Bài viết của chi bộ sinh viên


Những người trẻ đang chờ đợi điều gì nhất ở Ðảng? - Đảng đang thay đổi

posted Feb 3, 2015, 8:22 AM by Cb Sinh vien

Những người trẻ đang chờ đợi điều gì nhất ở Ðảng? Câu hỏi xoay quanh câu chuyện này đã được Tuổi Trẻ đặt ra với ba bạn trẻ.

Ðó là Phan Thị Thanh Phương, ủy viên Ban thường vụ Thành đoàn TP.HCM, phó chủ tịch Hội LHTN TP.HCM; anh Lê Phúc Yên - thạc sĩ Fulbright và bạn Nguyễn Thị Phương Thảo - nhân viên Ngân hàng TMCP Quân đội, ủy viên Ban chấp hành T.Ư Hội Sinh viên VN.

Đảng đang thay đổi

* Bạn Lê Phúc Yên có nói “dù không phải là đảng viên nhưng cuộc sống của mình gắn liền với Ðảng, với những người trong Ðảng”. Bạn có thể cho một ví dụ cụ thể?

            - Lê Phúc Yên: Ðơn giản thôi. Chẳng hạn tôi rất ấn tượng với câu nói của Thủ tướng phát biểu trong một cuộc họp vào đầu năm 2015 rằng chúng ta không thể cấm người dân đưa thông tin lên mạng. Rõ ràng là không thể bưng bít thông tin được.

            Mấy chục năm trước có thể ai đó nói trái nho của Việt Nam ngon hơn của Mỹ, nhưng bây giờ chúng ta đã có đủ thông tin để so sánh được, không thể nói khơi khơi. Mình có thể so sánh để biết mình đang ở đâu. Tôi nghĩ động thái của thủ tướng thể hiện mong muốn đất nước đổi mới.

            - Phan Thị Thanh Phương: Hiện nay ngoài chuyện quản lý chung của Ðảng, Ðảng còn tổ chức những đơn vị như là cánh tay nối dài của mình, nhưng thực tế là tham gia công tác điều hành chung.

            Tôi ví dụ bạn Nguyễn Thị Phương Thảo từng là chủ tịch Hội Sinh viên Trường đại học Kỹ thuật công nghệ. Khi tôi là sinh viên thì sinh viên chưa được đảm nhiệm vai trò này.

            Trong quá trình thay đổi, nhận thức lại rằng tổ chức hội sinh viên phải để sinh viên thể hiện vai trò của mình, nên đã có quan điểm chỉ đạo rằng tất cả chủ tịch hội sinh viên các trường phải là sinh viên, tăng số lượng các phó chủ tịch.

            Nghĩa là hiện nay Ðảng đang giao nhiệm vụ cho các bạn trẻ ở các tổ chức để họ tiếp cận đúng đối tượng của họ. Tôi nghĩ đó là sự tin tưởng. Hồi trước nếu là bí thư chi bộ sinh viên phải là thầy cô để định hướng quan điểm của sinh viên, nhưng bây giờ sinh viên sẽ là bí thư, phó bí thư chi bộ. Tôi thấy đó là sự thay đổi rất lớn.

* Chúng ta đều thấy Ðảng có nhiều đổi mới, nhiều mục tiêu, chính sách hướng đến người trẻ. Nhưng vì sao một bộ phận trẻ vẫn phân vân bước vào Ðảng?

            - Lê Phúc Yên: Ông nội và ba tôi đều là đảng viên nhưng tôi vẫn chưa vào Ðảng. Tôi đã ứng tuyển và đi làm ở nhiều doanh nghiệp, tôi thấy người trẻ có rất nhiều cơ hội, nhiều nghề nghiệp để lựa chọn. Vào Ðảng cũng phải từ hai phía.

                - Phan Thị Thanh Phương: Hồi tôi còn là bí thư chi bộ sinh viên, có bạn hỏi em muốn đi du học, chưa muốn vào Ðảng. Tôi nói vẫn ủng hộ em, vấn đề là em đi du học rồi, em lĩnh hội được những điều tốt, em làm tốt nhất cho em đi. Vì bản thân một người tốt sẽ làm đất nước tốt lên hơn. Bản thân tôi rất coi trọng những người thẳng thắn như vậy.
Thạc sĩ Lê Phúc Yên - Ảnh: Quang Định

Tôi thấy lãnh đạo trẻ trong Đảng còn hạn chế so với thời gian đầu khi Đảng thành lập. Có phải do cơ chế, vị trí có hạn nên phải đi từ từ, phải đợi xếp hàng? - LÊ PHÚC YÊN



Những người trẻ đang chờ đợi điều gì nhất ở Ðảng? - Muốn Đảng gần gũi hơn nữa

posted Feb 3, 2015, 8:13 AM by Cb Sinh vien   [ updated Feb 3, 2015, 8:16 AM ]

Những người trẻ đang chờ đợi điều gì nhất ở Ðảng? Câu hỏi xoay quanh câu chuyện này đã được Tuổi Trẻ đặt ra với ba bạn trẻ.
Ðó là Phan Thị Thanh Phương, ủy viên Ban thường vụ Thành đoàn TP.HCM, phó chủ tịch Hội LHTN TP.HCM; anh Lê Phúc Yên - thạc sĩ Fulbright và bạn Nguyễn Thị Phương Thảo - nhân viên Ngân hàng TMCP Quân đội, ủy viên Ban chấp hành T.Ư Hội Sinh viên VN.
Muốn Đảng gần gũi hơn nữa
* Tiếp xúc nhiều với những người trẻ cùng trang lứa, các bạn thấy họ chờ đợi điều gì nhất ở Ðảng?

        - Phan Thị Thanh Phương: Ðiều đầu tiên tôi thấy là thanh niên vào Ðảng hay chưa vào Ðảng đều có điểm chung là lòng yêu nước thể hiện rất rõ nét, nhất là trong giai đoạn vừa rồi khi Trung Quốc có hành vi xâm phạm chủ quyền đất nước. Vì rất trẻ, rất sáng tạo nên các bạn luôn đòi hỏi liên tục sự đổi mới, không chỉ ở Ðảng mà sự lãnh đạo nói chung.

        Tôi nghĩ là Ðảng đã tạo điều kiện cho lớp trẻ tham gia câu chuyện của Ðảng rồi, nhưng điều này cần được thể hiện mạnh mẽ hơn, nghĩa là tạo nhiều điều để các bạn tham gia các vị trí, vai trò chủ chốt để cùng điều hành.
Đảng viên Phan Thị Thanh Phương - Ảnh: Quang Định

Với những bạn trẻ chưa muốn vào Đảng, tôi nghĩ mỗi người có một niềm tin, không thể nói ép anh phải theo niềm tin của tôi - PHAN THỊ THANH PHƯƠNG

        - Nguyễn Thị Phương Thảo: Tôi vào Ðảng từ năm thứ 3 khi đang học Ðại học Kỹ thuật công nghệ. Tôi nhận thấy là có khá nhiều bạn mong muốn được vào Ðảng nhưng các điều kiện, tiêu chí của đảng bộ đặt ra các bạn chưa đáp ứng hết được.

        Tôi nghĩ Ðảng phải gần sinh viên hơn nữa, không phải chỉ để giúp họ đáp ứng được các tiêu chí mà quan trọng là giúp các bạn sinh viên hiểu được trách nhiệm của mình, trước tiên là một người thanh niên, sau đó mới nhận thức rõ nét và kỹ hơn vấn đề kết nạp vào Ðảng.
Đảng viên Nguyễn Thị Phương Thảo - Ảnh: Quang Định

Cách mà tổ chức Đảng làm đôi khi vẫn chưa thật sự thuyết phục, thu hút các bạn tham gia vào tổ chức của mình- NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO

        - Lê Phúc Yên: Tôi muốn hỏi bạn Thảo vì sao mong muốn chi bộ Ðảng gần gũi hơn nữa, có phải trong thực tế xa rời sinh viên, thanh niên hay không, hay việc hỗ trợ chỉ nói bằng lời? Tôi đồng ý với bạn Phương là người thanh niên dù có Ðảng hay không đều có tinh thần yêu nước.

        Nhưng Ðảng có tạo nhiều cơ hội cho thanh niên cũng như là nhiều thanh niên đảm nhận những trọng trách trong Ðảng, chị có số liệu nào để chứng minh hay không?

        Liệu có phải rằng Ðảng mở, nhưng thanh niên chưa có tầm để được Ðảng tin tưởng hay không? Mình không phải là đảng viên nhưng cuộc sống của mình gắn liền với hoạt động của Ðảng, với những người trong Ðảng.

        Ðổi mới hay trì trệ của Ðảng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mọi người vì Ðảng là lực lượng lãnh đạo đất nước từ 1945 đến nay.

Thạc sĩ Lê Phúc Yên - Ảnh: Quang Định

Diễn văn của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Lễ Kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt 25 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân.

posted Dec 22, 2014, 7:59 AM by Cb Sinh vien


Sáng 20/12, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã tổ chức trọng thể Lễ Kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2014) 25 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân   (22/12/1989 - 22/12/2014) và đón nhận Huân chương Sao Vàng lần thứ 5. TTXVN xin trân trọng giới thiệu toàn văn Diễn văn của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại buổi lễ trọng thể này. Toàn văn như sau: 
 - Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đồng chí lão thành cách mạng, 

 - Thưa các Mẹ Việt Nam anh hùng, các Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, các vị khách quốc tế, quý vị đại biểu! 

 - Thưa đồng bào và chiến sĩ cả nước! 

 Hôm nay, trong niềm phấn khởi, tự hào, chúng ta long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 25 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân. Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi trân trọng gửi đến các đồng chí đại biểu, các vị khách quý các Mẹ Việt Nam anh hùng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, các đồng chí thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng các đồng chí tướng lĩnh, sỹ quan cao cấp và cán bộ, chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam, đồng bào cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài những tình cảm thân thiết, lời chúc mừng nồng nhiệt nhất. 

 Trong giờ phút trang trọng này, chúng ta thành kính tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, Lãnh tụ thiên tài, người Thầy vĩ đại của Cách mạng Việt Nam, người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân. 

 Chúng ta trân trọng tưởng nhớ Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo quân sự tài năng xuất chúng, người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam và các vị tướng lĩnh mà tên tuổi gắn liền với các chiến công vang dội của quân và dân ta, là tấm gương sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. 

 Chúng ta kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, đồng bào, đồng chí đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân, vì nghĩa vụ quốc tế vẻ vang. 

 Chúng ta mãi biết ơn đồng bào ta trên mọi miền đất nước đã hết lòng đùm bọc, che chở và luôn kề vai sát cánh cùng các lực lượng vũ trang nhân dân đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược mãi mãi khắc ghi công ơn các Mẹ Việt Nam Anh hùng đã sinh thành, nuôi dưỡng những người con trung hiếu, đóng góp xứng đáng vào sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam. 

 Chúng ta chân thành cảm ơn nhân dân và Quân đội các nước anh em, bè bạn quốc tế đã dành cho Quân đội và nhân dân Việt Nam sự giúp đỡ to lớn, có hiệu quả trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. 

 Thưa đồng bào và chiến sĩ cả nước! 

 Thưa các vị khách quý! 

 Cách đây 70 năm, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – đội quân chủ lực đầu tiên, tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành lập tại khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm Na Sang, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng). Đây là một sự kiện lịch sử trọng đại của cách mạng Việt Nam. Ra đời và phát triển trên cơ sở các đội vũ trang cách mạng của Đảng, Quân đội nhân dân Việt Nam là một đội quân kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc, có mục tiêu chiến đấu vì độc lập, tư do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Với ý nghĩa đó, ngày 22 tháng 12 hằng năm đã trở thành ngày truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam. 

 70 năm qua, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, được sự thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, kế thừa và phát huy tinh thần yêu nước và nghệ thuật quân sự của dân tộc Việt Nam, vượt qua muôn vàn gian lao, thử thách, Quân đội nhân dân Việt Nam đã cùng toàn dân làm nên những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang. 

 Từ chiến công đầu Phai Khắt, Nà Ngần, chiến dịch Việt Bắc, chiến dịch Biên giới (1950) đến cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953- 1954, mà đỉnh cao là trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, đập tan ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ, mở ra giai đoạn cách mạng mới, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc để tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam từ những chiến thắng: Ấp Bắc, Bình Giã, Đồng Xoài, Ba Gia, Núi Thành, Vạn Tường, Plâyme, những chiến dịch: Mậu Thân 1968, Đường 9 – Nam Lào, “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Quân đội ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã cùng toàn dân lập nên những chiến công chói lọi, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội. 

 Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Quân đội nhân dân và công an nhân dân là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, thành quả cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Quân đội nhân dân luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đập tan mọi âm mưu và hành động xâm phạm chủ quyền biên giới, biển, đảo của Tổ quốc thực hiện sáng tạo, có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, các công trình có ý nghĩa chiến lược của đất nước. Quân đội tích cực tham gia các phong trào đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới xây dựng địa bàn an toàn, xây dựng hệ thống chính trị và đời sống văn hóa cơ sở, nhất là ở các địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và biên giới, hải đảo góp phần rất quan trọng vào sự nghiệp củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, tăng cường “thế trận lòng dân”, tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân. Quân đội luôn là lực lượng đi đầu trong công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, giải quyết hậu quả chiến tranh và thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội. 

 Trải qua 70 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, đối mặt với biết bao thử thách, khắc nghiệt, nhất là trước những bước ngoặt của cách mạng, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn luôn tỏ rõ bản lĩnh của một đội quân cách mạng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu một lực lượng chính trị đặc biệt, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ là một đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất mà còn là đội quân văn hóa, là hình mẫu của quân đội cách mạng. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, dù phải chịu đựng nhiều gian khổ, hy sinh dù phải đương đầu với những âm mưu, thủ đoạn tinh vì, xảo quyệt của kẻ thù, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nhất mực lòng trung thành, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, chủ động sáng tạo, mưu trí dũng cảm, quyết chiến, quyết thắng, gắn bó máu thịt với nhân dân, thương yêu đồng chí, đồng đội, kỷ luật nghiêm minh các thế hệ cán bộ, chiến sỹ đã nối tiếp lập nên những chiến công hiển hách, làm rạng rỡ lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, xây đắp nên truyền thống vẻ vang, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân khen tặng, xứng đáng là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng. 

 Thưa đồng bào và chiến sĩ cả nước! 

 Thưa các vị khách quý! 

 Đoàn kết toàn dân, lấy ý chí của nhân dân làm thành trì vững chắc để bảo vệ Tổ quốc là bài học mà cha ông ta đã từng đúc kết trong lịch sử chống giặc ngoại xâm. Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, bài học ấy tiếp tục được phát huy và sức mạnh bảo vệ Tổ quốc lại được nhân lên gấp bội. Từ năm 1989, Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam được xác định đồng thời là Ngày Hội Quốc phòng toàn dân. Từ đó đến nay, ngày 22/12 hằng năm đã trở thành ngày hội lớn, ngày hội biểu dương sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, thể hiện quân với dân một ý chí trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tôn vinh và nhân lên hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ - một giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam trong thời đại mới. 

 25 năm qua, ý thức trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc của toàn xã hội và sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân được nâng cao. Phong trào toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phát triển mạnh mẽ. “Thế trận lòng dân”, nhân tố cơ bản của thế trận quốc phòng toàn dân được củng cố vững chắc. Mối quan hệ quân dân được tăng cường trên cơ sở sự nhất trí về chính trị tinh thần, thống nhất về mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là một thành tựu lớn trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại, nền quốc phòng của dân, do dân, vì dân. 

 Thưa đồng bào và chiến sĩ cả nước! 

 Thưa các vị khách quý! 

 Những năm tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định, bất trắc, khó lường. Quan hệ giữa các nước lớn vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, kiềm chế lẫn nhau, chi phối các quan hệ quốc tế. Các nước tiếp tục điều chỉnh chiến lược, hình thành những tập hợp lực lượng mới trong khu vực và trên thế giới. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á, cơ bản vẫn ổn định và phát triển, nhưng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biên giới, biển, đảo tiếp tục gia tăng. Các thế lực thù địch tăng cường thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhân dân. Tình hình trên đặt ra những vấn đề mới, yêu cầu ngày càng cao, đòi hỏi chúng ta phải tập trung nỗ lực phấn đấu, mạnh mẽ, quyết tâm hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

 Nắm vững và vận dụng nhuần nhuyễn bài học của ông cha ta “Dựng nước đi đôi với giữ nước”, “Giữ nước từ khi nước chưa nguy”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục khẳng định quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. 

 Chúng ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Phát huy cao nhất sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại. Nắm chắc nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tập trung xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, nhất là ở những địa bàn chiến lược, trọng điểm.   

Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Nắm vững nguyên tắc xây dựng Quân đội về chính trị, nâng cao chất lượng chính trị, lấy chất lượng chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Coi trọng xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, cả tổ chức biên chế và trang bị, trình độ chính quy và trình độ tác chiến, cả lực lượng thường trực và lực lượng dự bị có cơ cấu và quy mô hợp lý, theo hướng tinh, gọn, mạnh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong thời bình, sẵn sàng đánh thắng trong mọi tình huống. Chủ động dự báo, nhạy bén nắm bắt tình hình bình tĩnh, khôn khéo, tỉnh táo, sáng suốt trong xử lý các tình huống cụ thể không để bị kích động, mắc mưu, khiêu khích, bị động, bất ngờ trong mọi tình thế.
 
Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ huấn luyện, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, Quân đội phải là lực lượng xung kích trong công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa môi trường, cứu hộ, cứu nạn, chống khủng bố..., coi đó là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình. Tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thiết chế dân chủ và kỷ luật trong Quân đội. Giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của hệ thống tổ chức đảng trong Quân đội đặc biệt là phải gắn bó máu thịt với nhân dân, bởi đó là cội nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của quân đội và dân tộc ta.
 Thưa đồng bào và chiến sĩ cả nước! 

 Thưa các vị khách quý! 

Là một dân tộc yêu chuộng hòa bình, Việt Nam coi giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của đất nước. Chúng ta thực hiện chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình và tự vệ kiên trì chủ trương không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế giải quyết các vấn đề tồn tại, bất đồng và tranh chấp lãnh thổ bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Chúng ta chủ trương từng bước hiện đại hóa quân đội chỉ nhằm duy trì sức mạnh quân sự ở mức cần thiết để tự vệ. Là dân tộc thấu hiểu nỗi đau thương do chiến tranh xâm lược của ngoại bang gây ra, chúng ta triệt để tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của các quốc gia khác trên cơ sở nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc, đồng thời đòi hỏi các quốc gia khác cũng phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia dân tộc của Việt Nam. Chúng ta chủ trương không đe dọa hoặc sử dụng sức mạnh quân sự trong quan hệ quốc tế, nhưng sẵn sàng tự vệ, đập tan mọi hành động gây hấn, xâm lược và kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Việt Nam chủ trương đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công tác đối ngoại quốc phòng, tăng cường hội nhập quốc tế về quốc phòng, từng bước tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc vì mục đích nhân đạo. Đó chính là những chủ trương nhất quán, chính nghĩa, phù hợp với xu thế của thời đại, được dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ. 

Thưa đồng bào và chiến sỹ cả nước! 

Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đặt trọn niềm tin yêu vào Quân đội nhân dân Việt Nam, vào sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân. Dù trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị cũng luôn chăm lo củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân lớn mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tự hào về truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, một đội quân cách mạng đã lập nhiều chiến công vang dội, rạng ngời thành tích, son sắt lời thề tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. 

Chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, với nguồn sức mạnh vô địch từ nhân dân, với truyền thống oanh liệt của dân tộc, Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó lập nhiều chiến công, thành tích mới, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nguồn: http://dantri.com.vn/chinh-tri/dang-nha-nuoc-va-nhan-dan-ta-dat-tron-niem-tin-yeu-vao-quan-doi-nhan-dan-viet-nam-1010650.htm

HÌNH TƯỢNG ANH BỘ ĐỘI CỤ HỒ

posted Dec 21, 2014, 7:02 AM by Cb Sinh vien

Hình ảnh “Hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ” từ ngàn xưa đến nay đã để lại trong tâm trí mỗi người dân việt nam một hình tượng cao đẹp và đáng tự hào về người lính của dân tộc Việt Nam.

           Ngày 22/12/2013, toàn Đảng, toàn dân nhiệt liệt kỷ niệm 69 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2013). Từ những ngày đầu thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân chỉ với 34 chiến sĩ, với vũ khí,với trang bị thô sơ, nhưng sau 69 năm thành lập với nhiều lần thăng trầm nay Quân đội nhân dân Việt Nam đã trở nên hùng hậu cả về binh lực, trang bị vũ khí, đa dạng về các loại binh chủng, quân chủng, … Hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam đang gánh trọng trách bảo vệ đất nước bờ cõi của dân tộc Việt Nam. Những chiến công của Quân đội ta qua những cuộc kháng chiến trường kỳ chống lại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã  góp phần viết nên trang sử hào hùng của dân tộc, làm rạng rỡ non sông đất nước và thời đại chủ tịch Hồ Chí Minh. Quân đội nhân dân Việt Nam xứng đáng với tên gọi “Bộ đội Cụ Hồ” mà Đảng và nhân dân đã trao tặng.

Hình ảnh Bác gặp gỡ các chiến sĩ bộ đội.

        Qua những trang vàng lịch sử, “Hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ” đã được khắc hoạt rõ nét thêm. Đầu tiên là lòng trung kiên vô hạn với dân tộc, kiên quyết chiến đấu hi sinh để giữ độc lập cho dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước. Thực hiện lời dạy trên của Bác, Từ khi thành lập đến nay Quân đội ta luôn thực hiện chữ trung với nước, dù đó là trong hoàn cảnh gian khổ mức nào."

Hình ảnh những người bộ độ cụ Hồ trên đường ra trận

Qua 2 cuộc kháng chiến trường kỳ đã có nhiều gương anh hùng liệt sỹ đã hi sinh để góp phần phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc. Ví như chiến thắng Điện Biên Phủ, đã gắn liền với tên người chỉ huy Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đại tướng đã chỉ huy chiến dịch một cách đầy mưu lược và thận trọng để có được chiến thắng này. Cũng trong trận chiến này, những cái tên anh hùng liệt sĩ như Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện, Trần Can,… và còn rất nhiều cái tên anh hùng liệt sĩ đã góp phần vào chiến thắng này. Ví như Chiến dịch Hồ Chí Minh, chiến dịch đã chấm dứt hoàn toàn sự chia cắt hai miền Nam-Bắc Việt Nam qua 21 năm chia cắt, đưa đến việc thống nhất lãnh thổ Việt Nam trên đất liền cũng như là lãnh hải và vùng trời. Đã không ít các chiến sĩ đã quên mình ngã xuống làm nên chiến thắng này. Những hình ảnh trên càng khắc họa sâu sắc thêm “Hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ”  trung kiên vô hạn với dân tộc, kiên quyết chiến đấu hi sinh để giữ độc lập cho dân tộc.

Luôn thực hiện tự giác sự lãnh đạo cũa Đảng quang vinh và Bác Hồ vĩ đại cũng. Qua chủ nghĩa Mac-Lênin, Hồ Chí Minh đã xây dựng Quân đội thuộc giai cấp vô sản và Đảng Cộng Sản trực tiếp lãnh đạo Quân đội này. Qua các thời kì, Quân đội không những được sữ lãnh đạo của Đảng một cách nghiêm túc mà hơn thế nữa Quân đội còn tự giác thực hiện những sự chỉ đạo này. Vì vậy, Quân đội ta  từ Đội Tự vệ Đỏ, Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đến Quân đội nhân dân Việt Nam hùng mạnh ngày nay. Quân đội luôn trung thành và sắc son với Đảng, là công cụ vũ trang, là lực lượng  chính trị đáng tin cậy luôn thực hiện và hoàn thành tốt những nhiệm vụ sắc son mà Đảng đã giao phó.

Hình ảnh ngày chiến thắng chiến dịch Hồ Chí Minh trở về.

Người bộ đội cụ Hồ là hình ảnh “hiếu với dân”. Trong các cuộc kháng chiến, nhân dân đã đùm bọc nuôi dưỡng và sự chăm lo về mọi mặt. Để đề đáp lại quan hệ tốt đẹp đó người bộ đội cũng như là Quân đội nhân dân đã chiến đấu vì nhân dân, hi sinh vì nhân dân nhắm giúp nhân dân có sự độc lập và cuộc sống tự do. Trong giai đoạn hiện nay, người lính cụ Hồ đã hết lòng giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế, bảo vệ an ninh, an toàn cho lãnh thổ Việt Nam. Chăm lo giúp đỡ đời sống cho nhân dân, xóa đói giảm nghèo, xóa nạn mù chữ cho nhân dân, nhất là ở các tỉnh các vùng quê còn gặp nhiều khó khăn những việc này càng làm đẹp hơn tinh truyền thống hiếu với dân của người bộ đội cụ Hồ. Các thế hệ những người quân nhân cách mạng đã xử sự đúng với tư cách là con em của nhân dân, cho nên khi "xa dân nhớ, ở dân thương". Hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ luôn sống động và cao đẹp của hàng triệu cán bộ, chiến sĩ quân đội, sẽ sống mãi và không bao giờ phai mờ trong con tim, khối óc của nhân dân.


                                                                                                                                                                                            Võ Đoàn Như Khánh

                                                                                                                                                                                        Đảng viên Chi bộ Sinh viên 1



Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Người anh hùng vĩ đại của dân tộc Việt Nam

posted Dec 21, 2014, 6:53 AM by Cb Sinh vien   [ updated Dec 21, 2014, 6:54 AM ]

“Tôi lớn lên khi đất nước không còn chia cắt Bắc – Nam

Chẳng biết chiến tranh là gì, chỉ được nghe trong những câu chuyện của cha

Tôi lớn lên khi tháng tháng không còn lo phiếu tem

Không biết bobo là gì, chỉ còn lại trong những ký ức của mẹ”

                                                                                                                                                Trích: “Lá cờ” – Tạ Quang Thắng

Tôi xin được trích dẫn những câu hát trong bài hát Lá cờ của nhạc sĩ Tạ Quang Thắng để xin gửi những lời tri ân chân thành nhất tới những người chiến sĩ đã dung cảm hi sinh xương máu của mình chiến đấu vì nền độc lập của Tổ Quốc, để cho chúng tôi, những con người của thế hệ 9x được sinh ra trong hòa bình, không còn tiếng sung, tiếng bom, được lớn lên trong sự phát triển của đất nước. Và trong rất nhiều, rất nhiều vị anh hùng đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người sẽ luôn sống mãi trong long tôi cũng như trong lòng người dân Việt Nam.

Như chúng ta đã biết, vào lúc 18h09 phút, ngày 04 tháng 10 năm 2013, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người học trò xuất sắc của Bác Hồ, người Đại tướng, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, người anh hùng của người dân Việt Nam đã mãi mãi vĩnh biệt chúng ta, Đại tướng đã đi về thế giới của những người hiền trong sự thương tiếc của hàng triệu, hàng triệu người dân Việt Nam cũng như nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với rất nhiều chiến công lừng lẫy của Quân đội nhân dân Việt Nam, chẳng hạn như: Đại tướng là người chỉ huy đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, chỉ huy trưởng kiêm chính ủy mặt trận Chiến dịch Biên giới Thu – Đông 1950, Chiến dịch Điện Biên Phủ, Chiến dịch Hồ Chí Minh….Trong những chiến công ấy, thì chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch đưa tên tuổi của Đại tướng nổi tiếng khắp 5 châu, đánh dấu sự thành công của nghệ thuật chiến tranh du kích do Đại tướng áp dụng.

Quyết định lịch sử của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ: Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyễn Giáp đã phải đứng trước một quyết định cực kỳ khó khăn là đổi phương châm tác chiến từ “Đánh nhanh, thắng nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc”. Đây là 1 quyết định mà sau này, khi tiếp xúc với báo chí phương Tây, Đại tướng đã thổ lộ: “Đây là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời binh nghiệp của mình”.

Quyết định khó khăn nhất của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

 Những kinh nghiệm xương máu ở Nà Sản còn đang nóng hổi, trong khi đó, tập đoàn cứ điểm ở Điện Biên Phủ được Pháp xây dựng và phát triển trong một thời gian lâu dài hơn, với nguồn vật tư và nhân lực to lớn hơn. Không phải không có cơ sở để Pháp tuyên bố “Điện Biên Phủ là pháo đài bất khả xâm phạm”. Nghiên cứu tình hình thấu đáo như vậy, phương châm tốc thắng “san bằng Điện Biên Phủ trong 3 ngày” đã gây rất nhiều băn khoăn cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp. 

Thức trắng nhiều đêm trong căn hầm sở chỉ huy, Đại tướng đau đáu vạch phương án tác chiến tối ưu nhất, để hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, cũng như bảo toàn tối đa sinh lực của bộ đội ta. Cuối cùng, Ông đã đưa ra quyết định: Chuyển phương châm tiến công từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc”, còn được gọi là đánh "bóc vỏ". 

Thực tiễn chứng minh rằng chỉ riêng cứ điểm đồi A1 thôi, ta phải mất 38 ngày đêm mới dứt điểm được. Vậy thì 49 cứ điểm mà ta định đánh trong ba ngày hai đêm là quá mạo hiểm. Ở chiến dịch Điện Biên Phủ, thời gian đầu bộ đội ta giành phần lớn thắng lợi, nhưng lại gặp khó khăn khi đánh đồi A1 và C1 - hai cứ điểm quan trọng của địch. Trận đánh đồi A1, mặc dù đã huy động tới ba trung đoàn nhưng ta đã bị tổn thất rất nặng nề.

Như vậy, có thể thấy, ở những thời khắc lịch sử, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cực kỳ cẩn trọng đưa ra những quyết định vô cùng sáng suốt, lấy sự tồn vong của dân tộc lên hàng đầu trong mọi tính toán, cân nhắc. Điều đó, đã mang tới những chiến công lừng lẫy của một đội quân nhân dân với những người lính dũng cảm chiến đấu không tiếc xương máu, dưới sự chỉ đạo, dìu dắt của người Tổng tư lệnh mưu trí tuyệt vời, quý trọng tính mạng của cán bộ, chiến sĩ trong từng quân lệnh.


                                                                                                                                                                            Nguyễn Sỹ Hùng

                                                                                                                                                                    Đảng viên Chi bộ Sinh viên 1    


“Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vai trò và ảnh hưởng của Đại tướng trong quá trình hình thành và phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam.”

posted Dec 21, 2014, 6:45 AM by Cb Sinh vien

    “Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó”. Câu nói khẳng định tinh thần trách nhiệm suốt đời gắn bó với nhân dân, đất nước của vị Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đại tướng đã có công lớn trong lịch sử của dân tộc. Người có ảnh hưởng và vai trò rất lớn đến quá trình hình thành và phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam.
    Đại tướng sinh ngày 25/8/1911 tại xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Ông sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, được sự giáo dục nghiêm khắc từ gia đình. Chính vì vậy, gia đình là nguồn nuôi dưỡng ý chí cho sự nghiệp cách mạng sau này của ông. Ông tham gia cách mạng từ rất sớm khi chỉ 14 tuổi. Ông tham gia vào các mặt trận chính trị, quân sự, văn hóa…Ông đã tạo được sự tín nhiệm từ mọi người. Đặc biệt, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã uỷ nhiệm cho ông đứng ra tuyên bố thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của  Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Ông được giao nhiệm vụ trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy. Đồng chí được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II, cử vào Ban Chấp hành Trung ương và là Uỷ viên Thường vụ ban Chấp hành Trung ương, tham gia Uỷ Ban Khởi nghĩa toàn quốc, Uỷ ban Giải phóng Dân tộc Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 110/SL, phong đồng chí làm Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam trong Chính phủ Lâm thời. Trong vai trò của mình, ông trực tiếp lãnh đạo và làm nên nhiều chiến thắng vẻ vang trong chiến dịch Việt Bắc, Biên giới, Điện Biên phủ,…Những chiến thắng ấy góp phần làm nên lịch sử chiến thắng hào hùng của dân tộc Việt Nam.Ông thật sự là vị tướng tài ba của dân tộc Việt Nam.
    Ông có vai trò và ảnh hưởng rất lớn đến Quân đội Nhân Dân Việt Nam.
    Trước hết, vai trò của ông là thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Ban đầu tổ chức còn sơ khai chỉ có 34 chiến sĩ và những dụng cụ chiến đấu thô sơ. Nhưng với sự dẫn dắt của ông thì tổ chức ngày càng trưởng thành hơn, trở
thành lực lượng mạnh mẽ trong cuộc trường chinh 10 ngàn ngày và đánh bại 10 đại  tướng quân đội viễn chinh nhà nghề của hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ. Vai trò của ông còn là đưa ra những chiến thuật cụ thể phù hợp với từng trận đánh. Ông đã
tổng hợp độc đáo các học thuyết quân sự mácxít kết hợp nhuần nhuyễn với truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, vận dụng khôn khéo vào những điều kiện của một quốc gia có “đất đai tương đối hẹp”. Dù không được đào tạo bài bản qua trường lớp nhưng những chiến thuật của ông xuất phát từ thực tế chiến trường nhằm giải quyết những tình huống ngoài dự kiến và lật đỗ thế cờ. Ông luôn chú trọng nghệ thuật lấy ít địch nhiều, lấy yếu chế mạnh, lấy thô sơ thắng hiện đại,… Trong kháng chiến chống Pháp, chính Ông là người đã buộc thực dân Pháp phải thất bại trong chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” khi đánh vào Hà Nội cuối năm 1946 và Việt Bắc Thu - Đông 1947. Trong Chiến dịch Biên giới 1950 với mưu kế “đánh điểm, diệt viện” ông chia nhỏ lực lượn quân Pháp sau đó thực hành trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ toàn thắng với phương châm
“đánh chắc, tiến chắc”. 
    Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Ông là một trong những người đã góp phần quan trọng đưa cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng  sang thế tiến công. Trên cương vị Tổng Tư lệnh, Ông đã cùng Bộ Thống soái tối cao đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi đến thắng lợi hoàn toàn. Dấu ấn của Ông đặc biệt rõ nét trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, trong các chiến dịch Xuân - Hè năm 1972, trong “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972
và đặc biệt trong đại thắng mùa Xuân 1975 với Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch tiến công Huế, Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử… 
    Với trận Điện Biên Phủ năm 1954, nhân thấy giải pháp “đánh nhanh thắng  nhanh”không phù hợp với lực lượng quân ta Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kiên trì thuyết phục Đảng ủy mặt trận và cố vấn Trung Quốc thay đổi cách đánh từ
“đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc thắng chắc”. Với quyết định sáng suốt và tinh thần sẵn sàng chịu trách nhiệm, Đại tướng đã làm nên chiến thắng quyết định Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954, kết thúc thắng lợi 9 năm kháng chiến chống Pháp.         Trong chiến dịch mùa Xuân năm 1975, Đại tướng Tổng Tư lệnh ra lệnh:  
“Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới miền Nam. “Quyết chiến và toàn thắng”. Mệnh lệnh nổi tiếng ấy như một lời hịch của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, khi đọc lên, mệnh lệnh đó âm vang trong tâm hồn như một lời hịch của non sông đất nước. Và rồi, sau 23 ngày nhận được chỉ đạo “thần tốc, táo bạo”, 11 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975, cờ Giải phóng được cắm trên nóc Dinh Độc Lập, đất nước hoàn toàn giải phóng.Vai trò của ông là xây dựng lực lượng độc đáo, sáng tạo và toàn diện. Ông đặc biệt quan tâm nghiên cứu xây dựng và phát triển lực lượng thích ứng với tình thế từng thời kỳ chiến tranh. Đó là việc tổ chức hậu cần đảm bảo thông tin liên lạc và giao thông vận tải chỉ với những phương tiện thô sơ như xe đạp thồ, gồng gánh,…thế mà đánh bại nền hậu cần khổng lồ của Mĩ. Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã dựa vào nhân dân để tổ chức, xây dựng quân đội và chỉ huy quân đội đánh giặc. Đại tướng luôn chăm lo xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam thực sự là quân đội cách mạng, quân đội nhân dân - từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, xây dựng mối quan hệ đoàn kết gắn bó mật thiết với nhân dân. 
    Sự ảnh hưởng của ông là không nhỏ đối với Quân Đội Nhân dân Việt Nam. Ngay từ giai đoạn hình thành ông đã dạy cho các chiến sỹ về những điều cần làm và những điều cần tránh về mối quan hệ quân- dân-cá-nước để từ đó hình thành phẩm chất anh bộ đội cụ Hồ. Chính tư tưởng xây dựng quân đội nhân dân nên trong suốt quá trình chiến đấu và xây dựng, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, luôn được nhân dân nuôi dưỡng, che chở, biết dựa vào dân, phát huy sức mạnh của dân để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao…Ông đã giác ngộ đông đảo quần chúng nhân dân trở thành chiến sỹ Quân giải phóng. Những câu nói của ông đã góp phần thôi thúc tinh thần quyết tiến lên chiến đấu của các chiến sỹ như: “Chúng tôi trả lời là từ “lo sợ” không có trong tư duy quân sự của chúng tôi, bởi vì với chúng tôi, không có gì quý hơn độc lập tự do, chúng tôi quyết đánh Mỹ và chúng tôi luôn tin tưởng là sẽ thắng”. Để giáo dục cho quân đội, ông đã viết tác phẩm lý luận về đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, nêu cao tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh”. Ông là vị cha già là người anh cả đối với Quân đội Nhân Dân Việt Nam đã để lại nhiều bài học quý báu và những chiến
công lịch sử chói lọi cho thế hệ chiến sỹ noi theo. 
    Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, văn võ song toàn. Ông là một người yêu nước từ thuở học trò, đến một người cộng sản chân chính - chân chính đến tận cuối đời; đã từ một giáo sư sử học không qua một trường lớp quân sự, trưởng thành từ thực tiễn chiến trường để trở thành danh tướng, “một tư lệnh của các tư lệnh, một chính ủy của các chính ủy” - như cách định nghĩa của Thượng tướng Trần Văn Trà. Đức độ, tài năng của ông đã đem lại cho ông niềm tin yêu trọn vẹn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; lòng mến mộ của bạn bè quốc tế và cả sự khâm phục của những người ngày xưa còn là đối thủ của ông. Ông là vị tướng quán triệt sâu sắc tư tưởng và phương pháp luận Hồ Chí Minh, là người cầm quân tiếp thu và thể hiện đầy đủ tư cách một người tướng gồm sáu đức tính Trí - Tín - Dũng - Nhân - Liêm - Trung mà Bác Hồ đã dạy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và kế thừa những truyền thống tinh hoa của dân tộc, trí tuệ dân tộc. Ông có đóng góp to lớn vào kho tàng lý luận quân sự Việt Nam. Võ Nguyên Giáp là một vị tướng chỉ huy có tài thao lược, trí tuệ quân sự, mưu kế chiến lược, lý luận quân sự sáng tạo được lãnh tụ Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện và được cuộc chiến tranh cách mạng hun đúc. Ông là một vị tướng của nhân dân, vị tướng của quân đội cách mạng. Đối với các thế hệ khoác áo lính trong lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, ông bao giờ cũng là vị Tổng tư lệnh tối cao nhất mực, người “Anh Cả” kính mến. Ảnh hưởng và uy tín của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp chẳng những đã từng sâu sắc, mạnh mẽ trong hơn 30 năm kháng chiến, mà vẫn tiếp tục sâu sắc và mạnh mẽ ngay cả vào thời điểm hiện nay, hơn 20 năm sau khi ông lần lượt thôi giữ các trọng trách trong Đảng, Nhà nước và Quân đội.Tên tuổi nhà quân sự tài ba Võ Nguyên Giáp đã được khắc ghi trong cuốn Danh nhân Văn hoá thế giới. Ông là một nhân vật đã đi vào huyền thoại, một trong những con người tiêu biểu nhất cho dân tộc Việt Nam hôm nay và mai sau. 
    Thế hệ trẻ ngày nay cần học tập, rèn luyện theo tấm gương sáng ngời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp để góp sức đưa công cuộc xây dựng đất nước lên một tầm cao mới. Đó là giá trị về đạo đức, về phẩm chất, về tài năng, về sự cống hiến, đặc biệt là về ý thức trách nhiệm của một người chiến sĩ tuyệt đối trung thành với lý tưởng, một lòng vì nước, vì dân.Chúng ta cần phải tự hào về vị Đại tướng tài giỏi của dân tộc.Bản thân mỗi người cần phải sống có ích đóng góp công sức của mình nhằm dựng xây quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp hơn. 
    Dù vị Đại tướng đã ra đi nhưng trong lòng mỗi con người Việt Nam vẫn còn sống mãi hình tượng người anh hùng của lịch sử dân tộc. Vai trò và ảnh hưởng của ông đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn tồn tại mãi mãi.
                                                                                        
                                                                                                Huỳnh Văn Đặng
                                                                              Đảng viên Chi bộ sinh viên 1

"Mãi mãi là sao sáng dẫn đường" - Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

posted Dec 21, 2014, 6:32 AM by Cb Sinh vien

            Nhân ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12), Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã có bài viết với tiêu đề “Mãi mãi là sao sáng dẫn đường”.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp đoàn thanh niên tiên tiến quân đội năm 2011. Ảnh: Tuổi trẻ

        Đây là dịp các lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng và Nhà nước liên tục xuất hiện và có bài phát biểu. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài diễn văn tại Đại hội Đoàn lần thứ X. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã có buổi đối thoại với các đại biểu thanh niên. Trong khi đó, Chủ tịch nước một lần nữa đã gửi đến toàn dân một bài viết đáng chú ý.

     Cách đây gần 2 tháng, nhân dịp sắp đến ngày Quốc khánh, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng đã có một bài viết với tiêu đề “Phải biết hổ thẹn với tiền nhân”, mà nhiều người đã hoan nghênh khi ông thẳng thắn nói tới những kẻ “cõng rắn cắn gà nhà”. Lần này, như chính ông tự đánh giá, có “đôi chỗ trong bài viết này không đi theo khuôn mẫu thường thấy.”

    Trong bài viết, Chủ tịch nước đề cập rằng nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và xây dựng đất nước đang đứng trước những thách thức to lớn, trước hết là về kinh tế, thậm chí xếp trước cả thách thức về tư tưởng. “Về kinh tế, sau nhiều năm đất nước phát triển đầy hưng phấn, nay do nhiều nguyên nhân, cả bên trong và bên ngoài, đang lâm vào tình trạng suy giảm. Nguyên nhân bên trong có nhiều nhưng trong đó phải kể đến khuyết điểm của lãnh đạo và quản lý...”, ông viết.

     Bài viết dành cho ngày thành lập Quân đội nhân dân nhưng Chủ tịch Trương Tấn Sang không nói về định hướng phát triển của quân đội, cũng không đề cao vai trò của các loại vũ khí tối tân. Thay vào đó, ông nói đến sự suy giảm về kinh tế, sự chia rẽ trong nội bộ, nói đến nạn tham nhũng, nhóm lợi ích v.v.. “Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng dân giàu, nước mạnh và đặc biệt là đoàn kết toàn dân tộc thì kẻ thù nào cũng sẽ không dám xâm lược nước ta, nếu có, chúng chỉ chuốc lấy thất bại mà thôi”, Chủ tịch nước nhấn mạnh.

Nguyên văn bài viết: 

                                                                                                        Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

 

        Kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, tôi muốn tiếp tục nói lên những suy nghĩ của mình về tình hình đất nước hiện nay liên quan đến hai nhiệm vụ chiến lược là bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

         Kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, bên cạnh niềm tự hào về một quân đội bách chiến bách thắng, còn là dịp để chúng ta nhận thức một cách đầy đủ, sâu sắc hơn tất cả những gì mà quân đội của chúng ta đã từng và đã trải, đã chiến đấu, hi sinh, để trưởng thành lớn mạnh, để thắng lợi vẻ vang; là dịp để chúng ta tôn vinh tất cả những thế hệ đã hiến dâng cuộc đời mình cho vinh quang của dân tộc, cho độc lập, tự do của đất nước; là dịp chúng ta tưởng nhớ những người đã mất và cố gắng làm tròn trách nhiệm của những người còn sống, đang sống...

        Ngày 22-12 sẽ mãi mãi là một Ngày Anh Hùng!

        Nhưng ý nghĩa của ngày này chỉ trở nên thật đầy đủ khi chúng ta phát huy thật tốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước hôm nay.

    Mấy vấn đề thực tế

        "Trước hết, với tư cách là người có trọng trách trong Đảng và là người đứng đầu Nhà nước CHXHCN Việt Nam, tôi xin khẳng định rằng: Đảng, Nhà nước ta không bao giờ bán nước cho các thế lực bên ngoài như những kẻ xấu vu cáo"

         Quý vị độc giả hãy miễn thứ và nếu có thể, hãy chia sẻ với tôi nếu như đôi chỗ trong bài viết này không đi theo khuôn mẫu thường thấy. Sự dè dặt, thận trọng quá mức và khuôn mẫu thường đem đến cảm giác an toàn cho người phát biểu, nhưng trong nhiều trường hợp nó thật sự chưa thể lột tả được bản chất của vấn đề.

         Có thể thấy được nguyện vọng thiết tha của mọi đảng viên và công dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, trên đất liền, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc, trong xây dựng Đảng, củng cố Nhà nước, xây dựng đất nước, trong việc không ngừng nâng cao đời sống nhân dân. Đó luôn là nguyện vọng, là quyền đòi hỏi chân chính và cấp bách. Đòi hỏi ấy đang đứng trước những thách thức to lớn.

         Tôi muốn trước hết đề cập đến vấn đề kinh tế và tư tưởng. Kinh tế có mạnh, tư tưởng có vững, cả dân tộc có đoàn kết thống nhất thì quân đội mới có khả năng để trở thành một quân đội vô địch. Không có một quân đội mạnh trên nền tảng một xã hội chia rẽ, mất tinh thần, không sẵn sàng chiến đấu, đất nước thiếu sinh lực. Sức mạnh của quân đội, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc phải trên cơ sở sức mạnh của quốc gia. Đó là sức mạnh tổng hợp của cả chính trị, kinh tế, tư tưởng; của quân đội và nhân dân; tiền tuyến và hậu phương; đối nội và đối ngoại... Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng dân giàu, nước mạnh và đặc biệt là đoàn kết toàn dân tộc thì kẻ thù nào cũng sẽ không dám xâm lược nước ta, nếu có, chúng chỉ chuốc lấy thất bại mà thôi.

         Về kinh tế, sau nhiều năm đất nước phát triển đầy hưng phấn, nay do nhiều nguyên nhân, cả bên trong và bên ngoài, đang lâm vào tình trạng suy giảm. Nguyên nhân bên trong có nhiều nhưng trong đó phải kể đến khuyết điểm của lãnh đạo và quản lý... Gần đây, báo chí và dư luận hằng ngày đề cập đến những “nhóm lợi ích”, đâu đó có hành vi thâu tóm quyền lực kinh tế làm lòng dân không yên, các định chế tài chính hoạt động bộc lộ yếu kém, nợ công cao, đầu tư dàn trải và tệ tham nhũng, lãng phí gây thiệt hại nghiêm trọng các nguồn lực quốc gia; lạm phát ở mức cao; thu nhập thực tế và đời sống của người dân khó khăn hơn; cùng với các tai nạn, tệ nạn xã hội có dịp bùng phát; lối sống ích kỷ, suy đồi, vô cảm, vô trách nhiệm hiện diện ở nhiều lĩnh vực của cuộc sống... Tất cả những thực tế đó làm suy giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

         Về tư tưởng, chưa bao giờ như trong vòng một năm qua xuất hiện rất nhiều dư luận, trong đó có những tư tưởng và dư luận nguy hiểm, gây chia rẽ trong Đảng, giữa Đảng với nhân dân; cá biệt có người đòi “phi chính trị hóa quân đội”. Thử hỏi trên thế giới này có ở đâu và bất cứ việc gì lại ít nhiều không mang tính chính trị? Họ khoét sâu những yếu kém trong lãnh đạo, quản lý đất nước hoặc những khuyết điểm, sai phạm của một số cán bộ để gây phân tâm trong dư luận xã hội và ở chừng mực nào đó, họ đã đạt được những “kết quả” nhất định, làm xã hội trở nên bất ổn hơn.

         Không thể không đề cập đến một mối lo ngại trong xã hội về khả năng xảy ra xung đột trong khu vực, liên quan đến Việt Nam; lo ngại về khả năng ứng phó của Đảng, Nhà nước, quân đội ta trong tình hình thế giới rất khó lường hiện nay. Đã có nhiều cuộc đối thoại trong, ngoài nước và nhiều bài viết trên báo chí về chủ đề này. Một số hãng tin nước ngoài đã dùng chủ đề này như một phương tiện hữu hiệu để chuyển sự chú ý của dư luận theo hướng phục vụ cho ý đồ của họ. Có những trang mạng xã hội còn gây nghi ngờ trong nhân dân về chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, thậm chí họ còn vu cáo, xuyên tạc rằng Đảng ta “bán rẻ đất nước”. Những luận điệu kiểu đó rất nguy hiểm, cần phải cảnh giác bởi nếu không nó sẽ gieo những mầm mống độc hại, cùng với những áp lực xuất phát từ những khó khăn trước mắt về kinh tế và tư tưởng làm cho đất nước ta càng thêm khó khăn.

         Sự hình thành và phát triển của Đảng đã chứng minh Đảng ta không ngại phê bình. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có loại phê bình xây dựng và có loại phê bình không phải là xây dựng, thậm chí là phá hoại. Không phải ai và lúc nào cũng phân biệt được sự phê bình xây dựng với sự phê bình phá hoại và trong những lúc trắng đen chưa rõ ràng, dư luận dễ bị lạc hướng; những thiện chí bị lợi dụng bởi những tư tưởng có hại, đầu độc bầu không khí chính trị của đất nước. Nếu chúng ta không ý thức đúng mức những lo lắng của cộng đồng và bị những tư tưởng độc hại chi phối sẽ bị dao động về ý chí, thậm chí bất mãn, ngả theo kẻ xấu, trở thành công cụ cho bất kỳ kẻ nào thừa cơ hội đứng lên khoác áo “nghĩa hiệp” và đưa đất nước đi đến chỗ hỗn loạn.

         Tình trạng suy giảm kinh tế và sự suy thoái về tư tưởng chính trị nếu không được sớm chặn đứng, sẽ đặt tương lai của đất nước ta trước thử thách khốc liệt. Đúng như nhận định của nghị quyết TW4 (khóa XI) là những nguy cơ đó liên quan đến sự “tồn vong” của chế độ, đồng thời nó cũng đe dọa trực tiếp đến sự thành công của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

         Chúng ta phải làm gì?

         Trước hết, với tư cách là người có trọng trách trong Đảng và là người đứng đầu Nhà nước CHXHCN Việt Nam, tôi xin khẳng định rằng: Đảng, Nhà nước ta không bao giờ bán nước cho các thế lực bên ngoài như những kẻ xấu vu cáo.

         Dù còn những khuyết điểm, yếu kém, nhưng Đảng và Nhà nước ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân.

         Hành động bán nước hay những việc làm tương tự sẽ chịu sự nguyền rủa, oán hận của các thế hệ sau này, cũng như chúng ta từng phê phán nghiêm khắc những nhân vật và những chế độ như thế trong lịch sử.

         Non sông đất nước ta, khắp nơi, những cảnh, những người, những phong tục tập quán, đâu đâu cũng đẹp và lòng chúng ta đau đớn khi nghĩ đến những nét đẹp ấy có thể bị vùi dập hay thậm chí bị lãng quên. Chúng ta không thể để cho viễn cảnh đen tối đó trở thành hiện thực.

         Chúng ta có lúc tự ti hay bi quan về một số việc chúng ta làm chưa được bằng người, nhưng chúng ta cũng hiểu rằng để phát triển và hoàn thiện không chỉ cần có thời gian, mà cần cả mồ hôi, nước mắt, kể cả máu. Không thể ngồi đó, so sánh và chẳng làm gì để xây dựng, thậm chí lại chửi bới - thái độ đó làm hạ thấp giá trị của mỗi một chúng ta và làm suy yếu hơn nữa khả năng phát triển đất nước. Không có hành động nào làm tàn hại đất nước nhanh hơn sự kích động, gây chia rẽ dân tộc bởi trong một hoàn cảnh vô tổ chức, không một công việc gì của tập thể có thể thực hiện được, huống hồ là những mục tiêu to lớn, cao đẹp, mà để thực hiện đòi hỏi phải có sự nỗ lực lớn lao của cả cộng đồng dân tộc.

         Thái độ cần thiết hiện nay, dù có khác biệt nào chăng nữa, thì tất cả các giai tầng xã hội, các tầng lớp nhân dân cần hành động với một động cơ duy nhất, đó là vì lợi ích của dân tộc, vì sự ổn định chính trị, vì sự bình yên của xã hội để làm ăn và phát triển kinh tế, cần đẩy mạnh hơn nữa quá trình đại đoàn kết, hòa giải và hòa hợp dân tộc. Mọi hành động phá hoại mục đích đó hoặc khoét sâu thêm những bất đồng để đẩy đất nước đến bờ vực của sự hỗn loạn phải bị loại trừ và lên án.

         Thái độ tích cực đó cần được thể hiện trong mọi khía cạnh của cuộc sống, trong đó có việc cấp bách hiện nay là tiếp tục kiên trì thực hiện có hiệu quả nghị quyết TW 4 (khóa XI). Suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống phải bị chặn lại. Tham nhũng, tiêu cực phải kiên quyết loại trừ để cho bộ máy thật sự trong sạch vững mạnh, nhưng đồng thời phải làm sao giữ được sự ổn định, tránh sa vào những sai lầm ấu trĩ có thể dẫn đến những hậu quả tồi tệ về chính trị - xã hội. Mặt khác, cũng không thể nhân danh sự ổn định chính trị - xã hội để dĩ hòa vi quý và thỏa hiệp với cái xấu, cái sai. Đây thật sự là một yêu cầu khó khăn, đòi hỏi sự tỉnh táo, sự quyết tâm, sự đoàn kết nhất trí và bản lĩnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Tôi nhận thức sâu sắc rằng nhân dân ta, các lực lượng vũ trang ta trông đợi vào kết quả thực chất của công cuộc này để củng cố lòng tin của mình vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta. Đây là thời cơ chính trị chúng ta phải nắm lấy, tạo ra sự chuyển biến mới như một cột mốc trong quá trình phát triển. Được như vậy, sức mạnh của chúng ta sẽ tăng lên gấp bội, trong đó có sức mạnh quốc phòng - an ninh.

         Một trong những bất cập chính trong công tác quản lý nhà nước hiện nay là có việc thì tập trung quá mức, có việc thì phân cấp quá mức nhưng lại thiếu kiểm tra, đặc biệt là công cuộc cải cách hành chính quá chậm chạp và có nguyên nhân từ sự suy thoái của một số cán bộ, công chức các cấp, các ngành, đang cản trở sự phát triển đất nước. Toàn dân ta không ai muốn duy trì tình trạng này.

        Tôi cũng mong muốn tất cả mọi người nhìn nhận đúng đắn một thực tế đáng buồn là phải chăng sau khi đã trở nên khá giả hơn, một bộ phận người Việt Nam trở nên ít khát vọng trong sáng, thậm chí trở nên sa đọa về đạo đức lối sống. Những người như vậy cần nhìn nhận điều đó một cách cầu thị, thay đổi cách nghĩ, đồng hành cùng dân tộc, vì sự nghiệp chung, tiếp nối giá trị văn hóa tốt đẹp của cha ông thì cuộc sống mới có ý nghĩa.

         Nhưng quan trọng hơn, cần phải có những “cú huých” đủ mạnh từ phía luật pháp, chính sách và dư luận để làm xã hội tốt đẹp hơn. Ở đây tôi muốn kêu gọi cả sự thức tỉnh của đạo đức, của lương tâm để có sự chuyển biến mạnh mẽ.

         Rõ ràng, thực tế đang đặt ra những yêu cầu cao đối với công tác quản lý nhà nước, chống lại tệ quan liêu, trì trệ, tham nhũng, “lợi ích nhóm” hay lợi ích cục bộ của ngành này, ngành khác; phải có những tiêu chí mới để đánh giá cán bộ trên cơ sở hiệu quả thực chất, vì lợi ích chung, chứ không phải những quy định mà người ta có thể lợi dụng theo ý muốn của mình.

         Tất cả mọi việc đều có nguyên nhân từ con người. Để có cán bộ tốt, không thể chỉ kêu gọi chung chung, mà trước hết phải bằng chính sách, luật pháp, kỷ luật, kỷ cương và tất nhiên cao hơn thế nữa là phải xây dựng đạo đức con người ngay từ khi còn nhỏ, khi cắp sách đến trường. Chúng ta có thành công hay không trong việc thực hiện những mục tiêu xây dựng và bảo vệ đất nước, khâu cốt yếu tùy thuộc ở yếu tố cán bộ và dựa trên tinh thần kỷ luật, kỷ cương. Có kỷ luật, kỷ cương thì bộ máy mới tốt và vận hành thông suốt. Bộ máy càng lớn, kỷ luật càng trở nên cấp thiết, nếu không sẽ xuất hiện tình trạng vô tổ chức. Vì thế hơn lúc nào hết, luật pháp và kỷ luật cần phải được tôn trọng triệt để.

         Chúng ta phải làm mọi điều có thể để trong ngắn hạn phải ổn định kinh tế vĩ mô, lấy lại sự hưng phấn trong phát triển kinh tế cũng như niềm tin của nhân dân và doanh nghiệp. Không có niềm tin thì người dân, doanh nghiệp, cả nhà đầu tư nước ngoài không ai dại gì đầu tư, kinh doanh để phải chấp nhận rủi ro. Bài học trong suốt 67 năm qua là khi nào có niềm tin của nhân dân thì dù có khó khăn đến đâu, chúng ta cũng nhất định vượt qua và vươn tới.

         Đã đến lúc chúng ta phải hành động quyết liệt, phải tháo bỏ các rào cản phục vụ cho tăng trưởng, điều hòa các lợi ích xã hội; phải đổi mới và cương quyết thực hiện bằng được những mục tiêu về chính trị - kinh tế - xã hội đã đề ra.

         Nhân đây, tôi cũng đánh giá cao vai trò của các cơ quan truyền thông, báo chí và cả các trang mạng thông tin có trách nhiệm đối với đời sống xã hội. Các bạn hãy thật sự là người “chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng”, bên cạnh việc đấu tranh mạnh mẽ với cái xấu, hãy cổ vũ và làm nảy sinh những điều tốt đẹp vì nước, vì dân của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, góp phần tăng cường niềm tin vào tương lai tốt đẹp của đất nước nhất định sẽ thành hiện thực; và rằng: hiện tại không có con đường nào khác ngoài con đường xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng và bảo vệ đất nước mình. Tôi tin rằng nhân dân ta cũng rất muốn nghe các bạn kể những câu chuyện tốt đẹp có thật trong cuộc sống, khả dĩ có thể nhân rộng, lấn át những cái xấu, có tác dụng làm sáng trong và tươi đẹp tâm hồn.

         Chắc chắn các bạn sẽ làm tốt điều đó!

         Tôi ý thức một cách rõ ràng rằng để thực hiện hữu hiệu các mục tiêu bảo vệ và xây dựng Tổ quốc không chỉ bằng những lời hô hào, kêu gọi. Lúc này rất cần lòng nhiệt huyết, niềm tin và sự chung tay, góp sức của toàn dân tộc. Quân đội và các lực lượng vũ trang ta, càng không phải ngoại lệ, không chỉ với những vấn đề thuần túy quốc phòng - an ninh, mà cả với các vấn đề quốc kế dân sinh.

         Thực hiện hiệu quả những công việc nói trên cũng là góp phần thiết thực nâng cao năng lực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Xét cho cùng, cái gốc của bảo vệ Tổ quốc cũng chính là lòng dân. Lòng dân chính là sức mạnh không có giới hạn. Chúng ta đã nói nhiều đến “thế trận lòng dân”, “nền quốc phòng toàn dân”, nghệ thuật quân sự độc đáo của chúng ta chính là “nghệ thuật chiến tranh nhân dân”. Đó cũng là đặc trưng của Quân đội nhân dân Việt Nam, có truyền thống từ ngàn xưa. Dân là gốc. Đã là người sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân thì phải luôn đề cao tính chính trị, tuyệt đối trung thành với nước, với dân, với Đảng, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Xây dựng và bảo vệ đất nước là hai nhiệm vụ chiến lược quyện chặt vào nhau. Thời bình quân đội phải giúp dân, cùng với Đảng, chính quyền và dân chăm lo phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, hướng vào những vùng sâu vùng xa có nhiều khó khăn; biên giới và hải đảo mà có dân cũng là cách bảo vệ biên giới và hải đảo tốt nhất...

         Theo nhiều nhà phân tích chiến lược, thế giới và khu vực đang bước vào một cuộc chạy đua vũ trang mới. Chúng ta chưa bao giờ là người khởi xướng những cuộc chạy đua như vậy. Đó cũng không phải là sự lựa chọn phù hợp với chủ trương và khả năng của chúng ta.

        Sách trắng quốc phòng của Việt Nam ghi rõ “sức mạnh quốc phòng được xây dựng bằng nguồn lực mọi mặt của đất nước và con người Việt Nam, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đồng thời tranh thủ sự hợp tác, giúp đỡ của các nước bè bạn có chung mục đích đấu tranh cho hòa bình, độc lập và phát triển của khu vực và thế giới. Việt Nam không tham gia bất kỳ hoạt động nào sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực với các nước khác, nhưng sẵn sàng tự vệ chống lại mọi hành động xâm phạm lãnh thổ trên bộ, vùng trời, vùng biển và lợi ích quốc gia chính đáng của Việt Nam; không chạy đua vũ trang nhưng chúng ta luôn củng cố sức mạnh quốc phòng đủ để tự vệ”.

        Tôi cho rằng bản chất và động lực phát triển của chúng ta không dựa trên những nhân tố bạo lực, mà đòi hỏi ở Đảng và Nhà nước ta một sự lãnh đạo sáng suốt, mềm dẻo, khai thác hợp lý những nhân tố phi bạo lực, những cơ hội trong bối cảnh hiện tại để tìm cách phát triển. Đồng thời đối với chúng ta, đầu tư cho quân sự, cho quốc phòng là nhằm mục đích tự vệ, bảo vệ Tổ quốc, không gây lo ngại về an ninh cho các nước khác. Trên thực tế, dù chúng ta có dồn hết mọi nỗ lực của đất nước vào lĩnh vực quốc phòng thì cũng chưa đủ, bởi do nguồn lực hạn hẹp nên chi phí quốc phòng của chúng ta thấp hơn nhiều so với các nước phát triển hoặc các nước lớn. Chúng ta xây dựng quân đội trong khả năng có thể, bao gồm cả tiềm lực chính trị, kinh tế, khoa học - công nghệ và quân sự.

         Sức mạnh của chúng ta phải là ở sức mạnh của chính nghĩa, được thế giới ủng hộ. Việt Nam phải là “lương tri của thời đại” như thế giới từng tôn vinh.

         Sức mạnh của chúng ta phải là sức mạnh của lòng dân, của tinh thần đoàn kết, nhất trí toàn dân tộc. Đất nước sẽ không thể đứng vững bởi sự chia rẽ. Sự chia rẽ dân tộc chính là cơ hội cho những kẻ xâm lược.

         Sức mạnh của chúng ta là ở truyền thống quật cường đã được hình thành từ hàng ngàn năm lịch sử, từng là nguyên nhân để chúng ta chiến thắng mọi kẻ thù hung bạo. Sức mạnh của chúng ta còn là sức mạnh của cách đánh, khả năng tác chiến và cách thắng...

         Nhân dân Việt Nam yêu hòa bình; hữu nghị, hòa hiếu vốn là truyền thống văn hiến của dân tộc ta. Chúng ta làm tất cả để hòa bình luôn được hiện diện. Sinh lực của cộng đồng dân tộc chúng ta từng được huy động tối đa vào các cuộc kháng chiến giành độc lập đầy hi sinh, giờ đây những sinh lực ấy phải là của báu để bảo vệ và phát triển đất nước.

         Độc lập và phát triển đất nước luôn là mục tiêu và động lực chính yếu của dân tộc chúng ta.

         Khi có kẻ thù nào xâm lược nước ta thì như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Chúng ta sẽ huy động tất cả mọi sức mạnh để tự vệ và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

         Đôi lời cảm xúc

         "Kinh tế có mạnh, tư tưởng có vững, cả dân tộc có đoàn kết thống nhất thì quân đội mới có khả năng để trở thành một quân đội vô địch. Không có một quân đội mạnh trên nền tảng một xã hội chia rẽ, mất tinh thần, không sẵn sàng chiến đấu, đất nước thiếu sinh lực  "

         Nhân ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22-12, cho phép tôi với tư cách đồng đội, xin chia sẻ niềm vui với toàn thể các vị tướng lĩnh, sĩ quan, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng, các đồng chí cựu chiến binh, các gia đình liệt sĩ, các đồng chí thương binh, bệnh binh trên cả nước.

        Vào những ngày này, âm hưởng của những bài thơ, bài ca cách mạng, những bài hát ca ngợi người chiến sĩ từng làm xúc động bao trái tim Việt Nam, đang đầy ắp trong xúc cảm và hồi ức của chúng ta.

         Hôm nay không phải lần đầu tiên tôi cảm thấy vô cùng tự hào về Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, tự hào về hình ảnh “Anh bộ đội Cụ Hồ” - một biểu tượng không chỉ đẹp về thể chất mà còn ở những nét đẹp của tinh thần đoàn kết, nỗ lực vượt qua khó khăn, gian khổ, trên hết là tình yêu Tổ quốc, yêu nhân dân nồng nàn, sâu lắng và có những nét nổi trội khó có thể thấy được ở những đội quân nào khác... Trong niềm xúc động, tự hào đó, tôi xin dừng bài viết này bằng việc dẫn câu thơ của nhà thơ Vũ Cao, như một lời nhắn nhủ:

         “Anh đi bộ đội sao trên mũ

        Mãi mãi là sao sáng dẫn đường...”.                                                                                                                                                                                                                                            

Sức mạnh bắt nguồn từ truyền thống yêu nước

 

Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập ngày 22-12-1944. Đó là ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên, theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, dựa vào sức mạnh của nhân dân và nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam, sự đoàn kết, giúp đỡ của nhân dân và quân đội các nước anh em, vừa chiến đấu vừa xây dựng, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát triển từ nhỏ đến lớn, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng lớn và trưởng thành vượt bậc. Sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam thể hiện trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược bắt nguồn từ truyền thống yêu nước được hun đúc qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, sự thống nhất về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tình đoàn kết quân dân, đoàn kết nhất trí giữa cán bộ và chiến sĩ, mưu trí dũng cảm trong chiến đấu, năng động, sáng tạo trong sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật phù hợp với nghệ thuật quân sự Việt Nam, chiến trường Việt Nam.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

       

70 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và ngày quốc phòng toàn dân

posted Dec 11, 2014, 6:44 AM by Cb Sinh vien   [ updated Dec 11, 2014, 6:45 AM ]

        Sắp tới đây là  kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2014). Nhân dịp ngày kỷ niệm này bài viết sau xin chia sẽ về ý nghĩa và bối cảnh của việc đưa ra ngày kỷ niệm này.

Quân đội nhân dân Việt Nam là con đẻ của phong trào cách mạng và nhân dân

    Trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931), cuộc tổng diễn tập đầu tiên của cách mạng nước ta, đã xuất hiện lực lượng vũ trang nhân dân. Từ những cuộc biểu tình lưu huyết của công nông Vinh-Bến Thủy đã xuất hiện những đội tự vệ, những đội Xích vệ đỏ đầu tiên. Chính những Xích vệ ấy đã đi đầu trong việc bảo vệ các làng đỏ trong quá trình tồn tại Xô Viết Nghệ Tĩnh.

    Lực lượng võ trang nhân dân hình thành rõ nét hơn trong thời kỳ vận động trực tiếp cho thắng lợi của các mạng Tháng Tám (1939-1945). Trong thời kỳ khởi nghĩa Bắc Sơn (9-1940) Đảng ta đã xây dựng đội du kích Bắc Sơn. Ngày 14.2.1941, Đội du kích Bắc Sơn được chính thức thành lập ở khu rừng Khuỗi Nọi, xã Vũ Lễ, châu Bắc Sơn (Lạng Sơn). Đồng chí Hoàng Văn Thụ thay mặt Trung ương Đảng công nhận và giao nhiệm vụ cho đội. Đội có 32 người chia ra 3 tiểu đội do đồng chí Lương Văn Chi và Chu Văn Tấn chỉ huy. Vũ khí chỉ co 5 khẩu súng trường, còn toàn súng kíp và dao găm.

    Lực lượng võ trang nhân dân hình thành rõ nét hơn trong thời kỳ vận động trực tiếp cho thắng lợi của các mạng Tháng Tám (1939-1945). Trong thời kỳ khởi nghĩa Bắc Sơn (9-1940) Đảng ta đã xây dựng đội du kích Bắc Sơn. Ngày 14.2.1941, Đội du kích Bắc Sơn được chính thức thành lập ở khu rừng Khuỗi Nọi, xã Vũ Lễ, châu Bắc Sơn (Lạng Sơn). Đồng chí Hoàng Văn Thụ thay mặt Trung ương Đảng công nhận và giao nhiệm vụ cho đội. Đội có 32 người chia ra 3 tiểu đội do đồng chí Lương Văn Chi và Chu Văn Tấn chỉ huy. Vũ khí chỉ co 5 khẩu súng trường, còn toàn súng kíp và dao găm. 

    Sau hội nghị Trung lần thứ 8 (5-1941), đồng chí Phùng Chí Kiên, được cử phụ trách khu căn cứ Bắc Sơn, Võ Nhai. Đội du kích Bắc Sơn được mang tên mới là Cứu quốc quân cho phù hợp với nhiệm vụ cứu nước trước mắt. Cũng lúc ấy, ở Nam Bộ, đội du kích Nam Kỳ đã xuất hiện trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (23.11.1940) .

    Cùng với nhân dân các dân tộc Bắc Sơn-Võ Nhai, Cứu quốc quân đương đầu với cuộc càn quét của 4.000 quân Pháp, khố xanh, khố đỏ và lính dõng. Các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lương Văn Chi hy sinh. Hàng chục đội viên khác của đội bị sát hại, bị xử bắn ngay ở chân đồn Mỏ Nhài. Nhưng dưới dự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Hoàng Quốc Việt, ngày 15.9.1941, trung đội Cứu quốc quân 2 được thành lập tại khu rừng Khuôn Mánh, thôn Ngọc Mỹ, xã Tràng Xá (Võ Nhai) với 47 chiến sĩ (có 3 nữ) do đồng chí Chu Văn Tấn chỉ huy.

     Trong 8 tháng đánh du kích ở Tràng Xá (7-1941 đến 2-1942). Cứu quốc quân bám đất, bám dân chiến đấu, lực lượng ngày càng lớn mạnh, từ 47 chiến sĩ đã tăng lên 70, vũ khí ngày càng tốt hơn do cướp được của địch khiến chúng phải gọi Cứu quốc quân là "hùm xám Bắc Sơn"

    Cũng lúc đó, ở Pác Bó (Cao Bằng) Hồ Chủ Tịch chỉ thị thành lập đội du kích Cao Bằng-nơi có phong trào Việt Minh khá nhất-gồm 12 chiến sĩ do đồng chí Lê Quảng Ba chỉ huy. Để chuẩn bị về lý luận cho công tác xây dựng lực lượng võ trang, Người đã viết các tác phẩm như: cách đánh du kích, phép dùng binh của Tôn Tử.

    Lực lượng Cứu quốc quân tiếp tục phát triển. Ngày 25.2.1944, trung đội Cứu quốc quân III thành lập ở Khuối Kịch châu Sơn Dương (Tuyên Quang). Tháng 10-1944. Đội được bổ sung một lực lượng quan trọng sau cuộc vượt ngục của 12 đồng chí cán bộ Đảng ở nhà lao Chợ Chu, trong đó có các đồng chí Song Hào, Lê Hiếu Mại... 

    Sau hơn một năm bị bọn Tưởng Giới Thạch giam giữ trái phép ở Quảng Tây (Trung Quốc), Hồ Chủ Tịch về lại Cao Bằng, kịp thời hoãn lệnh khởi nghĩa của Liên tỉnh ủy Cao Bắc-Lạng, vì đây là thời kỳ "hòa bình phát triển đã qua nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới". 

    Ngày 22.12.1944, theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập tại một khu rừng nằm giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, Cao Bằng. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được Hồ Chủ Tịch ủy nhiệm lãnh đạo, đội biên chế thành 3 tiểu đội do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng và đồng chí Xích Thắng làm chính trị viên. 

    Đội chỉ có 34 chiến sĩ với 34 cây súng nhưng đều là những chiến sĩ kiên cường của công nông được chọn lọc từ các đội du kích ở Cao-Bắc-Lạng, một số đã học quân sự ở nước ngoài, hầu hết đã qua chiến đấu, và điều quan trọng hơn cả là không có ai không có nợ máu với đế quốc và phong kiến.

Thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân

    Việc thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với lịch sử quân đội ta. Chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân của Hồ Chủ tịch tuy ngắn nhưng rất súc tích bao gồm các vấn đề chủ yếu về đường lối quân sự của Đảng ta: vấn đề kháng chiến toàn dân, động viên và vũ trang toàn dân, nguyên tắc xây dựng lực lượng võ trang cách mạng, phương châm xây dựng 3 thứ quân, phương thức hoạt động kết hợp quân sự với chính trị của lực lượng võ trang, nguyên tắc tác chiến và chiến thuật du kích của lực lượng võ trang, Hồ Chủ tịch nói: "...Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội đàn anh mong cho chóng có những đội đàn em khác. Tuy lúc đầu qui mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam chúng ta". 

    Chính vì ý nghĩa đó, ngày 22.12.1944 được chọn làm ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

     Dưới lá cờ đỏ sao vàng, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã long trọng đọc lời tuyên thệ. Sau đó, theo yêu cầu của anh em, đội tổ chưc một bữa cơm nhạt không rau, không muối để nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh của các chiến sĩ cách mạng.

     Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, lực lượng chủ lực đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam, chấp hành chỉ thị phải đánh thắng trận đầu của Bác đã mưu trí táo bạo hạ đồn Phay Khắt (24.12) và Nà Ngần (25.12.1944) trong hoàn cảnh "ăn mỗi ngày một bữa, đánh mỗi ngày hai trận"

     Chỉ sau một tuần lễ, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã phát triển thành 3 trung đội làm nòng cốt cho công tác tuyên truyền, diệt địch, biến Cao-Bắc-Lạng thành một căn cứ vững chắc.

     Tháng 4-1945, theo quyết định của hội nghị quân sự Bắc Kỳ, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc Quân đã thống nhất lại vào ngày 15.5.1945 và mang têm Việt Nam Giải phóng quân. Lễ thống nhất được tổ chức tại Chợ Chu (Thái Nguyên) với 13 đại đội.

     Tại các chiến khu cách mạng trong nước, lực lượng du kích vẫn phát triển trong hình thái 3 thứ quân: tháng 5-1945 thành lập trung đội du kích của chiến khu Quang Trung tháng 6-1945 đội du kích Đông Triều ra đời, đội du kích Ba Tơ thì từ tháng 3.1945..

     Trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Việt Nam giải phóng quân có vai trò rất quan trọng; 2 giờ chiều ngày 16-8-theo lệnh của ủy Ban khởi nghĩa toàn quốc và lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch ngày 13.8-từ cây đa Tân Trào, đơn vị chủ lực Việt Nam giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy tiến thị xã Thái Nguyên, mở đầu cho tổng khởi nghĩa toàn quốc.

     Lực lượng võ trang đã hỗ trợ đắc lực cho lực lượng chính trị, tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ sau 15 ngày, ách đế quốc ngót trăm năm, ngai vàng phong kiến hàng ngàn năm đã bị lật nhào.

     Ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, quân đội ta mang tên Vệ quốc đoàn, đánh dấu thời kỳ hình thành của quân đội Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp quân đội ta mang tên quen thuộc nhất cho đến ngày nay là Quân đội nhân dân Việt Nam. Với chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại, quân đội ta đã bước vào thời kỳ trưởng thành.

     Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại vừa qua, Quân đội nhân dân Việt Nam cũng như mọi bộ phận khác của nó mang cái tên lịch sử là Giải phóng quân miền Nam đã góp phần quyết định cùng toàn dân đánh bại tên đế quốc đầu sỏ, đánh sập ngụy quyền tay sai, giải phóng hoàn toàn miền Nam vào mùa Xuân 1975.

"... Quân đội ta có sức mạnh vô địch vì nó là quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục" (Hồ Chủ Tịch)

    Trên cơ sở của một cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại, quân đội ta từ một lực lượng nhỏ bé, vũ khí trang bị thô sơ đã vươn lên thành một đội quân hùng hậu, chính quy hiện đại, gắn bó với nhân dân, tô đậm truyền thống vẻ vang mà Bác Hồ, người cha của các lực lượng võ trang Việt Nam, đã dạy: 

    "... Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng..."

     Năm 1990, theo nghị quyết số 2 bộ chính trị, ngày 22/12 hàng năm trở thành ngày hội quốc phòng toàn dân.


Nguồn: http://thcskiengiang.edu.vn/index.aspx?u=nws&su=d&cid=369&id=9248


1-8 of 8