* SỬ DỤNG ĐẤT: LOẠI ĐẤT LÀNG NGHỀ?

đăng 05:54, 3 thg 1, 2016 bởi Manager quyhoach.vn   [ đã cập nhật 06:01, 3 thg 1, 2016 ]
Lời dẫn: Là một trong nhiều loại vướng mắc về loại đất trong quy hoạch xây dựng mà Bộ XD lâu lắm chưa quan tâm cập nhật trong văn bản pháp quy. Mỗi nhà quy hoạch nên tự xoay sở giải quyết thôi.

Đất cho làng nghề thuộc loại nào trong quy hoạch xây dựng?

Đây là một trong những vấn đề mà nhiều chuyên gia xây dựng, kiến trúc sư quan tâm tại Chương trình tọa đàm Làng nghề trong xây dựng nông thôn mới vừa diễn ra mới đây tại Hà Nội, do Liên hiệp Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội phối hợp với Hội Kiến trúc sư Hà Nội tổ chức.

210011baoxaydung 7

Cần phải hiểu làng nghề là gì?

Theo các tiêu chuẩn hiện hành, trong quy hoạch xây dựng hiện nay không có loại đất “Làng nghề”. Nếu hiểu làng nghề là đất tiểu thủ công nghiệp thì không có dân cư, dẫn đến việc không tính toán bố trí một số công trình hạ tầng xã hội phục vụ dân cư. Đồng thời, áp dụng các chỉ tiêu về hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho đất sản xuất sẽ thiếu hạ tầng dành cho sinh hoạt. Còn nếu hiểu đất làng nghề là đất ở thì hạ tầng kỹ thuật sẽ không đủ đáp ứng sản xuất. KTS Vi Thị Ngân Hà - Hội KTS TP Hà Nội cho biết, đây sẽ là một khó khăn trong công tác quy hoạch vì hầu hết các tính toán đều bắt đầu từ yếu tố phân loại.

Theo TS Phạm Côn Sơn - Liên hiệp Hội Văn học nghệ thuật, trong cuốn “Làng nghề truyền thống Việt Nam” thì làng nghề được định nghĩa là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, kỉ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là làng sống chuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương

Còn xét theo góc độ kinh tế, trong cuốn: “Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, TS Dương Bá Phượng cho rằng: “Làng nghề là làng ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công tách hẳn ra khỏi thủ công nghiệp và kinh doanh độc lập. Thu thập từ các làng nghề đó chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị toàn làng”.

Như vậy, có thể thấy làng nghề là một làng hội tụ 2 điều kiện gồm: Có một số lượng tương đối các hộ cùng sản xuất một nghề phi nông nghiệp; thu nhập do sản xuất nghề mang lại chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của làng.

Tóm lại, làng nghề vừa có chức năng ở, vừa có chức năng sản xuất phi nông nghiệp và có thể có sản xuất nông nghiệp.

Nên xem làng nghề như một loại đất riêng trong quy hoạch

Trên thực tế, các làng nghề tiêu biểu Hà Nội hiện nay được thống kê trong Nghị quyết số 24/2013/NQ-HĐND ngày 04/12/2013 của HĐND TP Hà Nội đều bắt nguồn từ một làng cũ, thường là khoảng năm 1920 với dân cư cư đông đúc từ lâu. Đơn cử như các làng nghề sơn khảm thôn Ngọ, sơn mài Hạ Thái, mây tre đan thôn Phú Vinh, điêu khắc mỹ nghệ Sơn Đồng, dệt lụa Vạn Phúc, gốm sứ Bát Tràng, gỗ mỹ nghệ Thiết Úng...

Theo các văn bản quy định của Bộ Xây dựng hiện hành thì làng nghề gần nhất với loại đất sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Tuy nhiên, trong thực tế cách áp dụng đó cho thấy một số bất cập lớn bởi đất tiểu thủ công nghiệp không có dân cư cư trú nên dân số không được đưa vào để tính toán hạ tầng xã hội.

Ông Hoàng Quốc Chính - Hội viên Làng nghề rèn Đa Sỹ cho biết: Vừa qua tại làng nghề Đa Sỹ, chúng tôi lập điều chỉnh tổng thể quy hoạch chi tiết 1/500. Thực hiện điều tra nhu cầu sử dụng hạ tầng kỹ thuật hiện tại của làng nghề thì nhu cầu sử dụng điện mỗi tháng của các hộ rèn thủ công vào khoảng 400 - 500kWh, hộ búa máy 1.000 - 1.200KWh, các hộ khác 600 - 800KWh. Cả làng có khoảng 1.500 hộ nên công suất tiêu thụ điện là khoảng 1.200KVA.

Tuy nhiên, với diện tích đất sản xuất 6,1ha theo các tiêu chuẩn hiện hành thì công suất tiêu thụ điện tính toán là 900KVA. Như vậy, công suất tính toán theo quy hoạch chỉ đáp ứng được 70% yêu cầu thực tế. Nguyên nhân chủ yếu là do hệ số sử dụng đất ở làng nghề cao hơn nhiều so với KCN tập trung. Cụ thể là các ô đất làng nghề có diện tích khoảng 80 - 100m2, mật độ xây dựng khoảng 80%, xây dựng từ 3 - 4 tầng nên hệ số sử dụng đất đạt khoảng 1,5 lần, trong khi ở các KCN, mật độ xây dựng 30%, xây dựng 1 tầng nên hệ số sử dụng đất là khoảng 0,3 lần.

Một số chuyên gia về quy hoạch cho rằng, làng nghề nên được xem xét như một loại đất riêng trong quy hoạch. Bên cạnh đó, với chức năng vừa ở, vừa sản xuất thì làng nghề nên được xem là một loại đất trong quy hoạch với các đặc điểm riêng, không thuộc nhóm đất ở, cũng không thuộc nhóm đất sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Ở đó, quy hoạch trong đất làng nghề có dân cư như một làng nông nghiệp bình thường, tính toán dân cư trong quy hoạch được áp dụng giống như với đất làng xóm. Hạ tầng xã hội phục vụ đất làng nghề giống như đất làng xóm.

Đặc biệt, chỉ tiêu hạ tầng kỹ thuật phục vụ đất làng nghề cần được phối hợp bằng tổng chỉ tiêu hạ tầng kỹ thuật đất làng xóm và đất tiểu thủ công nghiệp nhân với một hệ số điều chỉnh nào đó cho phù hợp với nhóm ngành sản xuất...

 Linh Đan
Báo Xây dựng điện tử ngày 03/12/2015