pi

Pika-Rock®

 


Tương lai của Vũ trụ

Back to Homepage
Tương lai của vũ trụ
Tương lai của vũ trụ magnify

Trong phần bàn về các nội dung về BIGBANG và cả các giả thuyết khác về vũ trụ, chúng ta đã cùng lật lại lịch sử để biết thêm về quá khứ của vũ trụ. Phần này sẽ trình bày một phần khác mà hẳn bạn đọc sẽ quan tâm hơn rất nhiều bởi vì chính nó mới có nhiều quyết định đến những cái liên quan đến tatcá chúng ta. Chúng ta sẽ cùng tìm kiếm tương lai cho vũ trụ. Việc tìm kiếm tương lai cho vũ trụ thực chất không khác gì việc tìm quá khứ cả. Do những giả thuyết khác như đã nói trên không được thừa nhận nên chúng ta sẽ nói về các khả năng tương lai vũ trụ theo những gì suy ra từ lí thuyết BIGBANG.

Như ta đã biết, vũ trụ khởi đầu bằng một vụ nổ lớn cách đây khoảng 15 tỷ năm. Tuy nhiên ở đây xin lưu ý lại rằng kết quả này chưa phải chính xác tuyệt đối.
Ta lại quay lại, vũ trụ bắt đầu bằng một vụ nổ lớn và từ đó kích thước của nó cứ tăng dần và không gian chúng ta biết tới cũng tăng không ngừng. Như thế thì chẳng có gì khó khăn để đi đến một điều là có thể dựa vào mức độ dãn nở của vũ trụ ngày nay để suy ra được vũ trụ đã có được bao lâu rồi. Vậy thì sự dãn nở phụ thuộc vào cái gì? Đó chính là hằng số Hubble. Nó cho chúng ta biết chính xác về quá trình tăng tốc của sự giãn nở để đưa ra được kết luận chính xác bằng một phép tính ngược đơn giản.
Thế nhưng chúng ta chưa thể vui mững nhanh như thế được, ngày nay ta nói vũ trụ đã 15 tỷ tuổi là vì hằng số Hubble được xác định ngày này đã tương đối đủ tin cậy là 75km/sMpc. Tuổi của vũ trụ tỷ lệ với nghịch đảo của hằng số này là 15 tỷ. Vào thời của Hubble, chính Hubble đã tính ra một giá trị hằng số của mình rất lớn làm cho tuổi của vũ trụ chỉ có 2 tỷ. Tuy nhiên ngay cả hiện nay, với những quan sát và tính toán chi tiêt, hằng số này cũng không chính xác, hiện nay chưa một ai có thể khẳng định về sự chính xác của hằng số này.
Sự quan trọng của hằng số Hubble không chỉ là với quá khứ mà sẽ còn quan trọng hơn vì nó liên quan cả đến tương lai của vũ trụ nữa.
Ta hãy xét một đại lượng nữa có liên quan mật thiết đến tương lai của vũ trụ. Đó là mật độ trung bình của vũ trụ. Ta xét mối tương quan của mật độ này với một mật độ tới hạn có thể tính được.
+Nếu mật độ trung bình d < dt (mật độ tới hạn) thì vũ trụ là giãn nở mãi mãi (vũ trụ mở) với tốc độ dãn nở tiếp tục tăng.
+Nếu d = dt thì vũ trụ vẫn tiếp tục giãn nở nhưng với tốc độ giảm dần nhưng không bao giờ về không (vũ trụ phẳng)
+ Nếu d > dt thì sự giãn nở sẽ được thay dần bằng sự co lại và vũ trụ dần trở về trạng thái ban đầu (vũ trụ đóng)
Người ta đã đo được dt = 10^ -29 g/cm^3

Theo như quan sát hiện nay thì vũ trụ có vẻ như là một vũ trụ mở, tức là giãn nở mãi mãi với tốc độ tăng nhanh tuy gia tốc có thể giảm. Có điều một lần nữa chúng ta lại phải dừng lại trước khi nghĩ rằng vậy là ta đã biết tất cả về tương lai của vũ trụ, có nghĩa là của cả nhân loại nữa. Đó là vì một lần nữa kẻ gây cản trở trên con đường khám phá vũ trụ của chúng ta lại là hằng số Hubble.
Mật độ tới hạn của vũ trụ được tính theo công thức:

dt = 3H^2/8piG

Và như vậy là với một hằng số chưa xác định hoàn toàn là hằng số Hubble ở đây thì chúng ta vẫn chưa thể xác định được chính xác mật độ tới hạn của vũ trụ. Chưa kể nếu có sự xuất hiện của vật chất tối thì mật độ của vũ trụ có thể sẽ khác với những gì chúng ta đã biết.

Tuy nhiên cuối cùng, vào vài năm cuối cùng của thế kỉ 20, loài người cuối cùng cũng đã dám khằng định rằng vũ trụ của chúng ta là giãn nở vĩnh viễn. khẳng định này là cả một câu chuyện hết sức thú vị và một sự trùng hợp kì lạ. Khi đưa ra lý thuyết tương đối tổng quat với phương trình trường nổi tiếng của mình, Einstein đã tiên đoán được rằng không gian chúng ta đang sống là một không gian cong do sự tồn tại của hấp dẫn từ những vật thể mang khối lượng. Để hoàn thiện phưưong trình của mình, Einstein đã đưa vào phương trình nhiều số hạng mới theo dự đoán (một điều mà chưa một nhà bác học nào làm nổi - bằng cách dự đoán). Và cuối cùng, kết quả phương trình cho thấy vũ trụ do lý thuyết tương đối tổng quát đưa ra diễn tả một vũ trụ tĩnh định, bị ám ảnh bới điều này, Einstein đã cho thêm vào phương trình của mình một "hằng số vũ trụ học" mô tả vũ trụ không ngừng giãn nở với toocs độ giãn nở ngày càng tăng. Tuy nhiên rất nhiều năm không có một kết quả nào chứng minh tính chất này của vũ trụ (một vũ trụ giãn nở mãi mãi). Trong những năm sau đó, bản thân Einstein cũng không có cách nào lí giải cho hằng số này của mình và đã thừa nhận đó là một sai lầm lớn nhất trong sự nghiệp của ông. Nhưng thật là một sự trùng hợp kì quái, kì lạ và ... kì diệu vì khám phá quan trọng nhất cuối thế kỉ 20 đã cho thấy vũ trụ của chúng ta giãn nở vĩnh viễn với gia tốc dương (ngày càng giãn nở nhanh) và gia tốc này hoàn toàn phù hợp với số hạng do Einstein đã đưa ra. Sự sửa đổi phương trình không phải sai lầm lớn nhất của Einstein mà ngược lại đã trở thành một lí thuyết mô tả chính xác nhất về tương lai của vũ trụ chúng ta.

Albert Einstein (1879 - 1955) và phương trình trường mô tả vũ trụ

Hiện nay lí thuyết BIGBANG với những luận điểm chính đã nêu ở trên đã được gần như thừa nhận hoàn toàn với những cơ sở nhu trên đã nói. Tuy nhiên dù nó có được công nhận thế nào thì ta hãy cứ thử tìm hiểu một chút về một số giả thiết khác về sự tiến hoá vũ trụ mà ngày nay tuy không được thừa nhận nhưng cũng rất đáng chú ý.

Một số giả thuyết khác về vũ trụ

Mặc dù lí thuyết BIGBANG được xây dựng với những nề tảng rất vững chắc nhưng điều đó chưa đủ để thuyết phục được tất cả mọi người. Nhiều người không tin vào lí thuyết này, họ không thể tin vào một vũ trụ có điểm khởi đầu và rất có thể là sẽ có cả điểm kết thúc nữa. Niềm tin vào sự vô hạn theo thời gian của vũ trụ đã dẫn đến nhiều giả thuyết khác nhau về vũ trụ (chống lại BIGBANG). Ở đây chúng ta chỉ nhắc tới một vài giả thuyết đáng chú ý nhất trong số những giả thuyết này.

Giả thuyết thứ nhất chúng ta nói tới ở đây là giả thuyết về một "vũ trụ tĩnh định" do Hermann Bondy, Thomas Gold và Fred Hoyle đề ra vào năm 1948. Thực chất thuyết này có một luận đề cơ bản chính là sự mở rộng của lí thuyết "vũ trụ đồng nhất và đẳng hướng". Nguyên lí "vũ trụ đồng nhất và đẳng hướng" này cho biết vũ trụ là như nhau khi ta quan sát nó từ bất cứ điểm nào của nó và theo bất cứ hướng nào (tất nhiên đây chỉ là phát biểu ngắn gọn và dễ hiểu nhất của nguyên lí này). Ở đây, những người tjheo thuyết vũ trụ tĩnh định đã mở rộng nguyên lí nói trên ra cho cả chiều thời gian.
Có nghĩa là:
Vũ trụ là hoàn toàn như nhau đối với người quan sát tại bất cứ điểm nào, theo bất cứ hướng nào và tại bất cứ thời điểm nào.
Thuyết này thừa nhận sự giãn nở của vũ trụ. Để giải thích sự giãn nở này, lí thuyết này đưa ra một phương án khác cho rằng vật chất mới liên tục được tạo ra để bù đắp cho những giãn nở của vũ trụ, và do đó mật độ của vũ trụ không hề bị ảnh hưởng bởi sự giãn nở này. Họ cũng cho biết không thể xác định được sự nảy sinh vật chất mới này do tốc độ này rất chậm. Mỗi tỷ năm chỉ có thêm 1 nguyên tử hydro trong thể tích 1 lít. Tuy nhiên thuyết này không giải thích thuyết phục được về nguyên nhân của sự gia tăng vật chất này. Mặt khác nó cũng không cho phép giải thích sự có mặt của bức xạ nền 2,7K.

Một giả thuyết khác chống lại lí thuyết BIGBANG là thuyết về sự mệt mỏi của ánh sáng. Lí thuyết này do Edwin Hubble và Richard Tolman đề ra năm 1935 và sau đó được Pecker và Vigier khôi phục và phát triển. Lí thuyết này giải thích sự dịch chuyển về đỏ của phổ các thiên hà không phải do chúng đang rời xa nhau mà do một nguyên nhân khác. Những người này cho rằng đó là do các hạt ánh sáng (photon) bị "mệt mỏi", mất dần năng lượng khi đến với chúng ta do trên đường đi chúng liên tục tương tác với một loại hạt tên gọi là bozon. Theo như lí thuyết này cho biết, đây là loại hạt xuất hiện do sự phân rã các neutrino. Chính vì sự tương tác với loại hạt này mà photon liên tục bị mất năng lượng, các thiên hà càng xa thì photon càng va chạm nhiều trên đường đến Trái Đất và do đó phổ của chúng càng dịch mạnh về đỏ. Tuy nhiên lí thuyết này đến nay không được thừa nhận do cho đến thời điểm này chưa thể chứng minh được sự tồn tại của hạt bozon trong vũ trụ cũng như sự phân rã neutrino. Và lại một lí do tương tự như đã nói trên, đó là lí thuyết này không đưa ra được một sự giải thích nào về sự tồn tại của bức xạ nền 2,7K.

Ngoài 2 lí thuyết nêu trên ,còn rất nhiều lí thuyết khác nữa được đề ra. Có người đặt ra nghi ngờ vào chính lí thuyết tương đối rộng của Einstein, không tin vào sự tuyệt đối của vận tốc ánh sáng. Cũng có người cho rằng những quan sát đã có vẫn còn nhiều sai số, ngay cả bức xạ nền của vũ trụ cũng chưa thể cho kết luận do còn rất nhiều sự nghi vấn về sự tồn tại của vật chất tối (dark matter). Có điều tất cả những người này chỉ có thể đưa ra giả thiết của mình mà không nếu ra được một lí giải hợp lí hay một phương án nào khác cho quá khứ của vũ trụ.