đăng 10:15 30-03-2012 bởi HOANG DUY
đăng 09:15 05-03-2012 bởi HOANG DUY
(GD&TĐ)
- Việc GV tự làm đồ dùng dạy học (ĐDDH) đã có từ lâu chứ không phải khi
đổi mới giáo dục mới xuất hiện. Nhưng CT-SGK mới đòi hỏi đổi mới phương
pháp dạy học thì nhu cầu về ĐDDH tăng lên rất nhiều, và vì vậy, việc GV
phải tự làm thêm những ĐDDH để dùng cũng là tất yếu. Và phong trào tự
làm ĐDDH cũng phát triển chưa từng thấy. Tự làm ĐDDH không chỉ là trách
nhiệm, mà còn là hạnh phúc của mỗi GV.
 |
| Gian hàng của Công ty 123 lúc nào cũng đông |
1-Nơi hội tụ những ý tưởng
Trong 3 ngày 21, 22, 23-5-2010, Sở GD-ĐT
Hà Nội đã tổ chức triển lãm-hội chợ sách, thiết bị giáo dục và thi đồ
dùng dạy học tự làm lần thứ 3. 29 phòng GD và các cụm trường THPT,
trường trung cấp chuyên nghiệp và Trung tâm GDTX cùng nhiều doanh nghiệp
trong lĩnh vực TBGD đã tham gia triển lãm - hội chợ (TL-HC) này. Suốt 3
ngày diễn ra TL-HC, rất nhiều GV thuộc đủ các cấp học, bậc học đã đến
tham quan, học hỏi, trao đổi lẫn nhau và mua sắm các TBDH cần thiết.
Điều đó chứng tỏ nhu cầu làm và sử dụng ĐDDH là tất yếu và bức thiết
hiện nay bởi có sự kết hợp của phương tiện này thì công việc dạy học
trên lớp của GV đã được giảm nhẹ đi rất nhiều mà hiệu quả lại cao, đồng
thời đây cũng là cơ hội để họ cùng với HS thể hiện sự sáng tạo trong quá
trình truyền thụ và tiếp thu kiến thức.
Về nguyên tắc, các TBGD được coi là có
chất lượng và hiệu quả đều phải đạt các tiêu chí tối thiểu như tính khoa
học (cả về kỹ thuật và sư phạm), tính nhân trắc học, tính thẩm mỹ, tính
kinh tế. Không phải TBDH cũng hội tụ đầy đủ những tính chất này. Chưa
kể số lượng được cung cấp cho các nhà trường, cho dù đã rất nhiều, thậm
chí trong giai đoạn đầu đổi mới GD nhiều trường còn chưa đủ năng lực
tiếp nhận đã cảm thấy choáng ngợp, nhưng vẫn không thể nào bao quát hết
nhu cầu dạy và học thực tế. Chính vì vậy, giải pháp CB-GV tự làm ĐDDH đã
góp phần khắc phục kịp thời những TBDH còn thiếu, bổ sung khi chưa có
điều kiện mua sắm, thay thế các TBDH hư hỏng, và phù hợp với tình hình,
đặc điểm của đơn vị cũng như với cách thiết kế bài giảng của từng GV.
 |
| Cô giáo Bùi Thị Tình với phần mềm vui học toán |
Phong trào tự làm ĐDDH đã phát triển
rộng khắp trong cả nước. Nhiều địa phương đã tổ chức được TL-HC thông
qua đó nhân rộng hiệu quả của ĐDDH tự làm. Tuy nhiên, đây chủ yếu vẫn là
công việc mang tính tự phát, ít có những đơn vị có cơ chế chính sách
hay chỉ đạo thường xuyên. Công việc này cũng làm mất nhiều thời gian,
công sức và cả tiền bạc của GV, mà nếu không có lòng yêu nghề và tinh
thần trách nhiệm với học trò thì sẽ khó có thể lao tâm khổ tứ vì nó.
Chưa kể những khó khăn khách quan khác như thiếu kinh phí để mua nguyên
vật liệu, độ bền của ĐDDH tự làm chưa cao, khả năng của GV còn hạn chế,
chế độ khuyến khích, khen thưởng lại chưa hoàn toàn xứng đáng với tâm
lực của GV.
Mặc dù vậy, các GV vẫn không ngừng sáng
tạo, tâm huyết và đầy hào hứng trong công việc khó khăn vất vả này. Ví
dụ: GV Trường THCS Vạn Thắng (Ba Vì) tự chế các dung dịch thử chỉ thị
màu từ quả cây, không phải vì không có hoá chất mà mục đích chính là GD
cho các em ý thức thân thiện với môi trường. Thầy Trần Đình Toàn, GV vật
lý Trường THPT bán công Đống Đa tự chế dụng cụ thí nghiệm định luật
Bôilơ-Mariốt và Sáclơ vì giá thành rẻ gấp hàng chục lần so với đi mua,
mà lại đạt độ chính xác cao hơn, chế tạo thì đơn giản đến mức HS cũng có
thể làm được. Thầy Nguyễn Văn Thông-GV Trường THPT Phan Huy Chú thì
thiết kế bộ thí nghiệm chứng minh lực quán tính bởi vì trong SGK có
hướng dẫn nhưng chỉ thực hiện được trong điều kiện lý tưởng (không có ma
sát). Cô giáo Phương ở trường tiểu học Yên Viên (Gia Lâm) thì phối hợp 3
phần mềm khác nhau để tạo nên một phần mềm dạy tiếng Việt phù hợp với
điều kiện dạy và học ở trường. Còn các GV mầm non thì vô cùng nhiều sáng
tạo trong việc làm đồ chơi cho trẻ và cũng là ĐDDH đối với lứa tuổi
“học bằng chơi, chơi mà học” này, mà nguyên liệu hầu hết là phế liệu.
Nhìn thật vui mắt mà cũng thật thương.
Các phàn mềm dạy học cũng là một sản
phẩm được khai thác nhiều, cả từ phía nhà sản xuất và người sử dụng. Đặc
biệt là phần mềm dạy tập viết và học toán cấp tiểu học thu hút được sự
quan tâm của nhiều GV.
 |
| Thầy Nguyễn Văn Thông với TBDH tự làm |
2-Tạo cơ hội kết nối
Trong TL-HC về đồ dùng dạy học, có nhiều
cơ hội kết nối được thể hiện, không chỉ có sự kết nối của các ý tưởng
sáng tạo của GV với GV, của GV với các nhà sản xuất, mà còn là của nhà
quản lý với cả hai đối tượng này. Nếu các bên đều có trách nhiệm và thấy
hạnh phúc trong sự kết nối này thì sẽ là điều kiện thuận lợi để kết nối
thành công, đem lại hiệu quả cho giờ dạy trên lớp.
Mặc dù thời tiết nắng nóng, nhiều GV từ
các huyện xa xôi của Hà Nội đã tề tựu về đây để tham quan, khâm phục và
học hỏi đồng nghiệp trong việc sáng tạo ĐDDH. Họ cũng có một cơ hội tốt
để nhìn nhận những sản phẩm hội đủ những tiêu chí cần thiết của ĐDDH,
hoặc là gạn đục khơi trong (nhận ra sản phẩm “nhái”, hay những khiếm
khuyết cần khắc phục trong quá trình tự làm ĐDDH…)
Tại hội thảo về phát triển ĐDDH tự làm
diễn ra trong khuôn khổ TL-HC, trả lời thắc mắc của chúng tôi rằng vì
sao trong thời buổi công nghệ như hiện nay mà các GV vẫn say sưa tự làm
ĐDDH đôi khi rất thủ công và có vẻ như không có hiệu quả kinh tế như
vậy, nhiều GV đã nói: Thật ra là phải tâm huyết lắm, có trách nhiệm lắm
mới có thể tự làm ĐDDH. Và chúng tôi đã được “trả công” xứng đáng, đó là
niềm hạnh phúc khi bài giảng của mình mang dấu ấn riêng, phù hợp với ý
định của mình, mang lại hiệu quả trong truyền thụ kiến thức cũng như
tình yêu với môn học cho các em. Làm sao có thể làm chỉ vì phong trào
được!
 |
| Học tập đơn vị bạn |
Còn nhà sản xuất lại có suy nghĩ khác
khi họ đến với TL-HC này. Bà Nguyễn Thục Linh, Giám đốc Công ty cổ phần
đầu tư phát triển giáo dục 123 nói: Chúng tôi đến đây để giới thiệu sản
phẩm GD của mình, tất nhiên, nhưng đó cũng chỉ là phụ, bởi có nhiều kênh
khác để chúng tôi làm việc này. Mục đích chính là chúng tôi tìm hiểu,
thăm dò nhu cầu của người sử dụng thông qua những ĐDDH mà họ tự làm. Họ
đã phải tự làm có nghĩa là thị trường chưa đáp ứng được cho họ. Và nhà
sản xuất phải thấy trách nhiệm của mình ở đây, làm sao để có thể giúp
cho GV đỡ vất vả hơn trong quá trình dạy học của mình, không phải lọ mọ
đi làm những ĐDDH hoàn toàn có thể sản xuất đại trà mà vẫn đảm bảo chất
lượng. Mặt khác, chúng tôi cũng có cơ hội để tiếp nhận những ý kiến đóng
góp của khâch hàng để ngày càng hoàn thiện sản phẩm của mình.
Kết luận hội thảo về phát triển ĐDDH tự
làm, Chủ tịch CĐGD Hà Nội, ông Nguyễn Viết Cẩn khẳng định khả năng tìm
tòi sáng tạo trong quá trình dạy học của GV, và cũng là thể hiện tinh
thần trách nhiệm của họ qua việc tự làm ĐDDH. Nếu không đam mê, tâm
huyết thì không thể có trách nhiệm và sáng tạo như vậy. Tóm lược các ý
kiến trong khuôn khổ TL-HC và hội thảo, ông Cẩn cũng đề xuất một số kiến
nghị về quản lý để đẩy mạnh hơn nữa phong trào tự làm ĐDDH cũng như
tăng cường hiệu quả sử dụng TBDH nói chung vào việc đổi mới phương pháp
dạy học. Đó là: ngành GD cần xây dựng hệ thống văn bản hướng dẫn về các
tiêu chí của TBDH nói chung và ĐDDH tự làm nói riêng, cấp giấy chứng
nhận hoặc bằng sáng chế cho sản phẩm đồng thời có cơ chế khen thưởng và
đưa vào sản xuất hàng loạt nếu đạt yêu cầu, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
trong sáng tạo TBDH, tăng cường CSVC, tổ chức các cuộc thi và giới thiệu
về TBDH, hỗ trợ kinh phí, thời gian cho GV tự làm ĐDDH, nâng cao trình
độ CNTT để GV có thể cập nhật các công nghệ mới được ứng dụng trong
TBDH…
Được biết sắp tới, TL-HC TBDH với quy mô
toàn quốc cũng sẽ được Bộ GD-ĐT tổ chức. Đây sẽ là điều kiện để hội tụ
và kết nối về TBDH được mở rộng hơn, có chiều sâu hơn nữa.
Nguyễn Trâm Nguồn: Báo Giáo dục và thời đại
|
đăng 09:13 05-03-2012 bởi HOANG DUY
(GD&TĐ)
- Với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiểu
học, THCS các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, trong suốt quá trình thực
hiện từ pha I đến pha II, Dự án Việt-Bỉ đã góp phần rất quan trọng về
nâng cao chất lượng GD ở những tỉnh khó khăn này.
 |
| Trình diễn dạy học tích cực |
Lời người trong cuộc
Cô giáo Trần Thị Bích Hoa, Trường THCS
Quang Trung, TP Thái Nguyên chia sẻ: Tham gia vào Dự án Việt-Bỉ, chúng
tôi đã được trang bị rất nhiều kỹ năng dạy học tích cực (DHTC), ví dụ
đặt câu hỏi theo hệ thống, kỹ năng nhỏ trong ứng xử sư phạm thân thiện
và cởi mở, kỹ năng kiểm tra HS, phương pháp đánh giá HS rất linh hoạt cả
về thời điểm và cách thức. Được tập huấn các kỹ năng này và trải nghiệm
nó, bây giờ chúng tôi có thể “dạy như chơi”, rất nhẹ nhàng, thoải mái.
Nói như thế không có nghĩa là hời hợt, mà điều quan trọng từ gốc là
chúng tôi đã có được sự thay đổi trong cả thái độ, ý thức làm việc có
trách nhiệm của GV; không khí lớp học khác hẳn, thầy và trò cùng thăng
hoa, tình cảm thầy trò rất mật thiết. Đó là những yếu tố rất quan trọng
làm thay đổi chất lượng GD, thể hiện ở cả kiến thức và kỹ năng của HS.
Nhiều người ngỡ ngàng khi tiếp xúc với HS hiện nay và so sánh với HS 5
năm trước. Các em giỏi và sáng tạo lắm.
Cô Ngô Thị Thanh Xuân, GV trường CĐSP
Quảng Ninh thì khẳng định tính hấp dẫn riêng của những nội dung mà Dự án
Việt-Bỉ đã cung cấp cho mình trong lĩnh vực biên soạn tài liệu địa
phương. Đây là công trình lớn nhất trong đời dạy học mà tôi được trực
tiếp cảm nhận và tham gia. Chúng tôi không chỉ có được kỹ năng viết giáo
trình mở (có cả nội dung và phương pháp) và dạy giáo trình này theo
phương pháp tích cực, biết cách tổ chức DHTC, có khả năng nghiên cứu ứng
dụng sư phạm, lại có điều kiện nâng cao trình độ CNTT trong dạy học.
Thông qua toàn bộ quá trình này, phông văn hoá nói chung của mỗi GV đã
được nâng lên rất nhiều. Chúng tôi mới nhận ra rằng, lao động của nhà
giáo là rất đặc thù, đòi hỏi một năng lực tổng hợp và kiến thức rộng.
Những gì chúng tôi được đào tạo ban đầu chỉ là rất sơ đẳng, quá trình
bồi đắp thường xuyên mới là quan trọng, và vai trò tự bồi dưỡng là lớn
lắm. Muốn có vai trò đó, bản thân GV phải say mê, phải có ý thức, và
phải nhận thức được mình thiếu gì, cần gì để yêu cầu được đáp ứng và tự
đáp ứng.
Cô Vũ Thị Bình, GV Trường CĐSP Lào Cai
đã dùng hình ảnh người làm vườn thay cho hình ảnh người lái đò để nói về
công việc của nhà giáo. Cô nói: GV chính là người hiểu rõ nhất mảnh
vườn của mình với các loại cây khác nhau, các kỹ thuật chăm sóc khác
nhau, và biết cách áp dụng những kỹ thuật đó để làm cho cây nở hoa kết
quả. Và cô cho đó là thay đổi lớn về nhận thức nghề nghiệp sau quá trình
tham gia Dự án Việt-Bỉ suốt 2 pha liền. Cô nói: trong 10 năm ấy, lúc
nào chúng tôi cũng háo hức đón chờ các nội dung tập huấn, bởi nhu cầu
đổi mới phương pháp ở GV là rất lớn, nhất là với những GV dạy nghề sư
phạm như chúng tôi. Và chúng tôi đã được đáp ứng, không chỉ để thay đổi
trong công việc của chính mình, mà còn giúp cho SV những kỹ năng nghề
nghiệp thông qua tập huấn, thực hành và trải nghiệm thực tế. Chúng tôi
có được niềm tin về sự thành công của việc áp dụng các phương pháp DHTC.
Chúng tôi được tạo cơ hội và điều kiện để “trình diễn nghề”, đồng thời
cũng biết được những đổi mới nào là vì HS thực sự, còn cái gì chỉ là
hình thức.
GV nào cũng có thể dạy học tích cực và thân thiện
Thành quả đạt được về chất lượng đội ngũ
GV tiểu học và THCS không chỉ dừng ở 14 tỉnh miền núi phía Bắc, mà rất
nhiều nội dung tập huấn đã được triển khai nhân rộng ra cả nuớc, như dạy
và học tích cực, thư viện thân thiện, nghiên cứu khoa học sư phạm ứng
dụng, biên soạn tài liệu địa phương. Trong quá trình đổi mới giáo dục
phổ thông, việc đổi mới phương pháp dạy học được coi là thành phần trì
trệ nhất, khó thực hiện nhất. Vậy mà các nhà thiết kế Dự án Việt Bỉ lại
lựa chọn vùng khó để triển khai, thì những thành công có được sẽ càng có
ý nghĩa.
 |
| Các đại biểu tham gia Hội thảo THTT, HSTC |
Sau 5 năm tác động, dự án đã góp phần
làm thay đổi cơ bản nhận thức và kỹ năng của GV và CBQLGD của các tỉnh
tham gia dự án về DHTC, về nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, về thư
viện thân thiện, về biên soạn tài liệu giáo trình địa phương. Riêng xây
dựng thư viên thân thiện là hoạt động nằm ngoài kế hoạch mà văn bản dự
án đề ra song TVTT đã hỗ trợ đắc lực cho công tác DHTC, góp phần làm
thay đổi các hoạt động GD, thay đổi diện mạo nhà trường, tạo không khí
học tập cho HS và sự đam mê nghề nghiệp của GV. Hiện nay nhiều Sở
GD&ĐT đã triển khai nhân rộng mô hình thư viện thân thiện ra các
trường ngoài dự án.
Sản phẩm cụ thể sau Dự án chính là mô
hình DHTC, mô hình TVTT; là 3 bộ sách về Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng
dụng, Dạy và học tích cực, Thư viện thân thiện; 76 cuốn sách Giáo dục
địa phương cho 14 tỉnh thuộc Dự án. Đaâ là phần nội dung rất có ý nghĩa
để góp phần nhân rộng thành quả của Dự án sau này, tạo nên tính bền vững
của Dự án.
Ngay trong thời gian triển khai Dự án
thì một số hoạt động cũng đã được nhân rộng ngay (tập huấn Nghiên cứu
khoa học sư phạm ứng dụng, tập huấn DHTC...). Mới đây, ngày 19-5-2010,
trong công văn hướng dẫn về bồi dưỡng hè 2010 cho GV của Bộ GD-ĐT cũng
có nội dung bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng.
Tại Hội nghị tổng kết các kết quả Dự án Việt Bỉ diễn ra từ 23 đến
25-6-2010, Ban giám đốc Dự án cũng đã có khuyến nghị : Để tăng cường hơn
nữa tính bền vững của Dự án, Bộ Giáo dục và Đào tạo nên tổ chức tập
huấn nhân rộng đội ngũ cốt cán trung ương, đặc biệt cần tập huấn cho các
cán bộ chỉ đạo các môn học của các Vụ bậc học, Viện KHGD về các nội
dung mà Dự án Việt Bỉ đã tiến hành trong pha 2 (2005-2010), đồng thời
cần có thêm một dự án Pha 3 tiếp nối để hỗ trợ cho Bộ Giáo dục và Đào
tạo trong việc triển khai, giám sát, đánh giá việc thực hiện tại các địa
phương, hỗ trợ cho Bộ trong việc xây dựng chương trình bồi dưỡng thường
xuyên cho giáo viên chu kỳ 2010-2015 và chương trình giáo dục phổ thông
sẽ thực hiện trong năm 2015.
Nguyễn Hoàng Nguồn: Giáo dục thời đại
|
đăng 20:47 17-02-2012 bởi HOANG DUY
Kính gửi các bạn!
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đã ghé thăm website http://vihocsinhthanyeu.tk. Kể từ ngày 1/3/2012 tên trang web sẽ được đổi thành http://www.vihocsinhthanyeu.tk/ (có thêm www.). Hiện tại dù bạn click bất kỳ trang nào thì tại thanh địa chỉ vẫn là vihocsinhthanyeu.tk. Việc thay đổi này để tiện cho việc bạn đọc thấy rõ tên các đường link (ví dụ: http://www.vihocsinhthanyeu.tk/nguyen-dang-hoang-duy/on-tap). Vậy, từ 1/3/2012, các bạn vui lòng đánh thêm www. trước vihocsinhthanyeu.tk. Xin cảm ơn các bạn và mong các bạn tiếp tục ủng hộ cho trang web nhỏ này. |
đăng 08:45 31-03-2009 bởi HOANG DUY
[
đã cập nhật 08:50 31-03-2009
]
Ngay sau khi công bố 6 môn thi tốt nghiệp THPT năm 2009, ngày 27/3, Bộ GD-ĐT đã ban hành hướng dẫn ôn tập các môn: Văn, Toán, Ngoại ngữ, Vật lý, Sinh học, Địa lý. Dưới đây là hướng dẫn ôn tập tốt nghiệp môn tiếng Anh. Việc thi tốt nghiệp trung học phổ
thông (THPT) môn Tiếng Anh năm học 2008-2009 trong các trường THPT và tương đương
được thực hiện theo Quy chế thi tốt nghiệp trung học phổ thụng, ban hành theo Thông tư số
04/2009/TT-BGDĐT ngày 12/3/2009.
Để chuẩn bị kiến
thức, kỹ năng cho kỡ thi tốt nghiệp THPT, Vụ Giỏo dục Trung học, Bộ GDĐT hướng
dẫn ôn tập môn Tiếng Anh như sau: I - NỘI DUNG ÔN TẬP
CHƯƠNG TRÌNH 7 NĂM
1. Kiến thức ngôn ngữ:
- Động từ
(verbs):
+ Present Simple,
Present Progressive, Present Perfect, Present Perfect Progressive, Past Simple,
Past Continuous, Past Perfect, Past Perfect Progressive, Future Simple, Future
Progressive, Future Perfect, Future Perfect Progressive.
+ Dạng bị động
(Passive Voice) của động từ với các thời nêu trên.
+ Định dạng của
động từ khi đi sau một số động từ hoặc cụm từ khác như: hate, like, enjoy,
start, begin, stop, do you mind..., I don’t mind…, be fed up with, be afraid
of, be fond of, have, let, help, see, keep, watch…
+ Ôn tập và nắm
vững sự hòa hợp giữa chủ ngữ và vị ngữ (subject-verb concord).
+ Nắm vững cách sử
dụng một số động từ có hai hoặc ba từ đã học trong chương trình.
- Modal verbs:
+ Nắm được dạng và
cách dùng của các Modal verbs: can, may, must, should, … cho hiện tại và quá
khứ.
- Danh từ
(Nouns):
+ Danh từ số ít,
số nhiều.
+ Danh từ đếm được
và không đếm được.
+ Ngữ cảnh cho
danh từ.
+ Một số cách hình
thành danh từ bằng cách thêm các tiếp tố: -tion, - ment, -er, the + tính từ…
- Tính từ
(Adjectives):
+ Nhận biết được
tính từ, cách dùng, vị trí của tính từ trong câu.
+ So sánh tính từ
và các trường hợp đặc biệt.
+ Cách hình thành
tính từ bằng các tiếp tố.
- Trạng từ
(Adverbs):
+ Nhận biết được
trạng từ, cách dùng, vị trí của trạng từ trong câu.
+ So sánh trạng từ
và các trường hợp đặc biệt.
- Đại từ (Pronouns):
+Cách dùng của các
đại từ quan hệ (Relative pronouns): which, who, that,...
- Quán từ
(Articles):
+ Cách sử dụng các
quán từ: a, an, the và Æ.
- Giới từ
(Prepositions):
+ Cách sử dụng các
giới từ: Giới từ chỉ thời gian, chỉ vị trí, phương hướng, mục đích,...
- Ngữ âm:
+ Sự khác biệt
giữa các nguyên âm và (hoặc) phụ âm gần kề.
+ Trọng âm trong
từ đa âm tiết.
- Câu và mệnh đề:
+ Các loại câu đơn
cơ bản với các dạng tường thuật, phủ định và nghi vấn, trật tự từ trong các
loại câu.
+ Cách sử dụng các
câu phức, câu ghép với các liên từ, đại từ quan hệ đã học.
+ Cách sử dụng các câu điều kiện loại I, II và III.
+ Câu hỏi trực
tiếp và gián tiếp.
+ Nắm được một số
dạng câu giả định.
2. Kỹ năng:
a) Đọc hiểu:
Đọc hiểu nội dung
chính và nội dung chi tiết các văn bản có độ dài khoảng 300 từ về các chủ điểm
đã học trong chương trình, chủ yếu là chương trình Tiếng Anh lớp 12.
b) Viết:
+ Viết chuyển
đổi câu sử dụng các cấu trúc câu đã học.
+ Viết nối
câu, ghép câu.
+ Dựng câu từ ngữ
liệu cho sẵn.
+ Hoàn thành câu.
+ Xác định lỗi sai
trong câu liên quan đến kỹ năng Viết.
II
– NỘI DUNG ÔN TẬP CHƯƠNG TRÌNH 3 NĂM
1. Kiến thức ngôn ngữ:
- Động từ
(verbs):
+ Present Simple,
Present Continuous, Present Perfect, Simple Past, Past Continuous, Simple
Future.
+ Dạng bị động
(Passive Voice) của động từ với các thời nêu trên.
+ Dùng dạng V-ing
của động từ khi đi sau một số động từ.
+ Cách tạo động
từ.
- Modal verbs:
+ Nắm được dạng và
cách dùng của các Modal verbs: can, may, must, should,...
- Danh từ (Nouns):
+ Danh từ số ít,
số nhiều.
+ Danh từ đếm được
và không đếm được.
+ Nhận biết được
một số cách hình thành danh từ bằng cách thêm các tiếp tố như: -tion, -ment,
-er,…
- Tính từ
(Adjectives):
+ Nhận biết được
tính từ, vị trí của tính từ trong câu.
+ So sánh tính từ.
+ Cách hình thành
tính từ.
- Trạng từ
(Adverbs):
+ Nhận biết được
trạng từ, vị trí của trạng từ trong câu.
+ So sánh trạng
từ.
+ Các trường hợp
bất quy tắc của trạng từ.
- Đại từ
(Pronouns):
+ Nắm được dạng và
cách dùng của các đại từ.
+ Cách dùng của
các đại từ quan hệ (Relative pronouns): which, who, that,...
- Quán từ
(Articles):
+ Nhận biết được
dạng các quán từ: a, an, the.
- Giới từ
(Prepositions):
+ Nhận biết được
một số giới từ: Giới từ chỉ thời gian, chỉ vị trí, phương hướng, mục đích,...
- Ngữ âm:
+ Sự khác biệt
giữa các nguyên âm và (hoặc) phụ âm gần kề.
+ Trọng âm trong
từ đa âm tiết.
- Câu và mệnh đề
+ Các loại câu đơn
cơ bản với các dạng tường thuật, phủ định và nghi vấn, đặc biệt là trật tự từ
trong các loại câu.
+ Cách sử dụng các câu phức với các liên từ, đại từ quan hệ (xác định)
đã học.
+ Nắm vững cách sử
dụng các câu điều kiện loại I và II.
2. Kỹ năng:
a) Đọc hiểu:
Đọc hiểu nội dung
chính và nội dung chi tiết các văn bản có độ dài khoảng 150 từ về các chủ điểm
đã học trong chương trình, chủ yếu là chương trình Tiếng Anh lớp 12.
b) Viết:
+ Viết chuyển
đổi câu sử dụng các cấu trúc câu đã học.
+ Viết nối
câu, ghép câu.
+ Dựng câu từ ngữ
liệu cho sẵn.
+ Hoàn thành câu.
+ Xác định lỗi sai
trong câu liên quan đến kỹ năng Viết. |
đăng 11:22 28-03-2009 bởi HOANG DUY
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2008 - 2009 gồm có 6 môn: Văn, Toán, Ngoại ngữ, Vật lý, Sinh học, Địa lý. Thí sinh học Ngoại ngữ chưa đủ 3 năm sẽ thi thay thế bằng môn Lịch sử. Các môn ngoại ngữ thi tốt nghiệp năm nay sẽ gồm: tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung, Nhật, Đức. Ở hệ bổ túc, 6 môn thi tốt nghiệp gồm Văn, Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Địa lý. Thông tin này đã được Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục (Bộ GD-ĐT) thông báo sáng nay, 27/3. Thời gian làm bài thi Văn và Toán là 150 phút, các môn trắc nghiệm (Lý, Hóa, Sinh, Ngoại ngữ) 60 phút và môn tự luận còn lại là 90 phút. Thời gian thi là ngày 2-4/6. Phó Cục trưởng Trần Văn Nghĩa nói rõ, đề thi vẫn giữ ổn định như những năm trước, đảm bảo nội dung nằm trong chương trình THPT hiện hành, chủ yếu là lớp 12; kiểm tra kiến thức cơ bản, năng lực vận dụng kiến thức, sự hiểu biết về thực hành của người học. Đặc biệt lưu ý, thí sinh học chương trình nào chỉ được làm phần riêng cho chương trình đó, chuẩn hoặc nâng cao. Thí sinh tự do được chọn một phần riêng thích hợp để làm bài. Đối với tất cả thí sinh, nếu làm cả 2 phần riêng đều không được chấm điểm. Các môn thi ngoại ngữ, đề thi mỗi môn chỉ có phần chung dành cho tất cả thí sinh, ra theo nội dung giống nhau giữa chương trình chuẩn và chương trình nâng cao, không có phần riêng. Đề thi dành cho thí sinh học theo chương trình GDTX cấp THPT được ra theo chương trình hiện hành của GDTX, chủ yếu là chương trình lớp 12. Đề thi mỗi môn chỉ có phần chung dành cho tất cả thí sinh, không có phần riêng. Ông Nguyễn Hải Châu, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học, Bộ GD-ĐT cho hay sẽ đưa ngay hướng dẫn ôn tập tốt nghiệp lên mạng. Hướng dẫn này nêu những nội dung HS cần phải ôn, nắm được chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình THPT, chủ yếu là lớp 12. Không có giới hạn về kiến thức. Ông Châu cũng lưu ý, năm nay, Bộ GD-ĐT không làm sách hướng dẫn ôn tập do đã có bộ chương trình giáo dục phổ thông quy định về chuẩn kiến thức kỹ năng. Còn sách của Nhà xuất bản Giáo dục chỉ có tính chất hướng dẫn chứ không phải tài liệu ôn tập. HS vẫn phải bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình. Chánh thanh tra Bộ GD-ĐT Nguyễn Văn Chiến cho biết sẽ điều động khoảng 10.000 thanh tra uỷ quyền của Bộ GD-ĐT là cán bộ, giảng viên các trường ĐH, CĐ phục vụ kỳ thi này. Với cụm thi từ 3 trường trở lên, cứ 6 phòng thi, có 1 thanh tra ủy quyền của Bộ. Cụm thi 2 trường hoặc trường tổ chức thi riêng lẻ thì mỗi thanh tra sẽ "quản" 5 phòng thi. Trường thi riêng lẻ sẽ bố trí cứ 2 phòng thi có 1 giám thị từ trường ĐH. Ngoài ra, sẽ có khoảng 6 đoàn thanh tra di động của Bộ GD-ĐT đi thanh tra đột xuất hoặc có mặt kịp thời ở những hội đồng thi xảy ra sự cố bất thường. Ông Chiến cũng cho biết thêm, kỳ thi năm nay, Bộ đã quyết định bỏ giám thị hành lang, thay vào đó là giám thị ngoài phòng thi. Giám thị này sẽ chốt tại các vị trí đầu hành lang phòng thi của mỗi tầng, cách xa cửa phòng thi để theo dõi, giám sát thí sinh và giám thị khi ra khỏi khu vực phòng thi. Giám thị hành lang không được vào khu vực hành lang xung quanh phòng thi khi thí sinh đang làm bài, trừ trường hợp cần thiết theo chỉ đạo của chủ tịch hội đồng. Các phòng thi sẽ được sắp xếp theo ban và theo từng ngoại ngữ. Phòng thi cuối cùng sẽ được dồn lại, nhưng không quá 28 thí sinh. Và phòng ít nhất sẽ có 5 thí sinh.
Một số lưu ý thí sinh: Đến muộn không được dự thi: Phải có mặt tại địa điểm thi đúng ngày, giờ quy định. Khi nhận đề thi phải kiểm soát kỹ số trang và chất lượng các trang in của đề. Nếu phát hiện thấy đề thiếu trang hoặc rách, hỏng, nhoè, mờ phải báo cáo ngay với giám thị phòng thi, chậm nhất 15 phút sau khi phát đề. Thí sinh chỉ được viết bằng một loại bút, một thứ mực, đặc biệt không được dùng mực đỏ; phần viết hỏng phải dùng thước gạch chéo; không được tẩy, xoá bằng bất kỳ cách gì. Các thí sinh phải nhớ, ghi rõ số tờ giấy thi đã nộp và ký xác nhận vào phiếu thu bài thi để tránh tình trạng thất lạc bài. Không làm được bài cũng phải nộp giấy thi. Không nộp giấy nháp thay giấy thi. Thi trắc nghiệm không được rời khỏi phòng thi. Thi tự luận, chỉ được ra khỏi phòng thi khi hết 2/3 thời gian và phải nộp bài thi kèm theo đề thi, giấy nháp. Mang tài liệu không được quy định sẽ bị đình chỉ thi: Thí sinh được mang: bút viết, thước kẻ, bút chì đen, tẩy chì, compa, êke, thước vẽ đồ thị, dụng cụ vẽ hình. Các vật dụng này không được gắn linh kiện điện, điện tử. Thí sinh được mang máy tính cầm tay nhưng phải đảm bảo không có chức năng soạn thảo văn bản và không có thẻ nhớ. Được mang Atlat Địa lý Việt Nam, do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành và lưu ý là không được đánh dấu hoặc viết thêm bất cứ nội dung gì trong tài liệu. Trong trường hợp thí sinh cố tình mang theo tài liệu, vật dụng hoặc các phương tiện thu phát thông tin không được quy định vào phòng thi, dù sử dụng hay chưa sử dụng đều bị đình chỉ thi. Bị ốm hoặc có việc đột xuất đặc biệt được đặc cách tốt nghiệp (đủ điều kiện dự thi) nếu không quá 10 ngày trước ngày thi hoặc ngay trong buổi thi đầu tiên, không thể dự thi. Điều kiện với những thí sinh này là phải đạt học lực và hạnh kiểm cả năm ở lớp 12 từ khá trở lên. Trong trường hợp thí sinh đã thi ít nhất một môn và không thể tiếp tục dự thi hoặc sau khi bị ốm hay có việc đột xuất đặc biệt tự nguyện dự thi số môn thi còn lại thì điểm bài thi của những môn đã thi đều phải đạt từ 5,0 trở lên. Điều kiện là xếp loại ở lớp 12 đạt học lực từ trung bình trở lên, hạnh kiểm từ khá trở lên. Những thí sinh được tốt nghiệp đặc cách đều xếp loại trung bình. (Phó Cục trưởng Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục, Bộ GD-ĐT Trần Văn Nghĩa) Bảo Anh - Lan Hương - VietNamNet |
đăng 09:09 24-02-2009 bởi HOANG DUY
Mùa tuyển sinh ĐH-CĐ đang đến rất gần nhưng nhiều học sinh cuối cấp THPT vẫn thờ ơ với việc chọn nghề, chọn trường. Nỗi khổ chọn ngành nghề "Mình chưa biết thi trường nào, ngành gì và cũng không biết mình thích làm nghề gì nữa", đó là câu trả lời của Lê Thanh Nam (trường THPT Nông Sơn, Quảng Nam) khi chúng tôi hỏi: Bạn định thi ngành nào? Nam nói thêm: "Ở đây, tụi mình đều là học trò miền núi nên rất khó tiếp cận với thông tin tuyển sinh, nghề nghiệp. Trên lớp học thì có một vài thầy cô giáo có định hướng nhưng không được cơ bản lắm nên tụi mình... mù tịt!". Không chỉ học trò ở huyện miền núi mới mù mờ về việc định hướng nghề nghiệp, thi cử, chọn ngành mà ngay cả học trò ở TP Tam Kỳ (Quảng Nam) cũng thế. "Mình rất thích học khối C nhưng lại thích làm các ngành nghề liên quan đến... kỹ thuật", Hồng Yến (học sinh trường THPT Phan Bội Châu, Tam Kỳ) nói. Ngay tại TP.HCM, những học sinh chúng tôi gặp ở trường THPT Nguyễn Hữu Huân (Thủ Đức), THPT Lê Quý Đôn (Q.3), THPT Bùi Thị Xuân (Q.1) cũng không ngoại lệ. "Băn khoăn và lo lắng của tụi mình là đặt bút đăng ký dự thi. Tụi mình không biết nên thi theo ngành nghề mà ba mẹ nói là có triển vọng, có thể xin được việc hay ngành nghề mình thích", một bạn cho biết thế. Bố mẹ của nhiều học sinh định hướng theo kiểu ép con cái phải thi vào ngành nghề mà các bậc phụ huynh cảm thấy "có triển vọng" nhưng lại không tìm hiểu con mình thích và có khả năng gì - đó là nỗi khổ mà không ít học trò than vãn. Quỳnh Anh (trường THPT Hùng Vương, Thủ Dầu Một, Bình Dương) cho biết: "Mẹ mình cứ nằng nặc bảo mình thi vào ngành sư phạm nhưng mình lại thích học ngành báo chí. Mình đang cảm thấy stress với việc đấu tranh cho tương lai, nghề nghiệp của mình". Nỗi khổ của học trò miền núi là thiếu thông tin, thiếu định hướng; còn học trò thành phố thì nhiều khi cha mẹ can thiệp quá sâu vào quyết định chọn nghề của con cái, gây áp lực cho các học sinh trước mùa thi. Mong ước của học trò cuối cấp Nói như một giãi bày, các học sinh ở huyện Nông Sơn và Quế Sơn (tỉnh Quảng Nam) mà chúng tôi có dịp trao đổi, đã bộc bạch: "Tụi mình nghe nói ở các tờ báo hoặc trên mạng internet đều có thông tin tuyển sinh nhưng nơi đây muốn tìm mua tờ báo cũng đỏ mắt. Còn vào mạng thì chậm quá, tụi mình là học trò nghèo, không phải lúc nào cũng có tiền trả cước internet". Mong ước của các bạn học sinh ở huyện miền núi Nông Sơn và Quế Sơn là: "Nhà trường và mỗi thầy cô giáo là kênh tư vấn, định hướng nghề nghiệp ngay khi tụi mình bước vào trường", Thế Hùng nói. Đó có lẽ là mong ước của rất nhiều học sinh miền núi trong tình trạng thiếu thông tin hiện nay. Còn Ngô Minh Tâm, một học trò của trường THPT Trưng Vương (Q.1, TP.HCM) chia sẻ: "Mong những người thân đừng gây áp lực với mình trong việc chọn ngành nghề. Có những ngành nghề mình thích thì ba mẹ, anh chị lại bảo không có tương lai. Nhưng những nghề mà cả nhà mình cho là "hot" lại không hợp với năng lực của mình". Lưu Mạnh Khôi Cẩn trọng trước khi nộp hồ sơ Chọn trường nào, ngành nào để nộp đơn dự thi tuyển sinh ĐH - CĐ trong năm 2009? Với một học sinh có định hướng nghề nghiệp tốt từ phía nhà trường, gia đình, sẽ không mất nhiều thời gian để trả lời câu hỏi này. Nhưng, thực tế chúng tôi cũng đã ghi nhận có không ít học sinh cuối cấp lập lờ, trả lời "ba phải" theo kiểu: thi trường nào cũng được, ngành gì cũng được, miễn là vào... ĐH - CĐ. Thật đáng lo cho những học sinh cuối cấp khi thời điểm đăng ký, dự thi gần kề mà các bạn lại chưa xác định rõ ngành học và trường mà mình sẽ thi. Trong khi đó việc định hướng, chọn ngành thể hiện quyết tâm của người đi thi, và đấy cũng là động lực để thi tốt.
Bạn thích sư phạm văn, và bạn mong muốn mình sẽ được học ở trường ĐH Sư phạm TP.HCM - thí dụ vậy, đó là định hướng của bạn. Và điều này sẽ trở thành "kim chỉ nam" để bạn phấn đấu, giúp bạn có quyết tâm cao nhất, rõ ràng nhất trong thực hiện dự định và ước mơ của mình. Đương nhiên, chính vì có "kim chỉ nam" cho hành động nên đương nhiên bạn sẽ có kế hoạch, có quyết tâm thực hiện. Và khi đó, kết quả công việc của bạn sẽ là cao nhất.
Câu trả lời mang tính "ba phải" của các học sinh cuối cấp khi đứng trước lựa chọn ngành nghề dự thi và bước vào đời chắc chắn sẽ dẫn các bạn đến chỗ đặt bút đăng ký đại một ngành học, một trường thi nào đó. Khi ấy thi đại học đối với các bạn sẽ là... thi đại. "Thi đại" mà trúng tuyển, thì có thể qua 1-2 năm, bạn sẽ "ngộ" ra rằng mình không hề thích hợp với ngành học này. Khi đó, có thể các bạn sẽ chán nhưng vẫn phải học vì không dám thi lại, hoặc các bạn sẽ làm lại từ đầu. Và dù cách xử sự nào thì cũng làm cho bạn phải đau đầu khó xử và mất thời gian!
Còn nếu "thi đại" mà trượt? Nguyên nhân - rất có thể là do bạn không lượng sức mình, không biết rõ về nó nên thất bại. Người xưa dùng binh "Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng". Thi cử cũng tương tự, nếu bạn biết rõ về ngành và trường mình sẽ thi thì đương nhiên bạn sẽ có cơ hội thắng cao hơn. Vì thế, hãy cẩn trọng trước khi nộp hồ sơ dự thi! Đỗ Kim Chung Nguồn: Thanh Nien Online |
đăng 08:49 20-02-2009 bởi HOANG DUY
Bộ GD-ĐT vừa công bố kết luận chính thức của thứ trưởng thường trực Bành Tiến
Long tại Hội nghị thi và tuyển sinh năm 2009 qua cầu truyền hình vừa qua.
Theo đó, các kỳ thi và tuyển sinh năm 2009 phải được tổ chức trật
tự, an toàn, nghiêm túc, công bằng, giảm bớt nặng nề, tốn kém; đảm bảo cho kết
quả thi phản ánh đúng, khách quan chất lượng dạy và học, tạo tiền đề vững chắc
cho việc tiếp tục thực hiện lộ trình đổi mới công tác thi và tuyển sinh theo
hướng tiến tới một kỳ thi THPT quốc gia.
Với nhiều ý kiến về lệ phí thi và tuyển sinh của các đại biểu, Bộ
GD-ĐT cho biết sẽ làm việc cụ thể với Bộ Tài chính để tăng lệ phí tuyển sinh và
thu một lần lệ phí đăng ký dự thi với lệ phí dự thi khi thí sinh nộp hồ sơ đăng
ký dự thi tuyển sinh ĐH, CĐ.
Đối với kỳ thi tốt nghiệp THPT và bổ túc THPT
1. Tổ chức thi theo cụm. Trên địa bàn mỗi tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức cho học sinh lớp 12 hoặc thí sinh tự do
thi theo các cụm trường. Mỗi cụm có ít nhất ba trường THPT (hoặc ba trung tâm
giáo dục thường xuyên), có thể thành lập hội đồng hỗn hợp hai trường THPT và hai
trung tâm giáo dục thường xuyên, tập trung về thành phố, thị xã, thị trấn nơi có
điều kiện tốt hơn để tổ chức thi.
Mỗi cụm trường thành lập một Hội đồng coi thi. Mỗi địa điểm thi
bố trí một phó chủ tịch Hội đồng làm trưởng điểm thi. Trường hợp đặc biệt, những
trường ở vùng xa, vùng cao, hải đảo đi lại khó khăn, không thể tổ chức thi theo
cụm, hoặc chỉ tổ chức được hai trường/cụm, các sở GD-ĐT báo cáo, xin ý kiến chỉ
đạo của Bộ.
Trong mỗi Hội đồng coi thi, danh sách thí sinh được lập theo ba
ban: ban Khoa học tự nhiên, ban Khoa học xã hội và nhân văn, ban Cơ bản; trong
từng ban, lại xếp lần lượt các ngoại ngữ; cuối cùng tên thí sinh được xếp theo
thứ tự a, b, c,..., sau đó mới xếp lần lượt vào các phòng thi. Những phòng thi
cuối cùng có thể được xếp ghép các ban với nhau.
2. Chỉ có thanh tra của Bộ làm nhiệm vụ giám sát
ở hành lang và xung quanh phòng thi. Giám thị ngoài phòng thi thực hiện các
nhiệm vụ do chủ tịch Hội đồng phân công, ở khu vực bên ngoài, không nằm trong
phạm vi hành lang phòng thi và hỗ trợ thanh tra khi cần thiết. Bộ GD-ĐT căn cứ
tình hình cụ thể, bố trí số lượng thanh tra của Bộ tại các cụm thi.
3. Bộ GD-ĐT huy động giám thị từ trường ĐH, CĐ
coi thi trong phòng thi, nhất là ở những nơi không thể tổ chức thi theo cụm hoặc
chỉ tổ chức cụm thi có hai trường.
4. Đổi chéo bài thi tự luận giữa các tỉnh để
chấm thi: Thực hiện đổi chéo bài thi giữa các tỉnh lân cận nhau để chấm: tỉnh A
chấm bài cho tỉnh B, tỉnh B chấm bài cho tỉnh C…(những tỉnh lớn có nhiều thí
sinh dự thi có thể sẽ chấm thi cho một số tỉnh nhỏ có ít thí sinh). Bộ GD-ĐT
quyết định cụ thể việc đổi chéo bài thi giữa các tỉnh.
5. Năm học 2009 không tổ chức kỳ thi tốt nghiệp
THPT, bổ túc THPT lần 2. Đối với kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy năm 2009 Về cơ bản công tác thi tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2009 vẫn giữ ổn định theo giải pháp
ba chung (chung đề, chung đợt, chung kết quả xét tuyển) như năm 2008, tuy nhiên
có một số điểm mới sau:
1. Khung điểm ưu tiên theo đối tượng và khu vực
tuyển sinh (đối với các trường đóng tại các vùng dân tộc thiểu số và các trường
được giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương).
- Đối với các trường đóng tại vùng dân tộc thiểu số, mức chênh
lệch điểm trúng tuyển giữa các nhóm đối tượng được phép lớn hơn 1 điểm, nhưng
không quá 1,5 điểm, để số thí sinh trúng tuyển là người dân tộc thiểu số đạt tỉ
lệ cần thiết.
- Đối với các trường được giao chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo theo
địa chỉ sử dụng và các trường có nhiệm vụ đào tạo nhân lực cho địa phương, mức
chênh lệch điểm trúng tuyển giữa các khu vực được phép lớn hơn 0,5 điểm, nhưng
không quá 1 điểm để tuyển đủ chỉ tiêu đã được giao.
2. Cấu trúc đề thi tuyển sinh ĐH, CĐ theo đề thi
chung của Bộ GD-ĐT. Đề thi được ra theo chương trình THPT hiện hành, chủ yếu là
chương trình lớp 12.
- Đối với các môn: toán, vật lý, hóa học, sinh học, ngữ văn, lịch
sử, địa lý, đề thi mỗi môn gồm hai phần: phần chung cho tất cả thí sinh, ra theo
nội dung giống nhau giữa chương trình chuẩn và chương trình nâng cao; phần riêng
ra theo từng chương trình: chương trình chuẩn và chương trình nâng cao. Thí sinh
chỉ được chọn một phần riêng thích hợp để làm bài; thí sinh nào làm cả hai phần
riêng thì bài làm bị coi là phạm quy, cả hai phần riêng đều không được chấm. Chỉ
chấm điểm phần chung.
- Đối với các môn ngoại ngữ (tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung, Đức,
Nhật): đề thi mỗi môn chỉ có phần chung dành cho tất cả thí sinh, ra theo nội
dung giống nhau giữa chương trình chuẩn và chương trình nâng cao, không có phần
riêng.
3. Các sở GD-ĐT, các trường ĐH, CĐ nhất thiết
phải sử dụng chương trình máy tính tuyển sinh của Bộ GD-ĐT (bản quyền của Vụ
Giáo dục ĐH) để đảm bảo sự thống nhất trong toàn hệ thống, không sử dụng bất cứ
phần mềm nào khác. Việc nhập liệu hồ sơ đăng ký dự thi của thí sinh phải đảm bảo
chính xác, tuyệt đối không được nhầm lẫn, sai sót. Giấy chứng nhận kết quả thi
ĐH, CĐ theo đề thi chung của Bộ GD-ĐT số 1 và số 2, phiếu báo điểm phải thống
nhất với mẫu đã thiết kế, không được thay đổi và phải điền đầy đủ thông tin cần
thiết theo quy định của quy chế tuyển sinh hiện hành.
4. Tuyển sinh đào tạo theo địa chỉ sử dụng: chỉ
tiêu tuyển sinh đào tạo theo địa chỉ sử dụng nằm trong tổng chỉ tiêu được phê
duyệt. Các trường công bố công khai về chỉ tiêu, ngành nghề đào tạo, địa chỉ sử
dụng trong cuốn “Những điều cần biết về tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy năm
2009”; chỉ tuyển sinh đào tạo theo địa chỉ sử dụng bằng hình thức xét tuyển
những thí sinh đã dự thi ĐH, CĐ theo đề thi chung của Bộ GD-ĐT.
5. Các trường ĐH, CĐ ngoài công lập, công bố
công khai mức thu học phí hàng tháng (hoặc năm học hoặc cả khóa học) đối với
khóa tuyển sinh năm 2009 trong cuốn “Những điều cần biết về tuyển sinh ĐH, CĐ hệ
chính quy năm 2009”. Thông tin về loại hình trường cũng được làm rõ trong cuốn
“Những điều cần biết về tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy năm 2009”.
6. Bộ GD-ĐT phát hành sớm cuốn “Những điều cần
biết về tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy năm 2009” tạo điều kiện cho thí sinh chủ
động và có đầy đủ thông tin để khai và nộp hồ sơ đăng ký dự thi tuyển sinh ĐH,
CĐ.
Đối với kỳ thi tuyển sinh trung cấp chuyên nghiệp năm 2009 1. Chỉ tiêu đào tạo trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) năm 2009 đối với các
trường ĐH nhất là các trường không có truyền thống đào tạo TCCN sẽ điều chỉnh
theo hướng giảm dần từ 2009 đến năm 2012 mỗi năm giảm từ 15% đến 20%, để các
trường tập trung vào nhiệm vụ chính là đào tạo bậc ĐH và sau ĐH. Ngoài ra, việc
xác định chỉ tiêu đào tạo TCCN còn căn cứ vào các hợp đồng đào tạo theo địa chỉ
để đáp ứng nhu cầu của các cơ quan, doanh nghiệp sử dụng lao động.
2. Năm 2009, việc tuyển sinh TCCN tiếp tục thực
hiện theo hình thức xét tuyển (không tổ chức thi) để tuyển sinh, trừ các ngành
đào tạo năng khiếu.
3. Đối tượng tuyển sinh vào TCCN bao gồm: học
sinh đã tốt nghiệp THPT và THCS hoặc tương đương (tùy theo đối tượng tuyển của
từng trường). Ngoài ra, Bộ GD-ĐT khuyến khích các trường xét tuyển những thí
sinh đã dự thi tốt nghiệp THPT, bổ túc THPT nhưng chưa đủ điều kiện để được công
nhận tốt nghiệp được vào học TCCN. Tùy theo đối tượng tuyển sinh, đặc điểm, yêu
cầu của ngành đào tạo và tình hình cụ thể của từng trường, các trường có thể lựa
chọn tiêu chí xét tuyển là kết quả học tập ở phổ thông hoặc kết quả thi tuyển
sinh vào ĐH, CĐ năm 2009 của thí sinh để xét tuyển vào TCCN.
4. Các sở GD-ĐT, các trường TCCN và các trường
ĐH, CĐ có đào tạo TCCN nhất thiết phải sử dụng chương trình máy tính tuyển sinh
của Bộ GD-ĐT (bản quyền của Vụ Giáo dục chuyên nghiệp) để đảm bảo sự thống nhất
trong toàn hệ thống, không sử dụng bất cứ phần mềm nào khác. (Theo TTO) |
đăng 08:46 20-02-2009 bởi HOANG DUY
Ngày 22-1-2009, Thứ trưởng thường trực Bộ GD-ĐT Bành Tiến Long đã ký văn bản
chính thức gởi các ĐH, học viện, các trường ĐH, CĐ, các sở GD-ĐT về phương hướng
nhiệm vụ công tác tuyển sinh hệ chính quy năm 2009.
Dự kiến chỉ tiêu tuyển mới đào tạo năm 2009 về ĐH, CĐ tăng 12%,
trung cấp chuyên nghiệp tăng 17%. Những cơ sở đào tạo trong hai năm 2007-2008 đã
thực hiện tuyển sinh vượt quá 20% số chỉ tiêu xác định ban đầu đề nghị các bộ,
ngành có đánh giá và kiểm tra cụ thể việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh năm 2009
của các cơ sở đó.
Về chỉ tiêu đào tạo các trường sư phạm, Bộ GD-ĐT đề nghị Nhà nước
tiếp tục giao chỉ tiêu kế hoạch tuyển mới năm học 2009-2010 để đảm bảo đủ giáo
viên cho các cấp bậc học.
Cũng theo Bộ GD-ĐT, về cơ bản công tác tuyển sinh ÐH, CÐ năm 2009
vẫn giữ ổn định theo giải pháp ba chung (chung đề, chung đợt thi, chung kết quả
xét tuyển) như năm 2008, nhưng có một số điểm mới.
Những điểm mới đáng quan tâm
1. Điểm ưu tiên tuyển sinh ĐH, CĐ. Khung điểm ưu
tiên theo đối tượng và khu vực tuyển sinh (đối với các trường đóng tại các vùng
dân tộc thiểu số và các trường được giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho địa
phương): Đối với các trường đóng tại vùng dân tộc thiểu số, mức chênh lệch điểm
trúng tuyển giữa các nhóm đối tượng được phép lớn hơn 1 điểm, nhưng không quá
1,5 điểm, để số thí sinh trúng tuyển là người dân tộc thiểu số đạt tỉ lệ cần
thiết.
Đối với các trường được giao chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo theo địa
chỉ sử dụng và các trường có nhiệm vụ đào tạo nhân lực cho địa phương, mức chênh
lệch điểm trúng tuyển giữa các khu vực được phép lớn hơn 0,5 điểm, nhưng không
quá 1 điểm để tuyển đủ chỉ tiêu được giao.
2. Cấu trúc đề thi tuyển sinh ĐH, CĐ. Cấu trúc
đề thi tuyển sinh ÐH, CÐ theo đề thi chung của Bộ GD-ÐT. Ðề thi được ra theo
chương trình THPT hiện hành, chủ yếu là chương trình lớp 12.
Ðối với các môn: toán, vật lý, hóa học, sinh học, ngữ văn, lịch
sử, địa lý, đề thi mỗi môn gồm hai phần: phần chung cho tất cả thí sinh, ra theo
nội dung giống nhau giữa chương trình chuẩn và chương trình nâng cao; phần riêng
ra theo từng chương trình: chương trình chuẩn và chương trình nâng cao. Thí sinh
chỉ được chọn một phần riêng thích hợp để làm bài; thí sinh nào làm cả hai phần
riêng thì bài làm bị coi là phạm quy, cả hai phần riêng đều không duợc chấm. Chỉ
chấm điểm phần chung.
Ðối với các môn ngoại ngữ (tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung, Đức,
Nhật): đề thi mỗi môn chỉ có phần chung dành cho tất cả thí sinh, ra theo nội
dung giống nhau giữa chương trình chuẩn và chương trình nâng cao, không có phần
riêng.
3. Các trường xây dựng điểm trúng tuyển. Các
trường xây dựng điểm trúng tuyển chung, theo khối thi hoặc theo ngành đào tạo.
Căn cứ nguyên tắc và quy định chung, các trường xác định điểm trúng tuyển đối
với các nguyện vọng theo quy định: điểm trúng tuyển nguyện vọng sau không thấp
hơn nguyện vọng truớc, bảo đảm tỉ lệ trúng tuyển hợp lý giữa các nguyện vọng.
Không hạ điểm trúng tuyển, trừ những trường hợp đặc biệt Bộ trưởng Bộ GD-ÐT xem
xét quyết định.
4. Điều kiện dự thi. Ðã tốt nghiệp THPT, bổ túc
THPT, trung cấp chuyên nghiệp, trung học nghề và tương đương.
5. Tuyển sinh đào tạo theo địa chỉ sử dụng. Chỉ
tiêu tuyển sinh đào tạo theo địa chỉ sử dụng nằm trong tổng chỉ tiêu được phê
duyệt. Các trường công bố công khai về chỉ tiêu, ngành nghề đào tạo, địa chỉ sử
dụng trong cuốn “Những điều cần biết về tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy năm
2009’’; chỉ tuyển sinh đào tạo theo địa chỉ sử dụng bằng hình thức xét tuyển
những thí sinh đã dự thi ĐH, CĐ theo đề thi chung của Bộ GD-ÐT trong năm.
6. Các trường ĐH, CĐ ngoài công lập phải công
khai mức thu học phí. Các trường ĐH, CĐ ngoài công lập phải công bố công khai
mức thu học phí hàng tháng đối với khóa tuyển sinh năm 2009 (hoặc năm học, khóa
học) trong cuốn “Những điều cần biết về tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy năm
2009”.
7. Chủ tịch Hội đồng tuyển sinh công nhận thí
sinh trúng tuyển. Sau khi được xét tuyển chính thức, Chủ tịch Hội đồng tuyển
sinh ra quyết dịnh công nhận danh sách thí sinh trúng tuyển.
Đăng ký dự thi và đăng ký xét tuyển
Thí sinh dự thi tại trường nào thì nộp hồ sơ đăng ký dự thi
(ĐKDT) cho trường đó qua hệ thống thu nhận hồ sơ của các sở GD-ĐT. Khi hết thời
hạn nộp hồ sơ theo hệ thống của Sở GD-ĐT, thí sinh nộp hồ sơ trực tiếp cho các
trường theo đúng thời hạn quy định.
Riêng thí sinh có nguyện vọng 1 học tại các trường ĐH, CĐ không
tổ chức thi hoặc các trường CĐ thuộc các ĐH, hệ CĐ của trường ĐH thì đồng thời
nộp thêm một bản photocopy mặt trước của tờ phiếu ĐKDT số 1.
Học sinh đang học lớp 12 THPT tại trường nào thì nộp hồ sơ ĐKDT,
lệ phí ĐKDT tại trường đó. Các đối tượng khác nộp hồ sơ ĐKDT, lệ phí ĐKDT tại
các điểm do Sở GD-ĐT quy định. Các địa điểm này không thu hồ sơ ĐKDT, lệ phí
ĐKDT của học sinh đang học lớp 12.
Thời hạn thu nhận hồ sơ ĐKDT, lệ phí ĐKDT quy định thống nhất
trên phạm vi toàn quốc như sau: theo hệ thống của Sở GD-ĐT từ ngày 10-3 đến hết
ngày 10-4-2009; tại các trường tổ chức thi từ ngày 11-4 đến hết ngày 17-4-2009. Những thí sinh dự thi ĐH theo đề chung của Bộ GD-ĐT, có kết quả
thi từ điểm sàn ĐH (hoặc CĐ) trở lên, nếu không trúng tuyển đợt 1, thì nộp hồ sơ
đăng ký xét tuyển (đợt 2 hoặc đợt 3) qua đường bưu điện chuyển phát nhanh vào
ngành cùng khối thi, trong vùng tuyển quy định của một trường ĐH hoặc trường CĐ
còn chỉ tiêu xét tuyển.
Các trường nhận hồ sơ đăng ký xét tuyển và lệ phí đăng ký xét
tuyển đợt 2 của thí sinh từ ngày 25-8 đến hết giờ mở cửa giao dịch thường lệ của
bưu điện trong ngày 10-9-2009; đợt 3 từ ngày 15-9 đến hết ngày 30-9-2009.
Các trường chỉ nhận hồ sơ đăng ký xét tuyển và lệ phí đăng ký xét
tuyển qua đường bưu điện, không nhận trực tiếp, không đăng ký xét qua mạng và
chỉ nhận giấy chứng nhận kết quả thi có chữ ký và đóng dấu đỏ của trường tổ chức
thi (không nhận bản sao, bản photocopy). Thời gian nộp hồ sơ tính theo dấu bưu
điện. Các trường không được kết thúc việc nhận hồ sơ đăng ký xét tuyển của thí
sinh đã nộp theo thời hạn quy định trên.
Riêng thí sinh đã trúng tuyển ĐH, nếu có nguyện vọng học tại
trường CĐ địa phương cùng khối thi và trong vùng tuyển, phải làm đơn kèm giấy
báo trúng tuyển gửi trường CĐ có nguyện vọng học để trường xét tuyển.
Thí sinh dự thi ĐH theo đề thi chung chỉ được tham gia xét tuyển
khi có tổng điểm ba môn thi từ điểm sàn trở lên (không có môn nào bị điểm 0).
Các trường quy định mức điểm nhận hồ sơ xét tuyển không thấp hơn điểm sàn. Theo lịch thi dự kiến của Bộ GD-ĐT, kỳ thi tuyển sinh 2009
sẽ có hai đợt thi ĐH bao gồm:
- Đợt 1: Ngày 4 và 5-7-2009 thi ĐH khối A và V. Thí sinh thi khối
V, sau khi dự thi môn toán, lý, thi tiếp năng khiếu vẽ đến ngày 7-7-2009.
- Đợt 2: Ngày 9 và 10-7-2009 thi ĐH khối B, C, D và các khối năng
khiếu. Thí sinh thi khối năng khiếu, sau khi dự thi các môn văn hóa (khối H, N
thi văn theo đề thi khối C; khối M thi văn, toán theo đề thi khối D; khối T thi
sinh, toán theo đề thi khối B; khối R thi văn, sử theo đề thi khối C), thi tiếp
các môn năng khiếu đến 13-7-2009.
- Đợt 3: Đối với hệ CĐ: Các trường CĐ tổ chức thi sẽ thi trong
ngày 15 và 16-7-2009 (trừ các môn năng khiếu kéo dài đến 22-7-2009).
Nội dung đề thi bám sát chương trình THPT, chủ yếu là lớp 12,
không quá khó, quá phức tạp, không đánh đố, phù hợp với thời gian làm bài, có
khả năng phân loại thí sinh.
Thời gian làm bài môn thi tự luận là 180 phút. Các môn thi theo
phương pháp trắc nghiệm là 90 phút.
Các cụm thi quốc gia vẫn giữ ổn định như năm 2008 tại TP Vinh, TP
Quy Nhơn, TP Cần Thơ. Tuy nhiên, những thí sinh đăng ký dự thi vào các trường ĐH
khối quốc phòng và công an, hoặc các trường và các ngành năng khiếu vẫn phải đến
trường ĐH để dự thi (không dự thi ở cụm). Cụ thể là: thể dục thể thao, nghệ
thuật, mỹ thuật, nhạc, họa, sân khấu điện ảnh, kiến trúc, mỹ thuật công nghiệp,
văn hóa quần chúng và các ngành năng khiếu của các trường sư phạm.
Thí sinh có hộ khẩu thường trú tại tỉnh (thành phố) được chỉ định
dự thi tại cụm thi TP Vinh, TP Quy Nhơn, TP Cần Thơ nhưng tốt nghiệp THPT tại
các tỉnh (thành phố) khác, thí sinh tự do không bắt buộc phải dự thi tại cụm thi
được chỉ định theo hộ khẩu thường trú. (Theo TTO) |
đăng 08:42 20-02-2009 bởi HOANG DUY
Nội dung kiến thức:
|
Lĩnh
vực
|
Yếu tố/chi
tiết cần kiểm tra
|
Số
câu
|
|
Ngữ
âm
|
- Trọng
âm
- Nguyên âm và phụ
âm |
5
|
|
Ngữ pháp - Từ
vựng
|
- Danh từ/đại từ/động từ
(thời và hợp thời)/tính từ/từ nối/…
|
9
|
|
- Cấu trúc
câu
|
5
|
|
- Phương thức cấu tạo
từ
- Chọn từ/cụm từ/cụm từ cố
định… |
6
|
|
Chức năng giao
tiếp
|
- Từ/ngữ thể hiện chức năng
giao tiếp đơn giản... (yếu tố văn hóa được khuyến
khích)
|
5
|
|
Kỹ năng
đọc
|
- Ðiền từ vào chỗ trống (sử
dụng từ/ ngữ - nghĩa ngữ pháp, nghĩa từ vựng): một bài text độ dài khoảng 150
từ
|
5
|
|
- Ðọc hiểu: một bài text độ
dài khoảng 200 từ
- Từ vựng (cận/nghịch nghĩa
trên cơ sở văn cảnh). Yếu tố văn hóa được khuyến
khích... |
5
|
|
Kỹ năng
viết
|
- Xác định lỗi liên quan đến
kỹ năng viết
- Viết chuyển hóa/kết hợp
câu (Subordination/coordination... ở cấp độ phrase đến
clause)
- Dựng câu/chọn câu/cấu trúc
cận nghĩa
|
5
|
|
5
|
* Ký hiệu “/” có nghĩa là hoặc. Lời chỉ dẫn (instruction)
viết bằng tiếng Anh. |
|