Tổng quan dự án

 DỰ ÁN “ĐÁNH THỨC MỘT THẾ HỆ XANH”

 

 

 

THÔNG TIN CHUNG VỀ DỰ ÁN

 

Tên Dự Án: Đánh thức một thế hệ xanh

Hoạt động chính: Điều tra nhận thức cộng đồng về môi trường và biến đổi khí hậu

Địa điểm thực hiện: Tổ chức Online (toàn quốc)

Đơn vị thực hiện: Raising Awareness on Environment and Climate Change Program (RAECP)

Cơ quan bảo trợ: Live & Learn

Các đối tác của dự án: Các nhóm, các CLB tình nguyện về môi trường ở Việt Nam, một số website và các phương tiện truyền thông

Đối tượng mà dự án hướng tới: tập trung vào giới trẻ, cộng đồng mạng Internet

Thời gian thực hiện dự án: 6 tháng

Chi phí thực hiện: 16,800,000 VNĐ (mười sáu triệu tám trăm ngàn đồng)

 

MÔ TẢ DỰ ÁN

I. Cơ sở của dự án

A.     Mục đích:

  • Kêu gọi sự quan tâm của cộng đồng đối với vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu.
  • Điều tra nhận thức, kiến thức, thái độ của cộng đồng đối với vấn đề môi trường và Biến đổi khí hậu, trong đó có thái độ, quan điểm của các em học sinh đối với công tác giáo dục môi trường trong nhà trường. Tạo cơ sở số liệu cho các nghiên cứu, đánh giá, cũng như các dự án môi trường, biến đổi khí hậu.
  • Khuyến khích người dân, đặc biệt là giới trẻ, tìm hiểu các vấn đề về biến đổi khí hậu, tác hại của chúng đối với Việt Nam và thế giới,... thông qua những câu hỏi có tính chất gợi mở, hàm chứa thông tin
  • Phổ biến kiến thức về Môi trường và Biến đổi khí hậu, tuyên truyền đến người dân, đặc biệt là các bạn trẻ những hoạt động thay đổi nhận thức, thay đổi thói quen, hành vi.
  • Mục tiêu phụ: thông qua một hoạt động chung, gắn kết hoạt động các câu lạc bộ môi trường, các câu lạc bộ tình nguyện trên cả nước


B.    Hiện trạng môi trường, sự biến đổi khí hậu và nhận thức của người dân hiện nay:

1)                 Tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam- hiện tại và những dự báo tương lai

Biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề lớn nhất hiện nay của toàn nhân loại, trong đó Việt Nam là một ví dụ điển hình (Việt Nam nằm trong top 5 nước chịu ảnh hưởng lớn nhất của biến đổi khí hậu). Ta có thể dễ dàng nhận thấy tác động của nó trên mọi mặt của đời sống và xã hội. Những tác động ấy gồm có:

 

Thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa

Từ năm 1900 đến năm 2000, nhiệt độ trung bình hàng năm tăng thêm 0.1 độ C mỗi thập kỉ. Mùa hè ngày càng trở nên nóng hơn với nhiệt độ trung bình những tháng hè tăng lên từ 0.1 đến 0.3 độ C/thập kỉ. Như vậy, có thể dự đoán được, từ năm 1990 đến năm 2050, nhiệt độ sẽ tăng thêm từ 1.4-1.5 độ[1] và nhiệt độ sẽ tăng lên cao nhất ở khu vực đất liền. Những thay đổi trong lượng mưa sẽ trở nên phức tạp theo vị trí địa lý và theo mùa. Lượng mưa đã và đang giảm vào tháng 7, tháng 8 trên cả nước, tăng lên vào tháng 9, 10, 11[2], đi kèm với đó là sự dữ dội của các trận mưa tăng lên đáng kể. Theo các nghiên cứu và dự đoán, so với năm 1990, tính đến năm 2050, lượng mưa hàng năm tăng khoảng từ 2.5 đến 4.8%[3]. Sự gia tăng này mạnh nhất ở miền Bắc và nhẹ nhất ở đồng bằng miền Nam. Các kịch bản biến đổi khí hậu chỉ ra rằng, lượng mưa sẽ tập trung trong mùa mưa nhiều hơn cả hiện nay, dẫn đến vấn đề hạn hán trầm trọng vào mùa khô. Biến đổi khí hậu khiến cho lượng mưa không đồng đều và biến thiên theo thời gian và địa điểm.[4]

 

Lũ lụt và hạn hán

Ngay cả khi chưa tính đến việc khí hậu biến đổi trong tương lai, Việt Nam vẫn trong vùng nguy hiểm bởi những sự kiện thời tiết tiêu cực. Ở một số vùng, ví dụ như các tỉnh miền Trung và đồng bắng sông Cửu Long hiện nay, cường độ lũ lụt tăng lên rất mạnh so với nửa đầu thế khỉ trước, mặc dù không rõ liệu điều này có phải chỉ đơn giản phản ánh sự gia tăng ồ ạt về định cư, nuôi trồng và phát triển cơ sở hạ tầng hay không. Sự tàn phá của lũ lụt được dự đoán sẽ trầm trọng thêm ở một số vùng bởi lượng mưa hàng ngày tăng từ 12 đến 19% tính đến năm 2070 [5], ảnh hưởng đến cả mức lũ cao nhất và sự lặp đi lặp lại của lũ lụt. Vấn đề hạn hán sẽ trở nên nghiêm trọng do sự biến đổi của lượng mưa và sự bốc hơi gây ra bởi sự gia tăng nhiệt độ.

 

Bão nhiệt đới

Từ thập niên 50 đên 80 của thế kỉ 20, số lượng các cơn bão ở Việt Nam không ngừng tăng lên nhưng sau đó, vào những năm 90 lại suy giảm. Tháng đỉnh cao của những cơn bão đổ bộ vào đất liền đã thay đổi từ khi thường vào tháng 8 trong những năm 50, trở thành thường diễn ra vào tháng 11 trong những năm 90, và ngày càng trở nên khó dự đoán. Đường biểu thị bão có xu hướng dịch chuyển về phía Nam trong những năm gần đây, mặc dù đã được dự đoán rằng, do sự gia tăng nhiệt độ, miền Bắc sẽ dễ trở thành mục tiêu của bão nhiệt đới và cường độ bão sẽ lớn hơn, dẫn đến cấp gió mạnh hơn và lượng mưa sẽ lớn hơn nhiều. Vùng ven biển sẽ phải chịu đựng những trận bão rất khốc liệt, đe doạ cuộc sống, sinh kế, cơ sở hạ tầng và sản xuất nông nghiệp của người dân. Cộng đồng ở những vùng cao sẽ phải đối mặt với những nguy hiểm ngày càng tăng từ lũ quét và sạt lở do những trận mưa lớn. Khoảng 80-90% dân số Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi bão mà sự biến đổi khí hậu gây ra[6].

 

Mực nước biển dâng

Một vài nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức nước biển ở Việt Nam đang dâng lên. Theo UNEP (1993), mực nước biển của Việt Nam cao lên khoảng 5cm tính từ những năm 1960 cho đến những năm 1990. Tổng cục khí tượng thuỷ văn ước tính rằng mực nước biển mỗi năm tăng lên trung bình khoảng 2mm. Sự xói mòn cũng đã được đề cập tới trong các nghiên cứu, ví dụ như ở Cà Mau, khoảng 600 hecta đất bị xói mòn, với những dải đất rộng gần 200 bị mất ở một số nơi. Các dự đoán về độ dâng cao của nước biển trong tương lai là rất khác nhau, trên các phương tiện truyền thông quốc gia thì khẳng định một mức dâng khoảng 1m tính đến năm 2100 (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2003). Mức nước biển dâng sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến vùng đất thấp đồng bằng sông Cửu Long, nơi mà vào một sô thời điểm trong năm, có thể sẽ hoàn toàn bị chìm ngập.

 

Ảnh hưởng đối với Nông nghiệp

Mực nước biển tăng cũng sẽ làm xấu đi tình trạng nhiễm mặn ở các vùng ven biển, điều đã vốn là một vấn đề ở một số vùng do việc lọc lấy nước ngọt tưới tiêu, sinh hoạt, việc xây dựng các kênh đào ở đồng bằng và đập nước ở thượng lưu. Đồng bắng sông Cửu Long sẽ là nơi bị ảnh hưởng nhiều nhất với 1.77 triệu hecta đất nhiễm mặn, chiếm 45% diện tích đất. Sự nhiễm mặn, hậu quả là mất đất ở đồng bằng sông Cửu Long và một phần đồng bằng sông Hồng, những vùng sản xuất lúa quan trọng nhất Việt Nam, sẽ đe dọa nghiêm trọng đến xuất khẩu lúa gạo và an ninh lương thực quốc gia.

 

Bên cạnh lũ lụt, hạn hán, xâm lấn nước mặn và bão, cả nông nghiệp và hệ sinh thái đều chịu ảnh hưởng do tăng nhiệt độ tối thiểu. Những ngày có nhiệt độ dưới 20 độ C giảm dần, những ngày có nhiệt độ cao hơn 25 độ C đã và đang tăng dần. Điều này sẽ ảnh hưởng đến thời vụ trồng trọt, thu hoạch, tạo điều kiện tồn tại sâu bệnh và virut hoạt động, đồng thời sự dịch chuyển các cây nhiệt đới về phía Bắc từ 100 đến 200 km và lên các địa hình núi cao từ 100 đến 550m, nơi mà chúng sẽ thay thế bởi những loài á nhiệt đới. Một số loài cây và động vật cũng có thể bị tuyệt chủng do hậu quả của điều kiện khí hậu thay đổi.[7]

 

Ảnh hưởng đối với Ngư nghiệp và Lâm nghiệp

Biến đổi khí hậu được dự đoán sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến ngành ngư nghiệp của Việt Nam, ngành đã đóng góp 3.9% GDP năm 2005[8]. Lượng cá nhiệt đới với giá trị kinh tế thấp (trừ cá ngừ) tăng lên và  lượng cá á nhiệt đời với giá trị kinh tế cao hơn suy giảm. Các vỉa san hô có nguy cơ thoái hóa và những loài cá sống ở khu vực đó có nguy cơ biến mất. Hơn nữa, sự suy giảm nhanh chóng của phù du sẽ dẫn đến việc cá di trú và giảm trọng lượng cá. Hậu quả là, ngành kinh tế biển- nghề cá của Việt Nam sẽ giảm đi ít nhất 1/3. Ngoài ra, nước biển dâng còn làm cho các trang trại nuôi trồng thủy sản phải dịch chuyển, đồng thời gây ra sự nhiễm mặn ở một số nơi và việc thu nhỏ khu vực rừng ngập mặn sẽ gây ra mất mát môi trường sống của sinh vật nước ngọt. Tuy nhiên, lượng mưa tăng cũng có thể tạm thời giảm sự tập trung muối vào nước biển, ảnh hưởng đến một số loài sống ở khu vực ven biển như động vật vỏ kép thân mềm.

 

Biến đổi khí hậu đối với sức khỏe con người

Biến đổi khí hậu còn ảnh hưởng đến sức khỏe người dân bởi nhiệt độ tăng tạo điều kiện cho sự sinh sôi và phát triển của rất nhiều loại vi rút và vật mang mầm bệnh, dẫn đến sự gia tăng tỉ lệ bệnh truyền nhiễm như sốt rét và sốt xuất huyết. Hơn nữa, thời tiết khắc nghiệt và sự mạnh mẽ hơn về cả cường độ và mật độ của thiên tai, ví dụ như bão, lũ lụt,... đe dọa cuộc sống của người dân, dẫn đến nhiều rủi ro, nếu như những phương án giảm nhẹ và thích nghi với biến đổi khí hậu không được tính đến.

 

2)                 Thực trạng nhận thức về các vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu:

Bên cạnh nguyên nhân yếu kém trong công tác quản lý bảo vệ môi trường mà báo chí đã nêu thì nguyên nhân chính của tình trạng này là ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường sống còn quá kém. Việc tuỳ tiện vứt rác thải ra đường phố, xuống lòng sông, lấn chiếm sông rạch, thu hẹp dòng chảy…vẫn còn phổ biến.Các công ty vẫn để mặc cho chất thải công nghiệp độc hại chưa được xử lý huỷ hoại môi trường tự nhiên. Khói bụi từ các phương tiện giao thông cũng góp phần làm cho môi trường càng ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng. Cộng đồng nói chung chưa có những hiểu biết toàn diện về hậu quả to lớn do ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu gây ra. Những khu vực đất bị sạt lở, những xóm ung thư, bệnh dịch và gần đây nhất là tình trạng ngập úng của thành phố sau mưa, trong những đợt triều cường...chính là những hậu quả từ việc ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu mà cộng đồng phải gánh chịu.Việc khắc phục hậu quả này đòi hỏi rất nhiều thời gian, công sức và tiền của, nhưng môi trường thì vẫn đang bị xâm hại nghiêm trọng. Dường như việc thấy lợi ích trước mắt, như giảm bớt chi phí sản xuất khi bỏ qua việc xây dựng hệ thống xử lý chất thải, hạn chế chi phí thu gom rác cho gia đình... đã khiến các nhà sản xuất cũng như các cá nhân trong xã hôi cố tình quên và phớt lờ đi những hậu quả to lớn mà hiện tại và tương lai cả xã hội phải gánh chịu. Đồng thời các phương pháp giáo dục làm thay đổi hành vi, thói quen cũng như ý thức của cộng đồng vẫn chưa phổ biến. Vì vậy việc nâng cao nhận thức của người dân về môi trường và biến đổi khí hậu là một việc làm hết sức cấp thiết.

 

3)                 Các hoạt động giáo dục môi trường /biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Đối với người dân nước ta, biến đổi khí hậu vẫn còn là một vấn đề mới, chưa được sự quan tâm đúng mức của cộng đồng nói chung. Gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng tại Việt Nam đang dần quan tâm tới vấn đề này. Nhiều thông tin về môi trường và biến đổi khí hậu đã được đăng tải rộng rãi. Cộng đồng được cảnh báo về biến đổi khí hậu khi các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt diễn ra với mật độ ngày càng cao. Ngoài ra, cộng đồng còn biết đến vấn đề này qua một số sự kiện lớn được tổ chức tại Việt Nam như Giờ Trái đất (Earth Hour),... hay các dự án được triển khai tại các thành phố lớn như Hành Trình Xanh (Go Green), 3R (JICA) .v..v.. Nhờ có một số hoạt động, sự kiện lớn được tổ chức, người dân đã có điều kiện tiếp cận với vấn đề biến đổi khí hậu một cách khá rộng rãi. Ví dụ, ở Việt Nam, chiến dịch Giờ trái đất đã có sự tham gia của 1,1 triệu người ở 5 thành phố lớn (Hà Nội, Huế, TP. Hồ Chí Minh, Hội An, Đà Nẵng), tiết kiệm được hơn 140.000 kWh điện, đồng thời nâng cao hơn ý thức của người dân về bảo vệ môi trường xanh, sạch trước sự nóng lên toàn cầu. Tuy nhiên, những hoạt động này mới chỉ mang tính thời điểm, chưa triệt để, sâu sắc, chưa liên tục, mạnh mẽ. Chính vì thế, chúng chưa mang lại cho người dân một nhận thức toàn diện về biến đổi khí hậu, chưa khiến họ quan tâm, đi sâu tìm hiểu thêm về vấn đề này, cũng như chưa có cơ sở xây dựng nên những thói quen, hành vi thân thiện với môi trường, góp phần chống biến đổi khí hậu.

 

Bên cạnh các phương tiện thông tin đại chúng, các hoạt động giáo dục môi trường tại các cơ quan, trường học cũng giúp người dân nhận thức được về vấn đề biến đổi khí hậu.

-         Chỉ đạo của chính phủ (từ cấp vĩ mô đến các cấp trung gian): Theo chỉ đạo của Bộ giáo dục và đào tạo, từ năm học 2009-2010, các sở giáo dục sẽ triển khai lồng ghép giáo dục môi trường vào các môn học thuộc cấp bậc THPT và THCS. Việc đưa giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân đã là mục tiêu được Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương xác định từ năm 1998.

-         Các tổ chức khác: giáo dục môi trường được đưa đến với người dân thông qua nhiều tổ chức xã hội, bao gồm cơ quan nhà nước (sở Giáo dục đào tạo TP.Hồ Chí Minh phối hợp với công ty Tetra Pak thực hiện “Chương trình giáo dục môi trường tại 200 trường tiểu học”, “Hanoi Environmental Education Project”..v..v.), tổ chức phi chính phủ (UNICEF, UNDP,...v...v.)

-         Các câu lạc bộ, nhóm tình nguyện về môi trường: Ở Việt Nam, có rất nhiều các câu lạc bộ, tổ chức tình nguyện hoạt động trong lĩnh vực môi trường như 3R, Go Green, Green Zoom, TGC, C4E,..v..v... 

 

4)                 Nhu cầu về một cuộc điều tra

Hiện tại, chưa có một số liệu cụ thể nào đánh giá mức độ nhận thức của người dân về môi trường và biến đổi khí hậu, cũng chưa có một cuộc điều tra nào về vấn đề này được tiến hành với quy mô lớn, trên diện rộng ở Việt Nam. Các cuộc điều tra (đã có) thường mang tính chất tự phát, quy mô nhỏ, chi phí lớn, được thực hiện bằng cách đưa phiếu điều tra trực tiếp đến người dân (“Phiếu điều tra về ý thức môi trường và sự thu mua sinh thái trong gia đình trên khu vực Hà Nội”, “Nghiên cứu khảo sát toàn cầu” của UNEP tại Việt Nam, các phiếu điều tra nghiên cứu của sinh viên các trường ĐH,..v..v...). Tính hiệu quả của những cuộc điều tra như vậy thường không cao. Ví dụ,  “Nghiên cứu khảo sát toàn cầu” (UNEP) là một hệ thống bảng hỏi gồm 28 câu- 32 trang A4, được xây dựng khá hay nhưng quá dài và không phù hợp với điều kiện Việt Nam. Hệ quả là rất ít người được biết về phiếu điều tra này, số liệu thu thập được rất nhỏ lẻ và không chính xác. Ngoài ra, chi phí để thực hiện hoạt động điều tra (in, giấy, đi lại, điều tra viên, thống kê viên,...) cũng tương đối lớn.

 

Tuy vậy, qua các kết quả thống kê sơ bộ hiện có, nhận thức của người dân về môi trường và biến đổi khí hậu nói chung còn rất thấp. Hoạt động điều tra là một hoạt động không thể xem nhẹ đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực môi trường. Việc điều tra không chỉ mang lại những số liệu thống kê đơn thuần về ý thức người dân, mà còn là cơ sở tiền đề, thúc đẩy các hoạt động của các tổ chức, giúp cho tổ chức tìm ra những hướng đi đúng đắn, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể.

 

Giáo dục môi trường tuy đã và đang được đưa vào trong nhà trường, trong một số cơ quan, đoàn thể,... nhưng vẫn chưa có một cơ chế nào đánh giá được kết quả và hiệu quả của nó. Ví dụ như, trong một năm học ở một cấp học nào đó, chỉ có một tiết học về bảo vệ môi trường (thuộc bộ môn Giáo dục công dân), liệu có truyền đạt đến các em học sinh đủ kiến thức để sẵn sàng thay đổi hành vi đối với môi trường hay không. Hoặc như, 3R mới chỉ tổ chức được các tiết học giáo dục môi trường ở một số trường tiểu học tại Hà Nội (Tây Sơn, Lý Tự Trọng, Võ Thị Sáu,...). Đây là một con số quá nhỏ bé so với hàng ngàn trường tiểu học, trung học trên địa bàn Hà Nội, và hàng chục ngàn trường trên cả nước. Vì vậy, yêu cầu có một cuộc điều tra để đánh giá các hoạt động giáo dục này, tìm ra những điểm thiếu sót để khắc phục, tăng cường tính hiệu quả hoạt động là hết sức cần thiết.

 

Ở thời điểm này, biến đổi khí hậu với người dân nước ta vẫn còn là một vấn đề rất mới. Cộng đồng mới chỉ có nhận thức về vấn đề này, nhưng chưa có đủ kiến để thay đổi thái độ, hành vi môi trường, tạo lập cách ứng xử thân thiện với môi trường, tự nguyện tham gia các hoạt đông bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu. Việc đưa ra một phiếu điều tra cũng góp phần phổ biến đến người dân những kiến thức, thúc đẩy, xây dựng cho họ nhu cầu tìm hiểu về môi trường, cũng như biến đổi khí hậu, làm cho đây không còn là một là một vấn đề xa lạ, mới mẻ nữa.

 

Như đã đề cập ở trên, có rất nhiều câu lạc bộ, nhóm tình nguyện hoạt động môi trường ở Việt Nam, đặc biệt là ở các thành phố lớn. Hoạt động của các nhóm này là tuyên truyền bảo vệ môi trường, đưa ra những giải pháp hoạt động thực tế. Mới chỉ có một tổ chức duy nhất tập trung vào vấn đề biến đổi khí hậu và nâng cao nhận thức cộng đồng là RAECP (Raising Awareness on Environment and Climate Change Program). Nhưng trong thời điểm hiện nay, các tổ chức này vẫn mang tính chất cá nhân, chưa có sự liên kết, phối hợp hành động. Các dự án mới chỉ do tự phát, chưa có một cơ chế nào đánh giá hiệu quả tác động lên cộng đồng của các dự án này. Vì vậy, chúng ta rất cần có một hoạt động chung, giúp đỡ và tạo điều kiện liên kết hoạt động của các tổ chức tình nguyện, cũng như làm cơ sở cho các hoạt động chung khác, với mục tiêu chung là bảo vệ môi trường, sau này.

Với dự án điều tra nhận thức người dân về môi trường và biến đổi khí hậu, các tổ chức tình nguyện sẽ có cơ hội được làm việc cùng nhau trong việc thực hiện hoạt động (gửi phiếu điều tra đến các đối tượng), tham gia vào cuộc điều tra (với tư cách đối tượng điều tra), tích hợp các hoạt động khác (các hoạt động giải pháp sau khi đã có kết quả điều tra),.v...v..

 

II. Cách thức thực hiện

A.     Đối tượng dự án hướng tới

Cộng đồng thuộc 3 nhóm tuổi:

·        Dưới 15 tuổi (học sinh các cấp 1 và 2)

·        Từ 15-25 tuổi (học sinh cấp 3, sinh viên ĐH, CĐ, người mới đi làm)

·        Trên 25 tuổi (công chức, lao động,.v...v...)

B.    Phương thức tiếp cận của dự án:

Thực hiện cách tiếp cận tổng hợp nhằm huy động sự tham gia của các tổ chức tình nguyện, các câu lạc bộ môi trường, các tổ chức khác, cộng đồng- những người có khả năng sử dụng Internet, đặc biệt là giới trẻ, để thực hiện cuộc điều tra online trên toàn quốc, tập trung nhiều hơn vào các thành phố lớn, các khu đô thị.

C.    Các hoạt động chính (đã và đang thực hiện)

1)     Nhân sự thực hiện:

Thành viên của RAECP (“Raising Awareness on Environment and Climate Change Program”) và các nhóm tình nguyện môi trường trên cả nước

2)     Các hoạt động cụ thể

Xây dựng và thực hiện phiếu điều tra nhận thức về môi trường và biến đổi khí hậu

3)     Mục tiêu

Số người tham gia điều tra: 10.000-50.000 người

4)     Thời gian

Thời điểm thực hiện: từ tháng 7 năm 2009 đến hết tháng 12 năm 2009

5)     Các bước thực hiện:

·        Giai đoạn 1 (2 tháng):

Thành lập nhóm dự án

Nghiên cứu thực tế, đánh giá nhu cầu

Xây dựng đề án hoàn chỉnh

Xây dựng phiếu điều tra hoàn chỉnh

-       Lập phiếu điều tra

-       Chuyên gia về Môi trường, Biến đổi khí hậu phân tích, chỉnh sửa

-       Chuyên gia về Tâm lý, Điều tra Xã hội góp ý và chỉnh sửa

Tổ chức điều tra thử nghiệm

 

·        Giai đoạn 2 (3 tháng):

Đăng tải phiếu điều tra lên mạng

Liên kết các câu lạc bộ, tổ chức về môi trường, cùng gửi phiếu điều tra

Tổ chức các hoạt động kickoff tại các trường học, cơ quan

Kêu gọi sự hỗ trợ của các cơ quan truyền thông: website, báo chí,..v..v...

 

·        Giai đoạn 3 (1 tháng):

Kết thúc cuộc điều tra

Kiểm soát và hiệu chỉnh số liệu

Phân tích số liệu, đưa ra đánh giá

Thông báo và công bố kết quả cuộc điều tra

 

 

Nhiệm vụ cụ thể

Mô tả

Thời gian

(tuần)

Thành lập nhóm dự án

Tập hợp nhân sự thực hiện dự án

0-1

Đề xuất hợp tác

Thăm dò ý kiến một số CLB về việc tổ chức cuộc điều tra, khả năng hợp tác

0-8

Thu thập số liệu

Tìm hiểu thông tin về các phiếu điều tra trước đây, phân tích kết quả

0-2

Xây dựng phiếu điều tra thử nghiệm

Tạo 1 phiếu điều tra thử nghiệm nhằm đánh giá  bước đầu thái độ của người dân đối với phiếu điều tra. Cơ sở để xây dựng phiếu điều tra

2

Thăm dò ý kiến 1

Thu thập ý kiến về phiếu điều tra thử nghiệm trong 1 nhóm nhỏ khảo sát.

3-4

Xây dựng đề án hoàn chỉnh

Viết đề xuất dự án chi tiết, lập kế hoạch hoạt động và kế hoạch tài chính.

4-5

Chỉnh sửa, xây dựng phiếu điều tra hoàn chỉnh cho cả 3 nhóm đối tượng

Dựa trên cơ sở khảo sát ban đầu, các thành viên xây dựng một phiếu điều tra đầy đủ cho 3 nhóm đối tượng.

5

Mời chuyên gia

Đề xuất ý kiến, mời các chuyên gia về MT&BDKH và điều tra xã hội học cố vấn cho dự án, đánh giá và chỉnh sửa phiếu điều tra.

0-6

Chỉnh sửa bước 1

Các chuyên gia về môi trường và biến đổi khí hậu đánh giá, phân tích phiếu điều tra về tính chính xác, mức độ chuyên môn …

6

Chỉnh sửa bước 2

Các chuyên gia về tâm lý và xã hội học chỉnh sửa tính logic, tính đầy đủ, tính hợp lý và xác thực của các câu trả lời và bảng hỏi

7

Điều tra thử nghiệm

Tổ chức điều tra thử nghiệm tại 1 trường tiểu học, 1 trường đại học và 1 cơ quan

8-9

Hiệu chỉnh

Dựa vào kết quả điều tra thử nghiệm, hiệu chỉnh lại phiếu điều tra và kế hoạch hoạt động. Phân tích các khó khăn, thuận lợi và rút kinh nghiệm.

10-11

 

 

 

Đăng tải phiếu điều tra

Đăng tải phiếu điều tra, tạo đường link ngắn gọn cho phiếu điều tra.

ngày đầu tiên tuần 12

Truyền thông

Thông báo, kêu gọi mọi người tham gia cuộc điều tra online, qua các phương tiện truyền thông. Truyền thông qua Yahoo Messenger, Blog, các mạng xã hội, email, diễn đàn, website. Phiếu điều tra có thể được đăng tải trực tiếp trên website, forum, blog hoặc gửi link.

Kêu gọi sự trợ giúp từ các tổ chức tình nguyện khác trên cả nước, tham gia điều tra và truyền tải link điều tra tới bạn bè

Kêu gọi sự hỗ trợ từ phía truyền thông đặc biệt là các tờ báo điện tử, tham gia đăng tải phiếu điều tra.

12-20

Hoạt động thúc đẩy

Tổ chức các hoạt động offline (Hội thảo, nói chuyện, thuyết trình, dã ngoại, đạp xe, …) nhằm quảng bá, thúc đẩy mọi người tham gia cuộc điều tra.

12-20 (2 tuần 1 lần)

Giám sát điều tra

Giám sát và chỉnh sửa các sai sót trong quá trình nhập liệu. Hướng dẫn cho mọi người cách tham gia điều tra.

10-20

 

 

 

Kết thúc điều tra

Công bố kết quả một số dữ liệu điều tra ban đầu. Ra thông cáo báo chí và cảm ơn sự hỗ trợ của các đối tác.

Ngày cuối cùng tuần 20

Hiệu chỉnh số liệu

Kiểm tra lại toàn bộ số liệu, hiệu chỉnh sai sót.

21-22

Phân tích số liệu

Sử dụng phần mềm và các công cụ toán học, phân tích kết quả thống kê và đưa ra đánh giá về kết quả điều tra

22-23

Công bố kết quả

Công bố kết quả số liệu đánh giá, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu và chia sẻ với các cơ quan liên quan.

24

Tổng kết dự án

Đánh giá rút kinh nghiệm. Hạch toán kinh phí – giải ngân.

Ngày cuối cùng tuần 24

 

Nhiệm vụ cụ thể

Tháng 1

Tháng 2

Tháng 3

Tháng 4

Tháng 5

Tháng 6

Thành lập nhóm dự án

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đề xuất hợp tác

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thu thập số liệu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Xây dựng phiếu điều tra thử nghiệm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khảo sát thử nghiệm trong một nhóm nhỏ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lập kế hoạch hoạt động

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lập kế hoạch tài chính

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chỉnh sửa, xây dựng phiếu điều tra hoàn chỉnh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mời chuyên gia phân tích, góp ý

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chỉnh sửa bước 1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chỉnh sửa bước 2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Điều tra thử nghiệm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hiệu chỉnh phiếu điều tra

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chỉnh sửa kế hoạch hoạt động

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đăng tải phiếu điều tra

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

x

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Truyền thông

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoạt động thúc đẩy 1 (nói chuyện, hội thảo…)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoạt động thúc đẩy 1 (dã ngoại, đập xe…)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoạt động thúc đẩy 1 (thuyết trình tại các cơ quan, trường học…)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giám sát điều tra

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kết thúc điều tra

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

x

 

 

 

 

Hiệu chỉnh số liệu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phân tích số liệu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Công bố kết quả

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tổng kết dự án

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

x

 

 

 

6)     Chi phí dự kiến

 

STT

Nội dung chi

Số lượng

Đơn giá (nghìn đồng)

Tổng kinh phí (nghìn đồng)

Ghi chú

I

 Nhân sự

1

 Hỗ trợ Ban quản lý dự án

5

400

2000

 

2

Quà cho chuyên gia tư vấn xây dựng phiếu

5

200

1000

 

3

Trả lương cho chuyên gia phân tích số liệu

1

1000

1000

 

Tổng I

4000

 

II

Truyền thông

1

Báo chí

10

400

4000

 

2

Đăng tải trên các website

10

100

1000

 

3

Mua tên miền

1

200

200

 

4

Băngron xe đạp

10

40

400

 

5

Poster thông báo

400

0.5

200

 

Tổng II

5800

 

III

Tổ chức sự kiện

1

Hỗ trợ đi lại

1000

 

2

Hỗ trợ tổ chức hội thảo, hoạt động

4000

(Tiền mua dụng cụ, thuê địa điểm, tài liệu….)

3

Hỗ trợ liên lạc

1000

 

Tổng III

6000

 

Tổng I+II+III

15800

 

Chi phí dự phòng

1000

 

Tổng dự án

16800

 

Mười sáu triệu tám trăm nghìn Việt Nam Đồng

 

 

7)     Kế hoạch nhân lực:

 

·        Ban quản lý dự án: Một ban quản lý dự án được thành lập khi dự án được tổ chức chủ quản chấp nhận. Ban quản lý có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các hoạt động trong khuôn khổ dự án.

  • Chủ nhiệm dự án: đại diện tổ chức đề xuất dự án với nhà tài trợ, quản lý tài chính.
  • Cán bộ giao dịch của dự án: mối quan hệ giữa ban quản lý dự án và nhà tài trợ (nếu có) được thực hiện thông qua cán bộ giao dịch của dự án.
  • Điều phối viên: quản lý nhân lực của dự án, tìm kiếm thành viên, liên hệ với các CLB, trường học, cơ quan,...; đồng thời giúp quản lý truyền thông tổ chức các sự kiện bên lề,...
  • Quản lý truyền thông (PR): có trách nhiệm tổ chức thảo luận, hướng dẫn, huy động sự tham gia của các bên liên quan, các phương tiện thông tin đại chúng,… nhằm phổ biến phiếu điều tra đến cộng đồng.
  • Nhóm chuyên gia phân tích: khảo sát, đánh giá và đề xuất các phương pháp thực hiện, cũng như nội dung của bản điều tra

-       Chuyên gia về môi trường và biến đổi khí hậu (3)

-       Chuyên gia về tâm lý học, xã hội học (2)

-       Chuyên gia phân tích số liệu (1)


·        Các bên liên quan: Các nhóm, các câu lạc bộ, nhóm tình nguyện môi trường; các tổ chức,... giúp phát động, thúc đẩy người dân tham gia cuộc điều tra và tổ chức/ tham gia các sự kiện bên lề.


·        Nhóm cộng tác viên: thành viên của RAECP, thành viên các CLB, tổ chức về môi trường, các tổ chức khác, các bạn học sinh, sinh viên, các cán bộ ở các cơ quan,... sẽ cùng phối hợp để quảng bá phiếu điều tra rộng rãi (chủ yếu trên địa bàn của họ), tham gia kiểm duyệt hệ thống dữ liệu.

 

 

D.    Tự đánh giá mức độ thành công- Tính ưu việt của dự án:

Đối tượng tiếp cận rộng:

Phiếu điều tra được tổ chức online, có thể dễ dàng truy cập với một đường truyền Internet tốc độ thấp, thậm chí là qua điện thoại di động. Theo thống kê, hiện Việt Nam có 20.2 triệu thuê bao Internet, chiếm 23.4% dân số.

Nhiều hình thức truy cập, dễ truyền thông:

Phiếu điều tra có thể được truy cập qua một đường dẫn ngắn gọn, dễ nhớ. Đường dẫn này có thể dễ dàng gửi qua email, message, sms, … Phiếu điều tra cũng hoàn toàn có thể được đăng tải lại trên các website, blog, mạng xã hội, email (Gmail)...

            Thuận tiện cho người tham gia:

Các câu hỏi được sắp xếp linh hoạt dưới dạng trắc nghiệm. Câu hỏi và câu trả lời ngắn gọn, có nội dung phù hợp với từng lứa tuổi.

            Chi phi thấp

Cuộc điều tra được tổ chức online nên giảm các chi phí tổ chức sự kiện, nhân viên điều tra và phí điều tra, chi phí cho phiếu điều tra (giấy, in ấn, bút). chi phí nhập liệu … Việc không tốn giấy cho phiếu điều tra cũng góp phần giảm lãng phí tài nguyên Môi trường.

            Độ bảo mật và chính xác cao

Dữ liệu được đảm bảo không bị thất thoát, hack, cuộc điều tra được thông suốt 24/24. Độ chính xác của dữ liệu đầu vào cao, không bị sai lệch do công tác số hóa dữ liệu.

            Giảm thời gian

Dữ liệu đuợc nhập trực tiếp vào hệ thống ở định dạng excel, có khả năng linh động chuyển đổi sang các định dạng khác phù hợp với các phần mềm phân tích số liệu thống kê như SPSS.

            Khả năng nhân rộng cao

Cuộc điều tra tổ chức online, chi phí thấp nên có thể huy động sự tham gia của tất cả các bạn, câu lạc bộ không phân biệt vị trí địa lý (cả ở nước ngoài).

 

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung Ương (2001)- “Chiến lược quốc gia và kế hoạch hành động phòng chống và giảm nhẹ thiên tai ở Việt Nam”

 

Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2003)- “Viet Nam Initial National Communication Under the United Nations Framework Convention on Climate Change”

 

Cục Bảo vệ Môi trường (2007)- “Chương trình giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học tại Hà Nội”

http://www.thiennhien.net/news/150/ARTICLE/4017/2007-12-26.html

 

H. Dung (2009)- “Đưa giáo dục môi trường vào trường học”

http://www.nld.com.vn/20090512103127301P0C1017/dua-giao-duc-moi-truong-vao-truong-hoc.htm

 

Hanoi Environmental Education Project (2006)- “Chính sách và chương trình hành động giáo dục môi trường trong trường phổ thông”

http://www.truongbdcbgdhn.edu.vn/heep/vi/ee/-iid=16.htm

 

Hoàng Đức Cường, Trần Việt Liễn (2006)- “Xây dựng các kịch bản về biến đổi khí hậu của thế kỷ 21 cho các vùng thuộc lãnh thổ Việt Nam”

 

Lê Nguyên (2008)- “Số người dùng Internet ở VN tăng 100 lần sau 8 năm”

http://vnexpress.net/GL/Vi-tinh/2008/09/3BA062A7/

 

Nguyễn Khắc Hiếu (2008)- “Thông báo Quốc gia về Biến đổi khí hậu ở Việt Nam so với năm 1990”

 

Nguyễn Tấn Hảo (2008)- “Bảo vệ môi trường: Phải bắt đầu từ ý thức của mỗi người”

http://www.laodong.com.vn/Utilities/FeedbackList.aspx?ID=72490

 

Peter Chaudhry và Greet Ruysschaert (2007)- “Climate Change and Human Development in Viet Nam”, UNDP

 

Quỳnh Hoa (2009)- “Giờ Trái đất: Việt Nam giảm 140.000kWh điện”

http://www.monre.gov.vn/monreNet/Default.aspx?tabid=211&idmid=&ItemID=62093

 

Schaefer, D. (2003)- “Recent Climate Changes And Possible Impacts On Agriculture In Viet Nam with Regard to the Red River Delta” (Presentation)

 

Tr. Bảo (2009)- “Giáo dục môi trường tại 200 trường tiểu học”

http://www.nld.com.vn/20090211034951218P0C1002/giao-duc-moi-truong-tai-200-truong-tieu-hoc.htm

 

UNDP- “Community-Based Adaptation to Climate Change”

 

World Wildlife Fund (2009)- “Báo cáo tổng kết Earth Hour 2009”

 



[1] Hoàng Đức Cường, Trần Việt Liễn (2006)- “Xây dựng các kịch bản về biến đổi khí hậu của thế kỷ 21 cho các vùng thuộc lãnh thổ Việt Nam”

[2] Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2003)- “Viet Nam Initial National Communication Under the United Nations Framework Convention on Climate Change”

[3] Hoàng Đức Cường, Trần Việt Liễn (2006)- như trên

[4] Schaefer, D. (2003)- “Recent Climate Changes And Possible Impacts On Agriculture In Viet Nam with Regard to the Red River Delta” (Presentation)

[5] Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2003)- như trên

[6] Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung Ương (2001)- “Chiến lược quốc gia và kế hoạch hành động  phòng chống và giảm nhẹ thiên tai ở Việt Nam”

[7] Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2003)- đã dẫn

[8] Theo số liệu của Tổng cục thống kê 2006

Comments