Di tích lịch sử

Hiện vật bày trí ở Văn miếu Trấn Biên

đăng 03:45 24-11-2011 bởi Nhan Pham   [ cập nhật 02:47 01-02-2012 bởi Pham Hoai Nhan ]

1. Tại Nhà Bái Đường

Trống đại: Đây là trống Sấm lễ hội Thăng Long do UBND, Sở Văn hóa - Thông tin thành phố Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu khoa học, văn hóa Văn miếu - Quốc tử giám tặng.


Chiêng đúc đồng

Đài quả gò đồng chạm trổ

Lư đồng

Tủ thờ nước và đất: Bên trong có đặt 18 không gian đất và 18 lít nước từ đất Tổ Hùng Vương, do UBND tỉnh Phú Thọ và Đoàn đặc công 113 tặng.

Bia tiến sĩ: Bia làm bằng đá tảng lớn, được đặt trên lưng rùa đá. Mặt trước có bài ký đề bia tiến sĩ khoa 1442, do danh sĩ Thân Nhân Trung viết. Trong bài ký, Thân Nhân Trung đã nêu bật vai trò của đội ngũ trí thức, nhân tài đối với quốc gia: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí vững thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí kém thì thế nước yếu và suy, cho nên các đấng thánh đế minh vương không ai không chăm lo việc xây dựng nhân tài". Tấm bia đá đặt tại Văn miếu Trấn Biên là tấm bia phục chế lại từ tấm bia ở Văn miếu Thăng Long, do UBND, Sở Văn hóa - Thông tin thành phố Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu khoa học, văn hóa Văn miếu - Quốc tử giám tặng.
 
Bia đá: Được đặt cạnh bia tiến sĩ, về hình thức giống bia tiến sĩ, nhưng thấp và nhỏ hơn. Vật liệu là đá Bửu Long. Mặt trước bia khắc toàn bộ nội dung sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, phần nói về Văn miếu Trấn Biên.


Lồng đèn
- Cao: 1,2 m
- Nặng: 100 kg
- Trang trí bằng hoa văn "chữ Thọ" cách điệu.

Hạc đồng: 3 cặp, được đặt phía trước 3 gian thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các danh nhân văn hóa.

Bát bửu

Tranh gốm: 2 bức tranh gốm do Cơ sở gốm Thái Dương (phường Bửu Hòa, Biên Hòa) tặng.

2. Ngoài Đại Bái Đường   

Nghê đá: Được đặt ở trước Nhà Bia, bên trái và bên phải. Mỗi con cao 1,2mét do UBND và nhân dân phường Bửu Long (Biên Hòa) tặng.  

 

Rồng đá


Rồng gốm


Tư liệu và hình ảnh: Theo tư liệu chính thức của UBND tỉnh Đồng Nai

Văn tự ở Văn miếu Trấn Biên

đăng 02:59 24-11-2011 bởi Nhan Pham   [ cập nhật 03:21 01-02-2012 bởi Pham Hoai Nhan ]

1. Văn miếu môn



Biển lớn, đề chữ “Văn Miếu Môn” (phiên âm), đặt dưới cốt +4200. Đây là tên của công trình (cổng ra vào).

Câu đối đặt ở hai bên Văn Miếu Môn (viết chữ Hán, kèm phiên âm bằng Quốc ngữ, thứ tự bên trái, bên phải):

Viễn giả lai cận giả duyệt tôn thánh hy hiền;
Chí ư học nguyện ư hành cư nhân do nghĩa. 

Dịch nghĩa: Chí nguyện là học và hành; giữ gìn đức nhân theo nghĩa, xa thì đến, gần thì mến thương, tôn kính, noi theo bậc thánh hiền.

2.Nhà bia Khổng Tử:


Mặt trước là chân dung Khổng Tử, bên dưới có ghi tên: Khổng Tử (551 – 479 TCN).

Mặt sau: Ở vị trí chính giữa là chữ Văn (chữ Hán, kèm phiên âm). Hai bên là đôi câu đối (chữ Hán, kèm phiên âm):

Bất học bất tri lý,
Học nhi thời tập chi 

Ý nghĩa: Không học thì không biết đạo lý; học phải năng thực hành theo cái đã học được.

3. Nhà Bái Đường

Nội dung các bức hoành phi và câu đối ở Nhà Bái Đường do Gs. Vũ Khiêu soạn.

3.1. Hoành phi: Dọc theo trục D – D trên đỉnh của toà nhà thả xuống những cửa võng bằng gỗ chạm lộng sơn son thiếp vàng. Lồng trong cửa võng là 5 bức hoành phi đại tự. Theo thứ tự, từ trái sang phải của chính điện (theo hướng ở ngoài nhìn vào):

a. Kế thế hiền tài:
b. Đại Việt tinh thần:


c. Văn hiến Trấn Biên


d. Nam phương cốt cách


e. Thiên thu nguyên khí:


3.2. Các cặp đối:

Các cặp đối đi liền với các bức hoành phi để ở bốn hàng cột trong nhà và các cột nổi ở tường. Theo thứ tự, từ trái sang phải của chính điện (theo hướng ở ngoài nhìn vào):

a. Cặp câu đối số dưới bức hoành phi Kế thế hiền tài:

 Bến Nghé của tiền những ứa gan trung người quốc sĩ
Đồng Nai tranh ngói càng khơi lửa hận lớp anh hùng.

Ý nghĩa: Nếu cao tinh thần của trí thức và nhân dân Biên Hòa – Đồng Nai đã chiến đấu anh dũng chống quân xâm lược tàn phá quê hương như Nguyễn Đình Chiểu đã từng phản ánh thơ văn:

Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây. 

b. Cặp câu đối dưới bức hoành phi Đại Việt tinh thần


Ngô Vương Quyền đuổi giặc  Lý Công Uẩn dời đô muôn dặm tung bay cờ Đại Việt
 Chu Tiều Ẩn giảng văn Nguyễn Ức Trai định hướng ngàn thu sáng mãi chí Thăng Long.

Ý nghĩa: Đại Việt là quốc hiệu nước ta từ nhà Lý, tiêu biểu cho văn hiến Việt Nam, như Nguyễn Trãi viết: “Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Tinh thần Đại Việt bắt đầu từ Ngô Quyền đánh tan giặc xâm lược ở sông  Bạch Đằng; mở đầu cho việc tái lập nền độc lập của dân tộc. Trải qua các đời thịnh trị của vua Đinh, vua Lê, Lý Công Uẩn dời đô ra Thăng Long, từ đó tiếng tăm của Đại Việt lừng lẫy khắp nơi.

c. Cặp câu đối dưới bức hoành phi Văn hiến Trấn Biên:

Thu hết tinh hoa kim cổ lại
Xây cao văn hiến nước non này.

Ý nghĩa: Bác Hồ suốt đời học tập và nghiên cứu đã trở thành nhà văn hóa uyên bác về mọi kiến thức kim – cổ, Đông – Tây. Bác Hồ là danh nhân văn hóa thế giới tiêu biểu cho văn hiến ấy trong toàn quốc cũng như ở phương Nam.

d. Cặp câu đối dưới bức hoành phi Nam phương cốt cách:

 Nguyễn Hữu Cảnh ổn định Trấn Biên lớp lớp anh hùng vang lục tỉnh
 Võ Trường Toản mở trường Gia Định đời đời sĩ khí nối tam gia.

 Ý nghĩa: Nói về công lao của những ni đi đầu trong việc xây dựng nền văn hiến tại phương Nam. Trước hết về Nguyễn Hữu Cảnh là người được chúa Nguyễn giao việc ổn định đất Đông Phố; lập dinh Trấn Biên. Từ đó các bậc anh tài xuất hiện tiếng tăm vang dội  cả lục tỉnh.

Về văn học, Võ Trường Toản mở trường dạy học ở Gia Định, đào tạo nhân tài, xuất hiện Gia Định tam gia. Từ đó, tiếp nối là lớp lớp nhân tài nêu cao sĩ khí xứ Đồng Nai.

e. Cặp câu đối dưới bức hoành phi Thiên thu nguyên khí:

Dân tộc anh hùng sự nghiệp đi vào thiên kỷ mới
Đồng Nai hào khí tiền đồ vươn tới vạn trùng cao.

Ý nghĩa: Nói lên khí phách, tinh thần của nhân dân nói chung, trí thức nói riêng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Đồng Nai đi vào thiên kỷ mới. Với tinh thần ấy, tiền đề  của văn hiến Đồng Nai sẽ còn vươn tới vạn trùng cao.

Bài và ảnh: Theo tài liệu cính thức của UBND tỉnh Đồng Nai

Văn miếu Trấn Biên - Cảnh quan và hạng mục công trình

đăng 02:29 24-11-2011 bởi Nhan Pham   [ cập nhật 02:46 01-02-2012 bởi Pham Hoai Nhan ]

Cảnh quan

Văn miếu Trấn Biên xưa, theo sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, nằm “ở địa phận thôn Bình Thành và thôn Tân Lại, huyện Phước Chánh, cách tây trấn hai dặm rưỡi (...) phía nam hướng đến sông Phước, phía bắc dựa theo núi rừng, núi sông thanh tú cỏ cây tươi tốt”.

Ngày nay, dấu vết cũ không còn, dựa vào thư tịch cổ, các nhà khoa học, cùng với lãnh đạo tỉnh Đồng Nai đã xác định nơi có  đặc điểm giống  như miêu tả trong sách của Trịnh Hoài Đức. Đó là khu vực hồ Long Vân, thuộc Khu du lịch Bửu Long, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa. Quần thể công trình Văn miếu Trấn Biên có diện tích xây dựng gần 20.000 mét vuông (2 ha), nằm trên khu đất cao.

Vì Văn miếu Trấn Biên là công trình kiến trúc vừa có ý nghĩa hiện đại, vừa mang dấu ấn lịch sử truyền thống, nên khi quan điểm thiết kế, mà trước hết là quan điểm lựa chọn thế đất có sự kết hợp giữa quan niệm cũ và quan niệm mới.

 Theo quan niệm kiến trúc xưa, các công trình xây dựng đều tuân theo nguyên tắc nhất định phù hợp với thế của đất và trời, tạo thành thể tống nhất Thiên – Địa – Nhân hòa hợp. Nguyên tắc này khiến cho nơi cư trú hoặc thờ phụng của con người tận dụng được tối đa những yếu tố thuận lợi của tự nhiên và hạn chế tối thiểu những tác động xấu của thiên nhiên, thời khí.

Ngày nay, kế thừa quan điểm trên, kết hợp với việc khảo sát, nghiên cứu địa hình, thăm dò hiện trạng, khu đất xây dựng Văn miếu Trấn Biên có cảnh quan đẹp, hội tụ phong thủy và tiện ích, có hình chữ nhật, trải dài theo hướng bắc – nam. Phía trước có hồ nước lớn làm Minh Đường; phía sau có núi Bửu Long và núi Long Ẩn làm Tả Thanh Long và Hữu Bạch Hổ; bên trái có ồ nước trong xanh; bên phải có đường giao thông chính. Không gian nơi Văn miếu tọa lạc khoáng đãng, phong cảnh hữu tình với cây co xanh tươi, nước hồ trong xanh, núi đồi nhấp nhô... Cảnh quang này, theo thuật phong thủy được xem là quý địa, rất phù hợp với một công trình văn hóa, giáo dục như Văn miếu Trấn Biên.

Hạng mục công trình

Văn miếu Trấn Biên là một quần thể kiến trúc tập hợp nhiều công trình. Mỗi một công trình vừa là thành tố của cả quần thể, vừa có chức năng riêng. sau đây là các công trình và chức năng của nó ở Văn miếu Trấn Biên theo thứ tự từ ngoài vào trong, trên trục thần đạo. Một số công trình đã được xây dựng hoàn chỉnh ở giai đoạn 1, một số công trình hiện (tháng 12.2002) đang tiếp tục hoàn chỉnh ở giai đoạn 2. Khi giới thiệu các công trình đang hoàn chỉnh chúng tôi dựa vào dự án nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng đã được các cấp hữu quan phê duyệt.  

1. Văn Miếu Môn  

Văn Miếu Môn là cổng ra vào của Văn miếu, nơi chào đón quan khách, ngăn cách không gian bên trong với bên ngoài Văn miếu. Văn Miếu Môn có kích thước 12000x3000, được kiến trúc làm hai tầng mái. Tầng mái 1 có độ cao +4200 so với cốt đường. Tầng mái 2 có độ cao +8000 so với cốt đường. Dưới cốt +4200 ở trên cửa lớn đặt bức đại tự bằng gỗ sơn son thiếp bạc phủ hoàn kim đề chữ “Văn Miếu Môn”. Tường ngoài Văn Miếu Môn theo dự kiến đặt hai câu ối nằm trên trục A cắt trục 2 và 3. Mặt sau Văn Miếu Môn trên trục E cắt trục 3 và 4 đặt hai câu ối khác có hình thức giống hai câu đối mặt trước.

2. Nhà Bia

Nhà Bia có mái che. Ngay chính giữa là bia đá với chất liệu là đá Granít Bửu Long. Trên bia đá khắc bài văn bia do Giáo sư, Anh hùng Lao động Vũ Khiêu viết. Bài văn bia khái quát truyền thống văn hóa, giáo dục của dân tộc và vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai, thể hiện khát vọng của nhân dân Đồng Nai trong kỷ nguyên mới và ý nghĩa của việc xây dựng Văn miếu Trấn Biên.

3. Khuê Văn Các


Khuê Văn Các được xem là công trình chủ đạo trong khu vực Văn miếu. Khuê Văn Các ngày xưa là nơi các bậc hiền tài, những tao nhân mặc khách gảy đàn, ngâm thơ, ngắm trăng, đàm luận chuyện văn chương, thời cuộc. Ngày nay, Khuê Văn Các là nơi để các nhà văn, nhà thơ, các nhà khoa học trong và ngoài tỉnh, các vị lãnh đạo cao cấp đến thuyết trình, hội thảo về các vấn đề văn hóa, giáo dục, văn chương, bàn luận chuyện quốc kế dân sinh.

Khuê Văn Các đã được xây dựng có kích thước 5.900x8.700, độ cao 16.000 so với cốt sân. Công trình có 2 tầng cùng 2 tầng mái với kết cấu bê tông giả gỗ. Theo dự kiến, tầng 1: dưới mái đặt bức đại tự ở trung tâm mặt trước ngôi nhà đề chữ “Khuê Văn Các”; tầng 2: trên gác Khuê văn đặt 2 bài viết của các hiền nhân, được khắc trên gỗ.

4. Thiên Quang Tỉnh




Thiên Quang Tỉnh là hồ nước lớn nằm giữa Khuê Văn các và Đại Thành Môn, ngay trên trục thần đạo. Hồ có hình chữ nhật, chung quanh được kè bằng đá Bửu Long. Nước hồ trong xanh, được thả các loại cá và sen. Buổi sáng, Khuê Văn Các; buổi chiều Đại Thành Môn in bóng trên mặt hồ càng tạo thêm phong cảnh tươi đẹp cho Văn miếu.

5. Đại Thành Môn


Đại Thành Môn nằm trên trục thần đạo, là cửa chính để vào khu thờ phụng, tế lễ của Văn miếu. Bên phải và bên trái Đại Thành Môn là Kim Thành Môn và Ngọc Chấn Môn.

Đại Thành Môn được kiến trúc 2 tầng mái. Dưới tầng mái 1, mặt trước đặt một biển đại tự gỗ đề chữ “Đại Thành Môn”.

Kim Thành Môn và Ngọc Chấn Môn là hai cổng phụ của Đại Thành Môn, có kích thước nhỏ, một tầng mái. Dưới mái đặt biển đại tự đề tên của từng cửa.

6. Nhà bia Khổng Tử


Khổng Tử là người khai sáng Nho giáo và Nho học của cả phương Đông. Vì thế, Nhà bia Khổng Tử được đặt ở vị trí trang trọng, trước sân Đại Bái, nằm trên trục thần đạo. Nhà bia Khổng Tử có 4 mái, 2 cột. Bia Khổng Tử được đặt trên bệ đá chạm khắc hoa văn cao 80cm. Tấm bia đá có kích thước: 1500x1750x280. Trong bia có khắc hình Khổng Tử theo tranh vẽ của các họa sĩ cổ điển Trung Hoa. Trên bia có mặt Hổ phù cao 65 cm. Kích thước toàn bia cao 320m. Mặt sau của bia, ở chính giữa có khắc chữ Văn, hai bên là hai câu đối, được lấy từ những lời răn dạy của Khổng Tử.  

7. Sân Đại Bái

Sân Đại Bái nối Nhà bia Khổng Tử và Nhà Đại Bái (Nhà thờ chính) theo trục thần đạo, nối toà nhà Văn Vật Khố với Hội Trường theo chiều ngang. Sân Đại Bái hình chữ nhật, có diện tích rộng. Đây là nơi diễn ra các buổi lễ quan trọng tại Văn miếu Trấn Biên.  

8. Nhà Đại Bái (Nhà thờ chính)

Nhà Đại Bái là công trình kiến trúc quan trọng nhất của quần thể kiến trúc Văn miếu Trấn Biên. Nhà có 3 gian.

Gian giữa Nhà Đại Bái là nơi thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới. Nơi đặt tượng cùng hương án thờ Bác Hồ được đặt trên một bệ ghép bằng các đá tảng cốt cao so với nền cốt nhà là +600. Xung quanh bệ thờ có lan can tay vịn cũng bằng đá tảng đục. Lối lên bục ở giữa tiếp đến  bán hương đại bằng đồng, sau đó là bộ hương án gỗ sơn son thiếp vàng. Tượng Bác Hồ bán thân đúc bằng đồng đặt trên bệ đá cao hơn hương án gỗ 200. Phía sau không gian thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng của mặt tống đồng Ngọc Lũ, biểu trung của văn hóa Việt Nam. Toàn bộ biểu tượng mặt trống đồng được gò khắc bằng tôn đồng, đường kính 4.000 có tâm đặt cao hơn tượng Bác Hồ.

Gian bên tả (từ ngoài vào) Nhà Đại Bái thờ những danh nhân văn hóa cả nước (thứ tự từ trái qua phải): Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du.

Gian bên hữu Nhà Đại Bái thờ những danh nhân văn hóa gắn bó với vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai và Nam bộ xưa (thứ tự từ trái qua phải):  Võ Trường Toản, Đặng Đức Thuật, Gia Định tam gia (Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh), Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa.

Tất cả các danh nhân  được thờ có bài vị đặt trong khám thờ, trước có hương án sơn son thiếp vàng, hai bên bàn thờ có bát bửu bằng gỗ cũng sơn son thiếp vàng.

Nhà Bái Đường còn nhiều chi tiết liên quan sẽ được nói rõ hơn ở phần về: văn tự, hiện vật bày trí, tặng vật...

9. Văn Vật Khố



Văn Vật Khố được đặt bên trái (từ ngoài vào) Nhà Bái Đường. Kiến trúc của Văn Vật Khố được mô phỏng theo kiến trúc Nhà trưng bày sản phẩm của Trường  Bá nghệ Biên Hòa trước đây ở khu vực Tòa bố Biên Hòa (giao lộ quảng trường Sông Phố). Thực hiện chỉnh trang đô thị, năm 2000, Nhà trưng bày này nằm trong khu vực phải giải tỏa. Tuy nhiên, tất cả các thành tố kiến trúc của công trình được bảo quản cẩn thận. Khi xây dựng Văn miếu Trấn Biên, công trình này được tái dựng lại. Vì thế, Văn Vật Khố  có kiến trúc theo hình chữ nhất, diện tích 134 mét vuông. Bên trong chia thành 5 gian phòng, có cửa chính đi vào lối gian trung tâm. Từ gian trung tâm có lối thông qua các phòng còn lại.

Văn Vật Khố là nơi trưng bày các giá trị nghệ thuật của các ngành, nghề thủ công truyền thống ở vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai, bao gồm các nghề chính: mộc, rèn, đúc đồng, đá, thổi gang. Những sản phẩm tiêu biểu nhất của mỗi  nghề sẽ được trưng bày tại đây.

10. Nhà Thư Khố

Nhà Thư Khố ở phía đối diện với Văn Vật Khố, là nơi lưu giữ các công trình văn hóa – nghệ thuật, khoa học, giáo dục  đã được thể hiện thành ấn phẩm (sách) về vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai.

Bài và ảnh: Theo Tài liệu chính thức của UBND Tỉnh Đồng Nai

Dấu tích thành Biên Hòa: di tích lịch sử cần được giữ gìn, tôn tạo

đăng 05:56 23-07-2011 bởi Nhan Pham   [ cập nhật 02:34 01-02-2012 bởi Pham Hoai Nhan ]

Phải công tâm mà nói rằng: thành Biên Hòa xưa với những dấu tích còn sót lại trong phạm vi nội ô thành phố Biên Hòa hôm nay là một điều may mắn cho vùng đất này. Bởi lẽ, trải qua 170 năm được tạo dựng (tính từ mốc nguyên khởi), bao biến cố của thời cuộc, xã hội đã làm thay đổi và mất đi nhiều di sản vật thể thì công trình cổ thành Biên Hòa vẫn còn những dấu tích khá rõ nét, hiện diện trong đời sống hiện tại.

Trong diễn trình lịch sử của vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai, cổ thành Biên Hòa là một dấu chứng gắn liền với những sự kiện quan trọng. Trong lý lịch di tích thành Biên Hòa của Nhà Bảo tàng Đồng Nai thực hiện, phần nội dung đã nêu khá đầy đủ những chi tiết này. Và có lẽ, chúng ta đồng thuận những trích dẫn, ghi chép hầu hết từ trong tư liệu của Đại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn hay Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức.

Tư liệu ghi chép về cổ thành Biên Hòa rất hiếm. Trong những đợt sưu tầm tư liệu phục vụ cho địa chí Đồng Nai vào những năm cuối thập niên 90, thế kỷ XX, tôi có đến một số thư viện tại Hà Nội (Thư viện Quốc gia, Viện Hán Nôm, Thư viện Quân đội, Viện Sử học Việt Nam) với mong muốn tìm những tư liệu Biên Hòa - Đồng Nai xưa nhưng tiếc rằng tư liệu thu thập không nhiều, không có tư liệu về thành cổ Biên Hòa.

Theo một số tư liệu, chúng ta biết rằng, cổ thành Biên Hòa được bắt đầu xây dựng vào năm 1834. Tư liệu cho biết như sau: Tháng 6, năm 1834, xây đắp thành đất tỉnh Biên Hòa, 4 mặt thành đều dài 70 trượng, cao 4 thước 3 tấc, dày 1 trượng, mở 4 cửa. Đào hào rộng 2 trượng, sâu sáu thước. Quan Khâm sai Đoàn Văn Phú chịu trách nhiệm trong việc trù tính việc làm. Vua Minh Mạng đồng ý cho việc chọn lấy 1.000 dân trong hạt đứng ra xây đắp, số dân làm thành được hậu cấp cho tiền gạo.

Và đến năm 1838, đợt xây dựng với quy mô lớn hơn về thành Biên Hòa được tiến hành. Tư liệu cho biết: Tháng Giêng năm 1838, xây đắp thành tỉnh Biên Hòa. Chu vi dài 338 trượng, cao 8 thước 5 tấc, dày 1 trượng 5 thước, hào đào rộng 3 trượng, cửa thành có 4 cửa. Vua Minh Mạng sai phát 4.000 binh dân làm việc và lại cho đây là công trình trọng đại nên phái Vệ úy Vệ tả bảo nhị là Nguyễn Văn Gia, Thự phó Vệ úy Tiền doanh Long Võ là Phan Văn Lăng, Vệ úy Tả thủy Gia Định là Lê Văn Tự, Vệ úy Bình Thuận là Tôn Thất Mậu trông coi việc thực hiện.

Ngoài ra còn có một số tư liệu khác cũng nhắc đến thành Biên Hòa với một số chi tiết khác như: có dựng 1 kỳ đài, mỗi cửa ra vào đều có bắc cầu đá ngang qua hào để làm lối ra vào, hào rộng 4 trượng, sâu 6 thước, tường thành dày trượng. Một số giả thuyết cho rằng, thành Biên Hòa được xây dựng trên dấu tích cũ của một thành trì của dân Lạp Man (Chân Lạp). Theo tác giả Lương Văn Lựu thì đời Gia Long vào năm 1816 thì thành Biên Hòa đã được xây. Trước tiên, thành Biên Hòa đắp bằng đất, sau này, xây bằng đá ong.


Cổ thành Biên Hòa là một công trình phòng thủ quân sự của triều Nguyễn ở vùng đất Biên Hòa. Hệ thống bố phòng ở Biên Hòa lúc bấy giờ còn có các trạm, lũy, tấn, đồn thủ tại các nơi xung yếu. (Cũng cần nói thêm: tỉnh Biên Hòa lúc bấy giờ gồm phủ Phước Long và 4 huyện: Phước Chánh, Phước An, Bình An, Long Thành. Đối chiếu với địa giới hiện nay thì nó bao gồm các tỉnh hiện nay như: Biên Hòa, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước và một phần đất của các quận, huyện thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận). Ngoài chức năng của một trung tâm các hoạt động nhiều mặt của xã hội đương thời, cổ thành Biên Hòa đóng góp rất quan trọng trong việc bố phòng, trấn an vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai. Thành Biên Hòa là điểm chỉ huy của các cuộc trấn áp đối với sự nổi dậy phá hoại của các tộc người miền núi không tuân phục triều Nguyễn, triều Nguyễn gọi chung là man sách.

Trong diễn trình lịch sử kế tiếp, thành Biên Hòa có vị trí quan trọng của triều Nguyễn trong việc trấn áp các cuộc nổi dậy mà tiêu biểu là cuộc khởi binh của Lê Văn Khôi ở Phiên An. Cuộc khởi binh của Lê Văn Khôi vào năm 1833 và bị dập tắt hòan toàn vào năm 1835. Trong thời đoạn này, thành Biên Hòa nhiều lần đổi chủ. Lúc thì quân của Lê Văn Khôi chiếm lấy, sau đó quân của triều Nguyễn chiếm lại.

Sự biến động này không chỉ làm đau đầu triều Nguyễn mà còn làm cho trăm dân của Biên Hòa lâm vào nạn chiến tranh. Chính từ sau ” sự kiện “ Lê Văn Khôi, 3 năm sau, vua Minh Mạng thấy việc xây thành Biên Hòa “ là công trình trọng đại”, chuẩn cho xây thành Biên Hòa và sai phái trách nhiệm cho nhiều vị tướng quân. Tầm quan trọng của thành Biên Hòa không chỉ bó hẹp trong tỉnh Biên Hòa mà còn của chung khu vực Đông Nam Bộ. Điều này thể hiện sự phân công của vua Minh Mạng đối với các vị quan ở Bình Thuận, Gia Định cùng được điều trông coi.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, bởi xu thế chủ hòa của một số danh tướng đương thời nên đại quân được tăng cường đến, sung quân tại chỗ của Biên Hòa đã không ngăn được bước tiến của quân thù. Cả thành Biên Hòa rơi vào tay giặc và bắt đầu cho thời đọan lịch sử đau thương dười sự thống trị ngoại xâm từ Tây phương. Trong sự kiện này, thành Biên Hòa luôn luôn được đánh giá có một vị trí chiến lược quan trọng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại của giai đọan lịch sử này, nhưng phải cần nhắc rằng, một địa thế quan trọng trong thời điểm lịch sử này là thành Biên Hòa đã không được sử dụng đúng với tầm của chính nó.

Trong những giai đọan lịch sử về sau, thành Biên Hòa gắn với những sự kiện lịch sử đáng chú ý như trận đánh của nhóm hội kín Lâm Trung Trại vào ngày 14 tháng 2 năm 1916. Đại cuộc bất thành, một số nghĩa dõng của nhóm bị quân Pháp dùng nhiều phương cách bắt và tử hình. Tinh thần yêu nước và quật khởi xem nhẹ cái chết vì đại nghĩa dân tộc của những người lãnh đạo Lâm Trung Trại được người dân Biên Hòa ghi nhớ, tạc lòng. Những người lãnh đạo nhóm yêu nước bị Pháp tử hình được nhân dân địa phương thờ phụng tại chùa Bửu Hưng (người dân quen gọi là chùa Cô Hồn – một trong những di tích đã được tỉnh Đồng Nai xếp hạng).

Khi thực dân Pháp tái chiếm Biên Hòa, lực lượng vũ trang yêu nước Biên Hòa phối hợp với một số đơn vị khác ở miền Đông Nam Bộ tấn công vào thị xã Biên Hòa vào đầu năm 1946. Trận đánh lịch sử này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp của nhân dân Biên Hòa nói riêng và Nam Bộ nói chung. Tinh thần trận đánh cỗ võ mạnh mẽ cho phong trào tham gia kháng chiến, bất hợp tác với giặc của nhiều tầng lớp nhân dân. Diễn biến trận đánh này chúngta có thể tìm hiểu chi tiết trong nhiều sách sử của Biên Hòa – Đồng Nai, trong lý lịch hồ sơ di tích này. Đây là trận tấn công đầu tiên của lực lượng cách mạng ở Nam Bộ vào một thị xã kể từ khi thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai.

Ngoài các sự kiện tiêu biểu trên, chúng ta có thể lược nêu những sự kiện khác liên quan đến thành Biên Hòa trong các thời kỳ lịch sử về sau. Những sự kiện đó gắn liền với thể chế chính trị đương thời hoặc liên quan tới quá trình đấu tranh kháng chiến của phong trào yêu nước, phong trào đấu tranh cách mạng. Bởi lẽ, trong thời kỳ từ 1945 – 1954 hay 1954 – 1975, chính quyền đương thời đã sử dụng và xây dựng thêm một số công trình trong phạm vi cổ thành Biên Hòa phục vụ các hoạt động, chủ yếu về an ninh, quân sự: doanh trại, nhà thương, nơi giam giữ, tra khảo, sở an ninh quân đội…Và sau ngày giải phóng (năm 1975), chính quyền cách mạng địa phương tiếp quản và cũng đã tạo nên những đổi thay trong phạm vi của cổ thành để ngành hậu cần công an hoạt động.

Tôi mạo muội nói dông dài như thề để có cái nhìn về cổ thành này như thế nào cho thật khách quan. Qủa vậy, qua những tư liệu trên, chúng ta nhận thấy rõ những điểm này:
  • Về tên gọi, thành Biên Hòa có nhiều tên gọi theo cách dân gian như: thành Cựu, thành Kèn, thành Xăng đá. Tên gọi thành Kèn, thành Xăng Đá gắn với thời Pháp xâm lược, chiếm lấy thành làm nới tập trung quân lính. Thành Cựu tôi nghĩ là người dân Biên Hòa gọi từ khi vua Minh Mạng cho xây thành mới. Có hai vấn đề đặt ra tại đây: thành Cựu do người dân gọi để chỉ thành do Gia Long cho xây từ năm 1816 (?) hoặc cũng có thể để gọi thành bằng đất do Minh Mạng cho xây năm 1834. Như vậy, cái tên gọi thành Cựu chỉ xuất hiện trong hai mốc sau: năm 1834 hoặc năm 1838.
  • Thành Biên Hòa được xây dựng từ tháng 6 năm 1834. Ban đầu, thành được đắp đất với một quy mô vừa phải. Đến năm 1838 mới được xây bằng đá ong. Kiến trúc hiện tồn như tường thành và một số cấu kiện kiến trúc khác là của di tích cổ thành xây dựng cách đây 170 năm.
  • Trải qua nhiều biến cố, thành Biên Hòa có nhiều thay đổi. Âu đó cũng là số phận chung của vạn vật trong biến đổi dời thay của thời cuộc, xã hội con người. Tổng thể quy mô thành Biên Hòa nguyên khởi không còn được bảo vệ. Đợt thu hẹp đầu tiên là khi quân Pháp chiếm đóng năm 1861, chu vi thành Biên Hòa được thu hẹp chỉ còn 1/ 8. Những cấu kết kiến trúc xây dựng sau này trong phạm vi cổ thành dầu đã bị thu hẹp cũng là những dấu tích có giá trị trong diễn tiến lịch sử của vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai.
  • Cùng với hệ thống bố phòng khác, thành Biên Hòa là một công trình kiến trúc quân sự trung tâm có vị thế chiến lược của vùng Đông Nam Bộ trong chính sách trị an của nhà Nguyễn ở phía Nam của Tổ quốc. Dấu tích cổ thành Biên Hòa ngày nay có giá trị phản ánh được một trong những chiều kích lịch sử trong diễn trình lịch sử của Biên Hòa – Đồng Nai. Ngày nay, trong các thành trì chung của nhà Nguyễn ở Nam Bộ, thành Biên Hòa có lẽ là duy nhất còn để lại những dấu tích cấu kết kiến trúc lớn, khá đặc sắc.
  • Chúng ta cũng đừng quên rằng cổ thành Biên Hòa được xây dựng là một đóng góp to lớn của các thế hệ tiền nhân tại Biên Hòa. Trong buổi đầu khởi xây dựng thành bằng đất (năm 1834/ 1.000 người) và xây bằng đá ong (năm 1838/ 4.000 dân) có tổng cộng 5.000 lượt người dân tại Biên Hòa tham gia xây dựng. Đó là thành quả lao động của người dân Biên Hòa – Đồng Nai xưa. Vật liệu xây dựng thành Biên Hòa năm 1838 là vật liệu tại chỗ của Biên Hòa. Loại đá ong với những tảng lớn (hiện nay còn lại một số cạnh tường thành) cho thấy chúng được khai thác, vận chuyển khá kỳ công mà người dân Biên Hòa đã thực hiện. Theo một tài liệu thống kê những năm đầu thế kỷ XX, thì Biên Hòa có hằng trăm chỗ khai thác loại đá ong này nhưng đặc biệt là các làng: Bình Đa, Nhựt Thanh, Tân An, Tân Bản, Bình Dương,, Long Điềm, Phước Tân, An Lợi, Bình Ý, Tân Mai, Vĩnh Cửu, Tân Phong, Bình Thành, Long Thuận, Phước Long, Phước Kiển. Nhân đây xin được nói thêm rằng, trước đây khi nhà Nguyễn tiến hành xây thành Bát Quái tại Gia Định có ba lớp bảo vệ thì lớp trong cùng được xây bằng loại đá ong Biên Hòa (cao 13 thước), chân tường dày 7 trượng 5 thước).

Xin được nêu lên vấn đề quy đổi đơn vị tính mét theo hiện nay. Trong hồ sơ lý lịch di tích quy đổi ra như thế này: “ chu vi 338 trượng = 1.784,8 m, cao 8 thước 5 tấc = 3,91 m, dày 1 trượng = 4,6 m, hào rộng 4 trượng = 16,4 m, sâu 6 thước = 2,76 m” - dẫn theo cách tính trong Địa bạ triều Nguyễn của tác giả Nguyễn Đình Đầu. Trong Địa chí Đồng Nai (tập III, trang 180) khi đề cập thành Biên Hòa cho biết: “ chu vi 338 trượng (khoảng 1.350 m), tường cao 8 thước 5 tấc (khoảng 3,4 m), dày 1 trượng (4 m), hào rộng 4 trượng (16 m), sâu 6 thước (2,4 m)“.

Chúng tôi xin tóm lược dẫn lại một cách tính mà tác giả là Nguyễn Đình Đầu nêu trong Địa chí Thành phố Hồ Chí Minh (Nxb Tp.HCM 1987). Qua nhiều tư liệu (Sách Quan chế của Paulus Của năm 1888, Tự điển Tabert năm 1838 – từ điển này sử dụng tư liệu của một từ điển do Bá Đa Lộc và Hồ Văn Nghị soạn từ trước năm 1790) đã phỏng đoán rằng thước dùng ở Gia Định là thước mộc, quy đổi 1 thước mộc dài 0m487. Nhưng loại thước này chỉ dùng cho đến năm 1805. Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi đặt hiệu là Gia Long đã lấy thước cũ thời Lê để định chuẩn chung cho cả nước phải sử dụng, đó là “ quan mộc xích “, thước này dài 0m424.

Tôi thiết nghĩ rằng, thước này vẫn được dùng trong thời vua Minh Mạng. Thành Biên Hòa xây dựng trong thời Minh Mạng nên cách tính, ghi chép theo định chuẩn thước này. Như vậy, khi lấy chuẩn, 1 trượng bằng 4m24, 1 thước bằng 0m424, chúng ta sẽ lược đổi được những thông số về thành Biên Hòa như sau: chu vi 338 m (khoảng 1.433,12 m), tường cao 8 thước 5 tấc (khoảng 3, 604 m), dày 1 trượng (khoảng 4,24 m), hào rộng 4 trượng (khoảng 16,96 m), sâu 6 thước (khoảng 2,544 m). Ý kiến này chúng tôi nêu như một sự tham khảo và rất mong được sự giúp đỡ cho biết thêm của các nhà nghiên cứu.

*
Trên những cơ sở dữ liệu trên, tôi thiết nghĩ dấu tích kiến trúc cổ thành Biên Hòa hiện tồn trong nội ô Biên Hòa hiện nay (phường Quang Vinh) là một di tích lịch sử cần được bảo vệ, tôn tạo và phát huy trong đời sống hiện tại. Sự tồn tại của những dấu tích kiến trúc này là một điều may mắn và tự hào cho địa phương, các nhà quản lý, chuyên ngành trong công tác bảo vệ. Mọi sự so sánh đều khập khiểng nhưng nhân đây, tôi cũng muốn có đôi lời về sự kiện liên quan đến thành cổ Thăng Long trong một khía cạnh. Cổ thành Biên Hòa không có bề dày như hoàng thành của vùng kinh kỳ Thăng Long. Nhưng phải mất thời gian và công sức, phải khai quật từ lòng đất mới tìm thấy vết tích hoàng thành; trong khi ở Biên Hòa, dấu tích lộ thiên trên mặt đất. Diễn trình của vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai chỉ hơn 300 năm có lẻ thì thành Biên Hòa tồn tại 170 năm. Các di tích vật thể loại hình thành trì thời Nguyễn ở Nam Bộ hầu như không còn để lại dấu tích kiến trúc như thành Biên Hòa. Vì vậy, khi bảo vệ di tích này, đây sẽ là một loại hành di tích độc đáo của cả Nam Bộ và có thể phát huy tác dụng hiệu quả cao giá trị của chúng trong các hoạt động liên quan.

Nhưng chúng ta bảo vệ như thế nào ? Đó chính là câu hỏi không kém phần quan trọng. Theo tôi được biết, việc bảo vệ di tích này còn có những chỗ “ vướng nhau “ trong công tác quy hoạch đô thị. Khi xã hội phát triển bao giờ cũng có những vấn đề nảy sinh giữa công việc bảo vệ di sản và phát triển mà quan trọng là phát triển đô thị, khi nguồn đất là yếu tố cần thiết. Gía trị di sản là vô cùng quan trọng nhưng không phải vì thế mà nó cản trở cho sự phát triển; song cũng không phải vì phát triển bằng mọi giá mà chúng ta phá bỏ giá trị di sản. Những thiệt hại về kinh tế chúng ta có thể khắc phục được dù có mất nhiều thời gian nhưng giá trị di sản thi không thể. Vì vậy, qua một số tư liệu chúng tôi tham khảo, một số nơi khi tiến hành quy hoạch phát triển, công tác điều tra di sản thường được thực hiện trước. Đối với di tích thành cổ Biên Hòa, chúng tôi đề nghị giữ nguyên hiện trạng của di tích trong hồ sơ khoanh vùng bảo vệ. Như thế, có nghĩa một số chi tiết về quy hoạch đô thị liên quan đến di tích thành Biên Hòa cần được điều chỉnh. Hẳn mọi công dân của Biên Hòa sẽ rất vui sướng khi thấy thành phố Biên Hòa phát triển với những quy hoạch khoa học, hiện đại. Và người dân sẽ càng tự hào hơn nữa khi trong đô thị hiện đại ấy bảo lưu những giá trị di sản độc đáo của nơi mình đang sống. Một khoảng của chiều kích lịch sử gắn liền với công sức của tiền nhân, những sự kiện lịch sử được hiển hiện trong lòng một đô thị mới và giá trị di sản ấy được giữ gìn cho muôn đời sau dù cuộc sống, xã hội có phát triển đến mức nào.


Di tích thành cổ Biên Hòa được bảo vệ sẽ làm phong phú thêm danh mục di tích của thành phố Biên Hòa và là một loại hình di tích độc đáo. Trong tương lai, chắc chắn thành phố Biên Hòa sẽ phát triển hơn hiện tại. Hiện nay, thành phố Biên Hòa đã là đô thị loại II trải qua 11 năm (1993 –2004). Hoạt động văn hóa thành phố này chắc chắn sẽ phát triển theo hướng tích cực và tất yếu phù hợp với sự phát triển chung của địa phương. Vì vậy, di tích thành cổ Biên Hòa sẽ có cơ hội, điều kiện thuận lợi để phát huy hơn. Tôi cũng mạo muội nêu lên ý này: Chúng ta có thể tôn tạo, sử dụng những cấu kết kiến trúc trong phạm vi di tích thành Biên Hòa thành Bảo tàng và hình thành một điểm sinh hoạt văn hóa của thành phố Biên Hòa. Bộ sưu tập súng thần công, đại bác hiện nay tại Bảo tàng Đồng Nai chuyển về đây trưng bày sẽ tăng thêm ý nghĩa, giá trị của chúng. Nội dung cấu kết trưng bày tại di tích sẽ rất phong phú khi thể hiện lịch sử vùng đất Biên Hòa và tôn vinh những danh tướng có công với xứ sở này. Đây cũng có thể được xem như một Võ miếu – vốn di tích là thành trì quân sự, trong khi chúng ta đã xây dựng một công trình vănhóa - Văn miếu.





Ths Phan Đình Dũng
Ảnh: Phạm Hoài Nhân

Thành cổ Biên Hòa

đăng 05:34 21-02-2011 bởi Nhan Pham   [ cập nhật 02:55 01-02-2012 bởi Pham Hoai Nhan ]

Du khách đi Nha Trang khi gần đến trung tâm thành phố sẽ qua một nơi gọi là Ngã ba Thành, vì vậy khi dạo chơi ở thành phố Biên Hòa sẽ ngạc nhiên khi nghe nói: Tới Ngã ba Thành rồi!

Ồ, ở Biên Hòa cũng có Ngã ba Thành, nhưng đó là Thành Kèn (chứ không phải thành Diên Khánh ở Nha Trang). Gọi là ngã ba Thành vì nơi đó có một ngôi thành cổ, rất cổ - có thể coi là cổ nhất của Nam bộ.

Thành cổ Biên Hòa nằm ngay giữa thành phố Biên Hòa hiện đại. Bơ vơ. Điêu tàn.


Thành cổ nằm ở đường Phan Chu Trinh, phường Quang Vinh, TP.Biên Hòa. Nếu bạn không chú ý, bạn sẽ không thấy thành cổ mà chỉ thấy siêu thị, chợ, và những tòa nhà mới xây to đẹp, còn thành cổ thì nằm khiêm tốn, khuất sau cổng của... Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Đồng Nai. Vết tích còn lại là một vòng thành được xây dựng bằng đá ong, bên trong có ngôi nhà kiến trúc theo kiểu Pháp. Thành cổ ở đó, như một lão già sắp tàn hơi, nằm nghiền ngẫm sự đời qua bao thế kỷ, và nhìn đám hậu sinh đang xôn xao giữa chốn phồn hoa.
 
Thành cổ Biên Hòa được xây dựng từ năm nào?

Theo thư tịch cổ, từ thế kỷ 14-15, thành do dân Lạp Man xây đắp bằng đất với tên gọi "Thành Cựu". Thời nhà Nguyễn, thành được xây dựng lại trên nền Thành Cựu, có mở rộng hơn, với tên gọi thành Biên Hòa. Theo tác giả Lương Văn Lựu viết trong Biên Hòa sử lược, thì "Thành được xây dựng vào năm Gia Long thứ 15 (tức 1816) tại địa hạt thôn Bàn Lân (thôn Tân Lân) huyện Phước Chánh, tỉnh Biên Hòa cũng với tên gọi là "Thành Cựu" do dân Lạp Man xây đắp bằng đất. Chu vi thành dài 338 trượng, cao 8 thước 5 tấc, dày 1 trượng. Hào xung quanh rộng 4 trượng, sâu 6 thước. Thành có 4 cửa và một kỳ đài (phía chánh điện). Mỗi cửa ngõ có bắc một cầu đá ngang qua hào để làm lối lưu thông ra vào". Thành được xây theo hình cánh cung, đến năm Minh Mạng thứ 18 (tức 1837), Thành Cựu được xây dựng lại bằng đá ong và đổi tên thành Thành Biên Hòa.
 
Khi Pháp đánh chiếm các tỉnh Nam bộ, Thành Biên Hòa trở thành nơi phòng ngự, phản công địch của quan quân nhà Nguyễn. Tháng 12-1861, Thành Biên Hòa rơi vào tay thực dân Pháp. Trong thời gian chiếm đóng, quân đội Pháp tiến hành xây dựng lại, thu gọn chu vị thành còn 1/8 so với trước và gọi là thành "Xăng đá", phiên âm từ tiếng Pháp Soldat - nghĩa là "Thành Lính". Hào phía đông được lấp đất lại xây cất phố xá và một số doanh trại, biệt thự, nhà thương... trong nội thành cho sĩ quan cao cấp và quân đội Pháp ở. Buổi sáng lính thường sử dụng kèn báo thức, âm thanh vang cả một vùng nên dân địa phương còn gọi là Thành Kèn.
 
Những tài liệu nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đều cho biết, Thành Biên Hòa có một vị trí rất quan trọng trên nhiều mặt. Đây là ngôi thành cổ duy nhất ở Đồng Nai còn sót lại trên đất Nam bộ. Nơi đây đã ghi dấu ấn nhiều sự kiện lịch sử tiêu biểu trong cuộc khai phá đất Đàng Trong thời chúa Nguyễn, cũng như giai đoạn chống Pháp và Mỹ sau này.

Việc phát triển du lịch ở Biên Hòa chưa tốt lắm, trong các tour du lịch Đồng Nai cũng không thấy điểm đến là Thành Kèn - và hơn nữa, nếu bạn ham vui thì đến đây rất buồn chán. Nó cứ bùi ngùi như "Nền cũ lâu đài bóng tịch dương".


Nhưng tôi xin bạn, nếu có dịp ghé đến Biên Hòa, hãy bỏ chút thời giờ đến đây đi. Bởi vì có thể ngày nào đó Thành cổ Biên Hòa hoặc sẽ sụp đổ, hoặc sẽ được trùng tu lại mới mẻ hơn, và bạn đến đây sẽ không còn cảm giác:

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường


Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Rêu phong phủ mờ


Từ trong thành cổ nhìn ra ngoài - từ dĩ vãng nhìn ra hiện tại

Còn ở đây: Từ dĩ vãng nhìn dĩ vãng

Cuộc sống mới từ chốn cổ xưa

Rể cây ăn vào thành, như những ngôi đền Ăng-ko


Bí mật ngôi mộ cổ

đăng 05:12 04-01-2011 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 02:19 01-02-2012 ]

Không vĩ đại như kim tự tháp Ai Cập, cũng không nổi tiếng bằng Angkor, nhưng ngôi mộ cổ ấy có niên đại hơn 2.000 năm và chứa đựng những bí ẩn cũng như những điều kỳ diệu từ thuở xa xưa.

Đó là Mộ Cự Thạch Hàng Gòn (Cự thạch ở đây nghĩa là khối đá lớn).

Photobucket

Các nhà khoa học đánh giá, đây là một di tích độc đáo cả về nghệ thuật và kỹ thuật của các tộc người cổ Nam Á nói chung và người Việt cổ nói riêng.

Mộ Cự thạch Hàng Gòn là một dạng hầm mộ, được cấu tạo bởi những tấm đá hoa cương lớn và những trụ đá dài, nặng khoảng 30 - 40 tấn. Ngôi mộ có hình chữ nhật dài 4,2m, ngang 2,7 mét, cao 1,6 mét được ghép bới 6 tấm đá hoa cương được bào khá nhẵn ở mặt ngoài; 4 tấm đá thẳng đứng dùng làm vách, 2 tấm nằm ngang dùng làm mặt đáy và nắp đậy.

Liên kết giữa tấm đá hoa cương nhờ vào hệ thống rãnh dọc chắc chắn. Xung quanh mộ có nhiều trụ đá hoa cương cao 7,5 mét, tiết diện mặt cắt ngang hình chữ nhật dài 1,10m X 0,3m, phần lớn các đầu trụ được khoét lõm hình yên ngựa.

Các nhà địa chất xác định rằng loại đá hoa cương xây mộ có xuất xứ từ Phan Rang hoặc Đà Lạt.

  • Đây là ngôi mộ của AI? Một người hay nhiều người? Nếu là một người thì nhân vật đó quan trọng như thế nào để có ngôi mộ đồ sộ như vậy?
  • Hai ngàn năm trước, người cổ làm cách nào để đưa những phiến đá to nặng hàng chục tấn như vậy từ mãi tận Phan Rang, Đà Lạt đến Đồng Nai? Họ đã gia công như thế nào?

Đó là những câu hỏi vẫn chưa có lời đáp.

Ngôi mộ được phát hiện từ năm 1927. Hiện được xếp hạng di tích quốc gia. Từ đó đến nay đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà khảo cổ trên thế giới.

Đến đây cảnh quan không hùng vĩ, cũng không có điểm vui chơi giải trí, nhưng lẽ nào bạn không đến một lần để tận mắt thấy một công trình mộ cổ huyền bí?

Ngôi mộ này ở xã Hàng Gòn, thuộc thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Mỗi lần bạn đi từ TPHCM về Phan Thiết, Nha Trang bạn đều đi ngang rất gần nó. Tôi chỉ đường cho bạn nhé: xe đi theo quốc lộ 1, đến thị xã Long Khánh, ra đến ngã ba Tân Phong - hướng bên trái là ra Phan Thiết (quốc lộ 1), bên phải là đi Bà Rịa (quốc lộ 56). Bạn đi theo quốc lộ 56 khoảng 3 km thôi, bên tay phải cách lộ khoảng 100 met là Mộ Cự Thạch Hàng Gòn rồi.

Hãy dành ít phút đến để chiêm nghiệm một trong những điều bí ẩn của ngàn xưa nhé! (Vào cửa tự do, không phải mua vé! Hi hi!)

Cầu Ghềnh và tháp Eiffel

đăng 06:08 28-12-2010 bởi Nhan Pham   [ cập nhật 02:27 01-02-2012 bởi Pham Hoai Nhan ]

Hai công trình kiến trúc này có điểm gì chung?

Pham Hoai Nhan's album

Tháp Eiffel nổi tiếng của thủ đô Paris hoa lệ.

Pham Hoai Nhan's album

Cầu Ghềnh gập ghềnh khó đi của Biên Hòa trầm lặng.

Điểm giống nhau dễ thấy nhất là cả hai đều là những công trình xây dựng bằng thép.

Điểm giống nhau không thấy được là cả hai có cùng một tác giả thiết kế kiến trúc: Kiến trúc sư lừng danh Gustave Eiffel (1832 - 1923).

Nhiều tư liệu nói rằng kiến trúc sư Eiffel có 3 công trình kiến trúc cầu ở Việt Nam: Cầu Long Biên (Hà Nội), cầu Tràng Tiền (Huế) và cầu Ghềnh (Biên Hòa).

Wikipedia, trong phần tiểu sử Eiffel có nêu tên một số công trình kiến trúc tiêu biểu của ông, trong đó có cầu Long Biên và cầu Tràng Tiền, không thấy ghi tên Cầu Ghềnh - có lẽ vì cầu Ghềnh quá "bé bỏng" so với 2 "đàn anh" kia chăng?

Một thông tin gần đây cho biết cầu Long Biên không phải do Công ty của Eiffel thiết kế xây dựng, mà là một công ty của Pháp có tên là Daydé & Pillé (*).

Thế còn cầu Ghềnh, có đúng là do Eiffel thiết kế không nhỉ?

Cầu Ghềnh - chính xác là 2 cây cầu được bắc qua cù lao Phố, mang tên cầu Rạch Cát dài 125,37 met và cầu Ghềnh dài 223,30 met - được xây dựng năm 1909.

Vậy là 2 năm nữa, năm 2009, sẽ là tròn 100 năm ngày sinh của cặp đôi cầu Ghềnh này. Có nên có một lễ kỷ niệm 100 năm cầu Ghềnh không nhỉ?

_____

(*) Các tài liệu tại cục lưu trữ Việt Nam cũng như tấm bảng đồng ở đầu cầu phía nội thành Hà Nội đều ghi tên hãng thiết kế là Daydé & Pillé. Theo tài liệu tham khảo được thì vòng bỏ thầu đầu tiên, 5 hãng tham gia thì 3 hãng bật ra, trong đó có hãng Eiffel. Vòng hai còn 2 kỳ phùng địch thủ là L.Perret với giá 5387540.60F và Daydé & Pillé với giá cao hơn chút đỉnh 5390794F. Nhưng theo tiểu ban kỹ thuật bỏ thầu với cái nhìn đặc trưng kiểu Pháp đã khuyến nghị viên toàn quyền Paul Doumer không nên tiết kiệm một số tiền quá nhỏ để hy sinh một cây cầu chắc chắn với kiểu kiến trúc gothic trang nhã của hãng Daydé & Pillé. Như vậy có thể khẳng định hãng của Eiffel có tham gia đấu thầu nhưng đã bị loại ngay từ đầu. Còn tên của kỹ sư hay kiến trúc sư nào thiết kế cây cầu này đến nay vẫn là ẩn số.

1-7 of 7