Nhà văn Nguyễn Quang Thân và tiểu thuyết lịch sử Hội Thề
Mặc Lâm, phóng viên đài RFA
2009-10-11
Chương trình VHNT tuần này xin được gửi tới quý thính giả buổi nói chuyện
giữa Mặc Lâm và nhà văn Nguyễn Quang Thân về cuốn tiểu thuyết lịch sử của ông
mang tên Hội Thề, nói về cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi cùng các nhân vật lịch sử
trong giai đoạn này.
Nguyễn Quang Thân, sinh năm 1936 tại Sơn Lễ, Hương Sơn, Hà Tĩnh, hiện sống ở Hà Nội. Ông đã có những
tiểu thuyết được xuất bản như: Lựa Chọn, Một Thời Hoa Mẫu Đơn, Chú Bé Có Tài Mở
Khoá, Con Ngựa Mãn Châu. Ông cũng có nhiều kịch bản phim như Cây Bạch Đàn Vô
Danh, Con Ngựa Mãn Châu, Hội Thề, ...
Tiểu thuyết lịch sử Hội Thề của ông đã được giới phê bình
văn học trong nước chú ý. Tác phẩm này được ông khởi viết từ năm 2003 và sau 5
năm, tiểu thuyết Hội Thề đã được nhà xuất bản Phụ Nữ phát hành.
Lê Lợi và Trung Quốc
Cuốn tiểu thuyết này lấy không gian của thành Đông Quan và vùng Kinh Bắc, khắc họa lại trận Xương Giang
lịch sử. Trong biến cố đó, bảy vạn quân Minh đi
cứu nguy bị giết và bị bắt sống trong một đêm, năm vạn quân trong thành Đông
Quan khoanh tay chịu trói. Tác giả đặc biệt chú ý tới mối quan hệ giữa Lê Lợi
và Nguyễn Trãi và diễn tả mối quan hệ này với
những chi tiết sống động trong tinh thần và văn hóa Đại Việt.
Nhà văn Nguyễn Quang Thân: Hội Thề là một cuốn
tiểu thuyết lịch sử đề cập đến giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh chống
quân Minh của Lê Thái Tổ. Những ngày cuối cùng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn mà
tôi thấy trong lịch sử, điều mà tôi phát hiện ra là tại sao tương quan lực
lượng giữa Trung Quốc và nước mình trong giai đoạn đó nó cũng chênh lệch như
bất cứ giai đoạn nào, nhưng sau cuộc chiến thắng Lam Sơn thì đất nước giữ được
365 năm hòa bình, nghĩa là không còn chuyện đánh nhau với Trung Quốc nữa. Để
trả lời cho câu hỏi này, tôi tìm thấy chìa khoá của lời đáp, phương thức kết
thúc cuộc chiến tranh khởi nghĩa Lam Sơn, đó là Hội thề Đông Quan thể hiện được
sự khôn ngoan, tầm chiến lược nhìn xa trông rộng rất tài ba của Lê Lợi và
Nguyễn Trãi. Toàn bộ cuốn tiểu thuyết là tiểu thuyết lịch sử nhưng thật ra chỉ
mô tả một nhát cắt của lịch sử trong vòng khoảng 7, 8 ngày trước Hội Thề, tức
là sau trận Xương Giang lịch sử. Mục đích của tôi là muốn tái hiện lại tư tưởng
vĩ đại đã giúp Lê Lợi và người tài giải quyết tốt đẹp mối quan hệ với Trung
Quốc. Nói cho cùng, lịch sử của dân tộc Việt Nam
tức là lịch sử mối quan hệ với Trung Quốc từ hàng ngàn năm nay, tôi nghĩ như
vậy. Nếu xử lý tốt đẹp mối quan hệ đó thì sẽ hay cho dân tộc. Còn nếu để khờ
dại một chút, vụng về một chút hoặc sai lầm thì sẽ dẫn tới những thay đổi không
hay trong diễn biến lịch sử.
Nhắn nhủ của tác giả
Mặc lâm: Ông gửi gấm gì trong tác phẩm này và
một điều gì đó phản ánh lại với tình hình hiện nay, hay ông muốn thông qua tác
phẩm nhặt ra những bài học chính trị mà lịch sử để lại?
Nhà văn Nguyễn Quang Thân: Lời nhắn nhủ của cuốn
tiểu thuyết chính là tinh thần Thăng Long. Tinh thần mềm mại, sáng suốt và đầy
trí tuệ của các trí thức Thăng Long có mặt trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn như
Nguyễn Trãi, như Lưu Nhân Chú, như Phạm văn Xảo, như Trần Nguyên Hãn.
Chính sự khôn ngoan, thông minh và uyên bác của các trí
thức Thăng Long đã giúp cho Lê Lợi tìm được một cách kết thúc chiến tranh. Và
chắc chắn là cái phái võ biền họ không thích vì bao giờ phái võ biền cũng thích
võ công. Chắc chắn sau chiến tranh đất nước sẽ đổi khác chứ không phải như đã
từng xảy ra.
Mặc lâm: Thưa ông, theo ông thì đối với Lam
Sơn, những chi tiết chính trị nào được ông cho là đáng suy gẫm nhất?
Nhà văn Nguyễn Quang Thân: Chuyện này là một
chuyện hai năm rõ mười nên dù muốn hay không thì nó cũng là như vậy. Bộ tham
mưu của Lam Sơn là một bộ tham mưu cũng không học hành gì nhiều. Lê Lợi cũng
chỉ là một hào trưởng đầu mục có thể đọc thông viết thạo chữ Hán thôi, chứ còn
những ông khác như ông Nguyễn Xí, ông Lê Ngân, v.v… thì chỉ là những vị tướng
có thể là dũng cảm, tài ba nhiều công trạng nhưng không phải là trí thức. Khi
Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn vào thì bị coi thường vì họ không có chiến công
gì cả, họ chỉ là yêu nước và họ vào tham gia thôi. Ngay lập tức được ngồi chiếu
trên ngai, ít nhất thì cũng ngang bằng với những người chiến công cùng mình.
Cái tài năng vĩ đại của Lê Lợi là đã vượt qua được những định kiến đối với trí
thức. Tất nhiên là họ không ưa trí thức, những người có công trạng và ít học
thì họ không ưa trí thức, họ thấy trí thức được trọng dụng hơn họ.
Chứng cứ lịch sử thì mình không thể đoán được nhưng nhà
vua đã vượt qua được điều đó và ngay lập tức trọng dụng Lê Lợi và bốn ông của
Thăng Long, không phải chỉ trong việc kết thúc chiến tranh mà trọng dụng trong
suốt quá trình khởi nghĩa. Trần Nguyên Hãn là người của Tiên Triều dễ bị thành
kiến thế mà vẫn được cầm một tập đoàn quân. Phạm Văn Xảo cầm một cánh quân, rồi
Lưu Nhân Chú thì được dạy cho thái tử Tư Tề. Còn Nguyễn Trãi thì chúng ta biết
rồi, đã được trọng dụng như thế nào. Sự vĩ đại của Lê Lợi đối với trí thức rất
là rõ. Nói gì thì nói, cái công trạng hàng đầu trong cuộc khỏi nghĩa Lam Sơn
phải là Lê Lợi chứ không phải là ai khác. Vì sau này là chúng ta đề cao cái tư
tưởng nhân văn, chúng ta nói hơi nhiều về Nguyễn Trãi nhưng phải nói rằng cái
linh hồn của cuộc khởi nghĩa đó phải là Lê Lợi.
Vai trò trí thức
Mặc Lâm: Ông có một bài viết ngắn trên trang
blog của ông sau biến cố giải thể của Viện Nghiên Cứu Phát triển IDS
có tựa đề là “Vua sợ nhất là gì”, xin đọc lại để dễ theo dõi câu chuyện ngày
hôm nay:
Lê Quý Đôn viết:
"Phải biết sợ mới nên người". Hồi còn trẻ, đang hăng hái mọi thứ, tôi
hỏi cụ cử Mỹ người cùng làng: "Thưa cụ, con người ta có gan góc mới mong
thành công chứ sợ là nhát, sao nên người được?"
Cụ cử nói:
"Trẻ con biết sợ người lớn thì không hư."
Tôi hỏi tiếp:
"Còn người lớn thì sợ ai thưa cụ?"
Cụ đáp:
"Người lớn phải biết sợ người lớn nữa. Người lớn
nữa thì phải biết sợ vua, sợ vong linh tổ tiên ông bà. Tất cả mọi người phải
biết sợ lẽ phải và pháp luật. Không ai được cãi lẽ phải và pháp luật."
Tôi hỏi:
"Thưa cụ, còn vua thì sợ nhất cái gì ạ?"
Cụ đáp:
"Vua sợ nhất là kẻ sĩ bỏ mình mà đi. Cho nên vua
Quang Trung phải mấy lần đến tận núi Hồng Lĩnh mời Nguyễn Thiếp. Vua Lê Thái Tổ
luôn để chỗ trống bên tả mong chờ người hiền. Tề Tuyên Vương sợ Nhan Súc bỏ
mình nên khi Súc bảo "Vua lại đây!", Vua đến liền mà không dám mắng
Súc vô lễ."
Cụ cử Mỹ người làng Gôi Vỹ (cùng làng với cụ Hoàng
Giáp Nguyễn Khắc Niêm, thân sinh ông Nguyễn Khắc Viện). Cụ đỗ cử nhân, không ra
làm quan, ở nhà đi uống nước chè, ăn khoai luộc, nói chuyện đạo lý.
Vâng, rõ ràng là ông muốn lấy tích xưa để nói chuyện
nay. Xin quay lại với tiểu thuyết Hội Thề. Ông có thể cho biết cái chủ đề ngầm
bên trong của Hội Thề là gì hay không?
Nhà văn Nguyễn Quang Thân: Cái chủ đề ngầm bên
trong là cái quan hệ giữa nhà vua và trí thức. Thật ra tôi muốn nói như vậy để
có thể liên hệ tới cái đụng chạm gần như là truyền kiếp giữa chính trị và kẻ
sĩ. Kẻ sĩ thì thường thường họ không làm chính trị, có thể một số người họ ra
làm quan nhưng tinh thần kẻ sĩ luôn luôn có tính phản biện với xã hội. Mà có
như thế thì mới thấy được vai trò của kẻ sĩ. Dưới triều đại phong kiến thì đó
là những cái phanh làm kìm hãm bớt những sai lầm của triều đình.
Mặc Lâm: Ông có suy nghĩ gì về vai trò của trí
thức trong ngày hôm nay? Liệu họ có đồng cảm được với những chính sách của giới
cầm quyền hay không?
Nhà văn Nguyễn Quang Thân: Nhìn lại hôm nay thì
chúng ta thấy rằng là nếu lúc nào nhà cầm quyền biết tôn trọng trí thức, tôn
trọng khả năng của kẻ sĩ và ít nhất cũng sử dụng được họ thì thời đại đó trí
thức đóng góp rất nhiều. Và đóng góp của trí thức thì không nói ra cũng biết nó
rất quan trọng. Khi trí thức bị coi thường thì người ta bắt đầu phạm sai lầm
như cải cách ruộng đất, hay chỉnh đốn tổ chức. Khi đó trí thức bắt đầu chịu ảnh
hưởng của chủ nghĩa Mao, phải nói thẳng là như vậy, trí thức bắt đầu bị phân
biệt đối xử.
Mặc Lâm: Và thật lòng thì ông có cảm thấy lạc
quan trước việc đánh giá trí thức thông qua cách hành xử của chính quyền hiện
nay hay không?
Nhà văn Nguyễn Quang Thân: Lạc quan hay không, có
thể thay đổi được hay không thì tất cả mọi người Việt Nam
đã từng chứng kiến trọn thời kỳ vừa qua đều có cơ sở để lạc quan. Như chúng ta
đã thấy, theo những vấn đề về những ý kiến phản biện, vấn đề ngôn luận chẳng
hạn, báo chí chẳng hạn thì chúng ta chưa có báo chí tư nhân, chưa thật sự có tự
do ngôn luận nhưng do yêu cầu của thời đại, do sự thay đổi từ nhiều phía mà bây
giờ có khác hơn trước rồi. Tôi nghĩ đấy là sự phát triển có chiều hướng tích
cực nhưng dự đoán nó sẽ phát triển như thế nào thì thật là khó. Tôi thấy chưa
bao giờ đất nước ở trong một hoàn cảnh phức tạp như bây giờ.
Công cụ dân chủ Blog
Mặc Lâm: Ông là nhà văn có trang blog rất nhiều
người theo dõi, theo ông thì công cụ này có phải là phương tiện cuối cùng cho
việc phát biểu ý kiến cá nhân hay không?
Nhà văn Nguyễn Quang Thân: Hiện tượng blog và
internet là có thể không là công cụ cuối cùng nhưng nó là công cụ quan trọng
nhất của dân chủ. Trong khi người ta chưa có tự do trong thực tế thì người ta
tìm tự do của mình qua những công cụ như vậy. Họ tự do phát biểu ý kiến trong
blog, họ viết hoàn toàn khác không e dè so với viết trên báo chí chính thức.
Không ai có thể theo dõi hết hay bắt hết những người viết blog được vì có đến
4, 5 triệu người cơ mà. Chính quyền dù thích hay không thì cũng thấy rằng đấy
là dân người ta đang nói, đang nghĩ. Khi họ đã nghĩ và nói được đúng ý nghĩ của
họ thì đó là sức mạnh. Và tư tưởng đi vào quần chúng thì đó là vật chất chứ không
còn là tư tưởng nữa. Người ta nói blog là ảo nhưng tôi không thấy ảo tí nào cả.
Tôi nghĩ đọc thông tin trên blog hay tờ báo giấy thì cũng như nhau, chỉ có điều
ngày nay khi internet phát triển thì lớp trẻ là sức mạnh làm nên lịch sử đấy.
Blog là công cụ của lực lượng đang làm chủ xã hội như vậy thì rất quan trọng và
không thể coi thường được.
Mặc Lâm: Xin cám ơn nhà văn Nguyễn Quang Thân
về buổi nói chuyện ngày hôm nay.
Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia.
All rights reserved.