the lungs as part of the pulmonary circulation system. The two largest veins that carry blood into the heart are the superior vena cava and the inferior vena cava. They are called "vena cava" because they are the "heart's veins." The superior is located near the top of the heart. The inferior is located beneath the superior.

The heart's structure makes it an efficient, never-ceasing pump. From the moment of development through the moment of death, the heart pumps. The heart, therefore, has to be strong. The average heart's muscle, called cardiac muscle, contracts and relaxes about 70 to 80 times per minute without you ever having to think about it. As the cardiac muscle contracts it pushes blood through the chambers and into the vessels. Nerves connected to the heart regulate the speed with which the muscle contracts. When you run, your heart pumps more quickly. When you sleep, your heart pumps more slowly.

Considering how much work it has to do, the heart is surprisingly small. The average adult heart is about the size of a clenched fist and weighs about 11 ounces (310 grams). Located in the middle of the chest behind the breastbone, between the lungs, the heart rests in a moistened chamber called the pericardial cavity which is surrounded by the ribcage. The diaphragm, a tough layer of muscle, lies below. As a result, the heart is well protected.

To monitor the heart, scientists can use x-ray or scanning technology to get a picture. To really explore the heart, scientists have to perform surgery. Heart surgery is very risky because the heart's pumping action is so critical for survival. If the heart stops pumping, the body cannot survive. Before beginning heart surgery, doctors connect the patient to a machine that pumps the blood for the heart. Only then is it safe for the doctor to stop the heart in order to operate.

1.             

1-10 of 26