Trang Chủ‎ > ‎CLB Văn Học‎ > ‎TẢN VĂN‎ > ‎

VÌ TỔ QUỐC CÒN CÓ NHỮNG NGƯỜI NHƯ THẦY.

đăng 03:36, 13 thg 10, 2019 bởi Giáo viên: Lê Phước Dương   [ đã cập nhật 18:15, 19 thg 10, 2019 ]
(Bài dự thi viết về ngôi trường mến yêu và thầy, cô giáo năm 2019. Do Bộ GD & ĐT tổ chức.)
Tác giả: Lê Phước Dương.

“Vết chân tròn vẫn đi về trên con đường mòn cát trắng quê tôi…”, lời bài hát trầm lắng, khắc khoải đưa tôi về với những miền kí ức xa xưa, nơi tôi đã sinh ra và lớn lên. Xa quê đã ba mươi mấy năm rồi, giữa bộn bề lo toan và nhịp đập cuộc sống có lúc khiến tôi như chẳng đủ thời gian để nhớ về miền quê rát bỏng, nhớ về THẦY… Chiều nay, lời bài hát  cất lên từ căn phòng cô tổng phụ trách, giai điệu nhẹ nhàng như một vệt nắng cuối trời chạm vào nỗi nhớ miên man. Bao nhiêu là kỉ niệm quay quắt ùa về nguyên vẹn trong tim.

   Tuổi thơ tôi lớn lên nơi miền quê nghèo khó, ven con sông Nhồng, huyện Hải Lăng, Quảng Trị, ba mươi mấy nóc nhà chụm đầu nương tựa vào nhau chở che đi qua những tháng năm cheo leo, đăng đẳng. Ngày đó, lũ trẻ chúng tôi lớn lên bằng khoai, sắn và nước lả có đứa bảy tuổi, tám tuổi rồi mà vẫn chưa được đến trường, vì ngại xa … Rồi một ngày kia, tôi còn nhớ đó là năm 1983 lúc đó, tôi vừa lên sáu, có một chú bồ đội cụt hai chân đi bằng nạng gổ tự nhiên xuất hiện ở đình làng. Ông trưởng thôn trịnh trọng nói với bà con là Đảng và nhà nước cử chú Đới về đây dạy chữ cho bà con ta. Tôi chả biết gì và cũng chẳng quan tâm lắm, dù sao thì đi chăn trâu vẫn thích hơn là đi học nhưng các cô các bác trong làng thì không như vậy, họ vổ tay đen đét trước lời nói của ông trưởng. Thế đấy, bọn trẻ chúng tôi bước vào lớp một trong  căn phòng tuền toàng mái tranh vách đất. Bàn ghế được làm tạm bằng tre, nứa và ván củ. sáu tuổi, bảy tuổi, thậm chí chín – mười tuổi cũng lớp một  luôn. Thầy Đới bảo: các em thật vinh dự khi trở thành các công dân đầu tiên của làng được đến trường trên chính làng quê của mình. Chúng tôi được thầy phát mỗi đứa một cuốn vở màu nâu sòng và cây bút chì nhỏ với lời dặn dò “Đảng trao cho em món quà nhỏ ngày hôm nay để các em xây dựng một tâm hồn lớn ngày mai”

    Bài học đầu tiên của chúng tôi là một câu chuyện đời thực mà trong đó có bóng  dáng của thầy. Thầy chống nạng đi qua đi lại và say sưa kể với niềm tin mảnh liệt. “Các em ạ, Khi thầy trò chúng ta đang ngồi đây ngắm đồng lúa thanh bình và những cánh cò bay khoan thai trên đồng ruộng thì ở chiến trường Cam Pu Chia và miền Tây Bắc của tổ quốc thiêng liêng có rất, rất nhiều người lính đã âm thầm ngã xuống để làm nghĩa vụ quốc tế và bảo vệ non sông đất nước.” Thầy ép thân mình vào chiếc bàn tre tìm điểm tựa, sau đó giơ một chiếc nạng lên trời như như người lính giơ cao khẩu súng trước giờ xuất trận rồi hô to: “Việt Nam muôn năm! Việt Nam chiến thắng! ” Nào! Các em hô đi, hô to lên đi! Hô theo thầy nào! Chúng tôi không hiểu gì cả nhưng ai nấy sợ thầy buồn đều cố hô to theo thầy làm cho ngôi trường của mình rung lên trong cái nắng và gió lào của rẽo đất Miền Trung khắc nghiêt. Sau đó, tôi thấy thầy lảo đảo ngồi xuống chiếc ghế tre, tựa cặp nạng vào vách đất, hai tay nắm chặt, đôi mắt ánh lên nét tinh anh như huy động sức mạnh còn lại của một người lính bị thương nhưng kiên quyết dành chiến thắng… Thầy đang nghỉ điều gì đó rất xa xôi.

   Rồi thầy dạy chúng tôi tập viết, tập đọc. Thầy nắn nót ghi lên bảng một dòng chữ thật to và nói:

-  Các em thân mến! đây là dòng chữ Việt Nam là tên đất nước của chúng ta, để có được cái tên yêu dấu này hàng ngàn năm qua nhân dân ta đã anh hùng giữ gìn và bảo vệ hai tiếng thiêng liếng ấy. Thầy lại chỉ vào cái chữ kế cuối cùng và bảo đó là chữ a, một nguyên âm đứng đầu trong bảng chữ cái, chúng ta sẽ bắt đầu tập viết,  tập đọc với kí tự này.

   Thời gian cứ êm đềm trôi đi, bằng sự tận tâm của một người thầy và tinh thần quyết thắng của một người lính thầy đã cho lũ trẻ chúng tôi biết đọc biết viết biết tính những phép toán đơn giản nhưng điều mà thầy tâm đắc nhất không phải chúng tôi đọc, viết lưu loát hay làm những phép tính cỏn con mà là tình yêu quê hương mà thầy đọng vào trong tâm hồn chúng tôi, chúng tôi biết yêu cái mương nước chảy qua đám ruộng khô cằn, yêu đám rạ xác xơ chiều chiều nhóm bếp, từ khi có thầy cái làng quê nghèo nàn của tôi lại đáng yêu và gần gủi biết bao trong mỗi tâm hồn ngây thơ ! Thầy thường nói với chúng tôi, khi các em có được tình yêu quê hương nó sẽ thổi bùng lên tình yêu lớn hơn, đến mười năm sau, tôi mới hiểu tình yêu lớn kia là tình yêu đất nước. Mỗi lần nói câu đó thầy đều cười rất tươi. Cô bác trong làng dựng cho thầy căn phòng nhỏ bên trường để thầy đở vất vả khi đi lại, còn bọn trẻ chúng tôi đi bắt cá, ốc thậm chí cả rùa và ba ba và rắn nước ngoài đồng để thầy chế biến món ăn. Thức ăn thì nhiều nhưng chỉ có ăn kèm với sắn, khoai, dù vậy, đứa nào cũng vui như  mở hội trong lòng.

    Khi chúng tôi lên lớp hai, Thầy Đới vẫn dạy, thầy bảo chừng nào chưa hết chữ trong bụng thầy thì thầy vẫn dạy cho chúng tôi. Năm đó rất nhiều đứa đã phải ngừng học để ở nhà làm việc, thầy buồn nhưng không nói gì cả, nhìn thầy đăm chiêu nghĩ ngợi, mái tóc bù xù phủ lấy khuôn mặt xương xẩu, chúng tôi thương thầy lắm. Hôm đó, học môn đạo đức thầy gấp cuốn sách lại, khuôn mặt nghiêm nghị, thầy dỏng dạc:

  - Các con của thầy, hãy cố gắng, đừng bỏ học, chỉ một vài năm nữa thôi, khi chúng ta dành thắng lợi hoàn toàn, Đảng, nhà nước sẽ xây những ngôi trường khang trang, sạch đẹp cho các con đền đó học hành, vui chơi. Các con sẽ có những cuốn tập thật là mới và quần áo, thậm chí là xe đạp nữa cơ đấy. Bác Hồ đã nói rồi, nhất định mai này chúng ta sẽ dựng xây một đất nước to đẹp và đàng hoàng  rồi các con sẽ là những công dân Việt Nam hạnh phúc. Chúng tôi đứa nào cũng mắt tròn xoe vì thích thú cụm từ xe đạp của thầy.

   Vết thương chiến trường Cam Pu Chia của thầy lại tái phát, mẹ tôi bảo: có những mảnh đạn gim trên người thầy chưa được lấy ra, chắc thầy mày đau lắm! Có những hôm người làng phải bỏ thầy lên vỏng và khiêng thầy vào mãi bệnh viện huyện xa lắc, những hôm đó, ngôi trường đìu hiu, vắng lặng, lũ chúng tôi ngồi một đống thẫn thờ chờ thầy về.

    Rồi người ta thông báo thầy Đới đã qua đời, chúng tôi khóc hết nước mắt, họ đưa thầy về quê. Tôi chỉ biết là tận tít ngoài Bắc mà không biết ở tỉnh nào. Khi thầy đi rồi chúng tôi phải nghỉ học liền hai tuần vì không có giáo viên thay thế.

   Chúng tôi lại tiếp tục đến trường khi có giáo viên mới về thay, nhóm chúng tôi có tám đứa, đã hứa với nhau sẽ theo đuổi con đường học hành như lời thầy dặn, sẽ làm một người công dân mến yêu quê và có trách nhiệm với tổ quốc.

   Mà lời thầy nói là đúng thật, chỉ một vài năm sau thôi, năm 1987. Tôi vào lớp 5 trong ngôi trường ngói mới đỏ hồng, miền quê của tôi đã cũng được no cơm, ấm áo, mẹ tôi bán hai con bò để mua cho cha tôi một chiếc xe đạp phượng hoàng đen óng, bọn tôi càng nghỉ càng phục thầy và càng quyết tâm hơn.

   Bây giờ, lũ chúng tôi đã khôn lớn, trưởng thành, đứa nào cũng có công ăn việc làm ổn định, được thực hiện những đam mê  khát vọng của mình, tất cả đều nhờ thầy. Nhìn lại đất nước Việt Nam chúng ta, đúng như lời thầy nói, một dải Bắc – Nam, dù mới thoát ra khỏi cuộc chiến mấy chục năm nhưng đã dựng xây được một quốc gia phồn thịnh, hơn thế nữa là cũng cố được tinh thần yêu nước và khối đại đoàn kết toàn dân, nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Tôi nghỉ rằng: để làm được điều này vì tổ quốc còn có những người  như thầy.

                                                     Lê Phước Dương. Giáo viên trường THCS

                                                         Hòa Hiệp – Xuyên Mộc – BR – VT.

Comments