Tác giả

    Ths. Nguyễn Cao Phong
    Giáo viên Khoa cơ bản
    ĐT: 0989.063.090

    Hình ảnh

    Số khách truy cập

    free hit counter

    Teaching:

    1/ Toán cao cấp A1, A2
    2/ Tin học đại cương
    3/ Toán ôn thi ĐH
    Toán học‎ > ‎

    + Giải thưởng toán

     
    1. Mục đích, ý nghĩa.
    Giáo sư Lê Văn Thiêm (1918-1991) là Chủ tịch đầu tiên của Hội toán học Việt Nam. Ông là nhà toán học nổi tiếng, đã có những đóng góp lớn trong nghiên cứu và ứng dụng toán học. Ông cũng là một trong những người đặt nền móng cho nền giáo dục đại học ở nước ta, là người thầy của nhiều thế hệ các nhà toán học Việt nam. Giáo sư Lê Văn Thiêm luôn giành sự quan tâm đặc biệt đến việc giảng dạy toán học ở các trường phổ thông. Ông là một trong những người sáng lập Hệ thống phổ thông chuyên toán và báo Toán học và tuổi trẻ. Giáo sư Lê Văn Thiêm đã được Nhà nước tặng Huân chương độc lập hạng nhất và Giải thưởng Hồ Chí Minh. Giải thưởng Lê Văn Thiêm do Hội toán học Việt nam đặt ra nhằm góp phần ghi nhận những thành tích xuất sắc của những thầy giáo và học sinh phổ thông đã khắc phục khó khăn để dạy toán và học toán giỏi, động viên học sinh đi sâu vào môn học có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển lâu dài của nền khoa học nước nhà. Giải thưởng Lê Văn Thiêm cũng là sự ghi nhận công lao của Giáo sư Lê Văn Thiêm, một nhà toán học lớn, một người thầy đã hết lòng vì sự nghiệp giáo dục.
    2. Hình thức khen thưởng.
    Người được giải thưởng sẽ được Hội Toán học Việt Nam cấp một giấy chứng nhận, một huy chương và một khoản tiền.
    Một phần tiền trong quỹ ban đầu để thành lập Giải thưởng là do Phu nhân của cố Giáo sư Lê văn Thiêm tặng, trích từ tiền thưởng Giải thưởng Hồ Chí Minh của cố Giáo sư. Ngoài ra, tiền để giành cho Giải thưởn gốc được nhờ sự ủng hộ tự nguyện của các nhà toán học và một số tập thể, cơ quan nhiệt tình với việc khuyến khích thầy và trò phổ thông dạy và học tốt môn toán.
    3. Đối tượng xét thưởng.
    Giải thưởng được trao hàng năm cho một hoặc hai thầy giáo dạy toán ở PTTH và 2-4 học sinh PTTH.
    Các thầy giáo được giải là những người có thành tích đặc biệt xuất sắc trong giảng dạy môn toán. Chú trọng những thầy giáo lâu năm trong nghề, những thầy giáo công tác ở các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa.
    Một đến hai giải giành cho học sinh được tặng cho học sinh có thành tích đặc biệt xuất sắc trong các kỳ thi toán quốc gia và quốc tế. Một đến hai giải khác được trao cho học sinh đã khắc phục nhiều khó khăn trong học tập và đạt thành tích xuất sắc trong môn toán.
     

    Giải thưởng toán học Nguyễn Đình Chung Song

    Người phụ nữ đứng sau một giải thưởng Toán học

    (Dân trí) - Đã bước sang cái tuổi thất thập, lại mang trọng bệnh trong người, nhưng bà vẫn miệt mài làm công tác khuyến học. Người phụ nữ đó là bà Lê Thị Túy Đại, người đứng sau giải thưởng toán học mang tên chồng bà, cố Giáo sư Nguyễn Đình Chung Song.
    Nối tiếp niềm tin

     

    Nhớ đến thầy Chung Song, nhiều thế hệ học trò nhớ đến khả năng viết bằng hai tay của thầy. Những hình vẽ toán học trên bảng đen được thầy vẽ bằng hai tay cùng một lúc. Chữ ký của thầy cũng đặc biệt khi có hai đường thẳng song song.

     

    Tâm huyết với công việc trồng người, thầy Chung Song từng tin rằng: Học sinh Việt Nam rất thông minh, nếu có điều kiện học tập, khả năng toán học của các em không hề thua kém học sinh các nước khác”.

     

    Giải thưởng toán học Nguyễn Đình Chung Song do vợ thầy là bà Lê Thị Túy Đại (giáo viên dạy Văn ở trường Cán bộ quản lý giáo dục TPHCM) sáng lập chính là để tiếp nối niềm tin này.
     

    Bà giáo Lê Thị Túy Đại phát biểu trong buổi lễ trao giải thưởng. Phía trên là di ảnh người chồng - cố Giáo sư Toán học Nguyễn Đình Chung Song.
     

    Khi còn sống, thầy Song muốn đào tạo nên những học sinh có kiến thức toán học vững vàng để học lên cao hơn nữa. Thầy ra đi khi đang biên soạn dở dang bộ sách tự học môn toán vì thầy biết có những em không có tiền để đi học thêm.

     

    49 ngày sau khi chồng mất, bà Túy Đại để bàn thờ ông trong phòng khách, mấy mẹ con nằm ngủ quanh bàn thờ. Bà không ngủ được, nghĩ rằng mình nên làm điều gì đó cho ông. Một năm sau, giải thưởng toán học Nguyễn Đình Chung Song ra đời.

     

    Ngày 24/9/1992, giải thưởng được trao cho học sinh giỏi toán nhất lớp 9 của quận Phú Nhuận (TPHCM). Từ năm 1993, giải thưởng được liên tục tổ chức hàng năm vào đầu tháng 11 để tuyên dương các học sinh giỏi toán nhất TPHCM.

     

    Khi thời gian không còn nhiều

     

    Trong lần trao giải thưởng lần thứ 18 vừa qua, người ta thấy bà Túy Đại không còn nhanh nhẹn như mấy năm trước. Ngồi bên ngoài cánh cửa hội trường, bà liên tục dõi theo các em. Ít ai biết bà mang trong mình nhiều căn bệnh. Bị tiểu đường 22 năm, đến đầu năm 2007, bà bị suy não, mất thăng bằng. Trước khi đi, bà phải đứng khoảng 5 phút thì mới nhấc chân lên được.

     

    Trước đó, bà bị thoái hóa đĩa đệm, xẹp ba đốt cột sống, vẹo cột sống, chèn dây thần kinh. Đối với bà, thời gian sống được đếm bằng tháng, bằng tuần chứ không phải bằng năm. Trao xong giải thưởng Nguyễn Đình Chung Song vừa rồi, bà về nhà và nằm cả tuần. Cả nhà lo lắng hết sức nhưng rồi bà cũng qua được. Bà mệt nhưng mừng vì mình còn có thể đứng lên trao giải cho các em.
     

    Bà Túy Đại với 3 học sinh giỏi Toán nhất TPHCM năm 2009.

     

    Năm nay 75 tuổi, trong người mang bệnh nhưng bà Túy Đại vẫn tìm cách liên lạc với các em được nhận giải thưởng. Với bà, đó là niềm vui và cũng là việc phải làm. Dù rằng, từ khi bị xẹp đốt sống đến nay, phần lớn công việc tổ chức trao giải do thầy Song Minh, con trai bà đảm nhận. Mỗi khi muốn viết email cho các em học sinh, bà viết ra giấy rồi thầy Song Minh gõ lại. Sức khỏe yếu nên mỗi ngày chỉ nói chuyện qua điện thoại với 1-2 em học sinh mà thôi.

     

    Những ngày này, bà chủ yếu nằm trên ghế. Nhưng bà vẫn nhớ như in những kỷ niệm từ ngày đầu giải thưởng được thành lập. Lúc đầu, nhiều người tưởng đây là học bổng nên trước ngày trao giải, các bậc bố mẹ đến xin cho con một suất vì nhà nghèo, học giỏi. Mỗi lần chuẩn bị trao giải vào tháng 11 thì bà phải bắt đầu chuẩn bị từ hồi tháng 7. Gian nan nhất là việc tìm địa chỉ để liên lạc với các em học sinh. Với những em vừa đậu đại học hoặc vừa tốt nghiệp đại học thì việc tìm địa chỉ lại càng khó khăn hơn nữa.

     

    Để có tiền cho giải thưởng, những thành viên trong gia đình dành dụm bỏ tiền vào ống heo. Bà Túy Đại luôn kiên quyết từ chối bất kỳ sự tài trợ nào mang mục đích kinh doanh. Bà thổ lộ: “Tôi không muốn mang tiếng cho giải thưởng. Như vậy là có tội với ông”. Mỗi lần trao giải thưởng là mỗi lần cuốn kỷ yếu lại dày thêm danh sách những Mạnh Thường Quân.

     

    Ở tuổi 75, bà Túy Đại vẫn còn đầy minh mẫn. Bà nhắn nhủ học sinh: “Ba mẹ cho các em trí tuệ, sức khỏe. Thầy cô có công khai tâm cho sáng. Không gì có thể thay thế vai trò người thầy. Ngoài việc truyền đạt kiến thức, thầy cô còn truyền sĩ khí, hình thành nhân sinh quan cho học trò”.  

    Từ trước năm 1975, thầy giáo Nguyễn Đình Chung Song đã nổi tiếng khắp miền Nam về phương pháp sư phạm cũng như trình độ toán học.
     
    Thưở ấy, theo như lời kể của bà Túy Đại, những chủ trường tư thục đến tận nhà thầy, có khi chờ đến 11, 12 giờ đêm chỉ để mời thầy về dạy hai giờ một tuần. Với mức thù lao 150 đồng/giờ dạy, ở vào thời điểm ấy có thể thấy sự “hâm mộ” của các trường với giờ dạy của thầy Chung Song như thế nào.
     
    Từ Huế, thầy Chung Song được mời đi dạy ở Hội An, Long Xuyên, Đà Lạt, Mỹ Tho, Sài Gòn. Ông cũng là một trong những người đầu tiên ở Sài Gòn nghiên cứu về tân toán học.
     

    Sau năm 1975, thầy về dạy ở trường Sư phạm bồi dưỡng cấp 2-3, trường CĐ Sư phạm TPHCM, Trường Cán bộ quản lý giáo dục TPHCM. Trong 44 năm dạy học, thầy Chung Song xuất bản trên 20 đầu sách về hình học, lượng giác, đại số, xác suất, tích phân...

     Hiếu Hiền


    Giải thưởng Fields - Phần 1: Về Fields Medal và Danh sách các nhà toán học đã được trao


    Các Huy chương Fields là giải thưởng trao cho hai, ba hoặc bốn toán học dưới 40 tuổi ở mỗi đại hội quốc tế của Liên hiệp quốc tế toán học (IMU) diễn ra mỗi bốn năm một lần. Nó được như là một sự tôn vinh cho các nhà toán học hàng đầu. Nó có một giải thưởng tiền tệ chẳng hạn trong năm 2006 là C$(Đôla Canada) 15.000 (tương đương US$ 15.000 hay €10000). Được thành lập nhà toán học Canada John Charles Fields, trong lần đầu tiên được trao tặng 1936, nhà toán học Phần Lan Lars Ahlfors và nhà toán học Hoa Kỳ Jesse Douglas và đã được trao tặng thường xuyên kể từ 1950. Với mục đích của nó là cho công nhận và hỗ trợ cho những nhà nghiên cứu toán học trẻ tuổi có những đóng góp lớn.

    Tấm huy chương Fields được tạo ra bởi điêu khắc gia người Canada R. Tait McKenzie
    Mặt trước của nó là hình Archimedes và câu nói bằng tiếng Latin:

    Transire suum pectus mundoque potiri

    Dịch sang tiếng Việt là "Vượt lên chính mình và nắm cả thế giới".

    Fields Medal (cái này của Grigori Perelman, người không nhận giải thưởng) chụp bởi Stefan Zachow.

    Mặt kia của nó khắc dòng chữ

    CONGREGATI EX TOTO ORBE MATHEMATICI OB SCRIPTA INSIGNIA TRIBUERE

    nghĩa tiếng Việt là "Các nhà toán học khắp nơi trên thế giới được tôn vinh vì các tác phẩm xuất chúng" trên nền là mộ của Archimedes với một hình trụ nội tiếp hình cầu có cùng đường cao và đường kính.

    Sau đây là danh sách các nhà toán học đã nhận được giải thưởng cao quý này:
    This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 497x551.

    * 2006: Terence Tao (Úc/Mỹ), Grigori Perelman (Nga), Andrei Okounkov (Nga/Mỹ), Wendelin Werner (Pháp)
    * 2002: Laurent Lafforgue (Pháp), Vladimir Voevodsky (Nga/Mỹ)
    * 1998: Richard Ewen Borcherds (Anh), William Timothy Gowers (Anh), Maxim Kontsevich (Nga), Curtis T. McMullen (Mỹ)
    * 1994: Efim Isakovich Zelmanov (Nga), Pierre-Louis Lions (Pháp), Jean Bourgain (Bỉ), Jean-Christophe Yoccoz (Pháp)
    * 1990: Vladimir Drinfeld (Liên Xô), Vaughan Frederick Randal Jones (New Zealand), Shigefumi Mori (Nhật Bản), Edward Witten (Mỹ)
    * 1986: Simon Donaldson (Anh), Gerd Faltings (Tây Đức), Michael Freedman (Mỹ)
    * 1982: Alain Connes (Pháp), William Thurston (Mỹ), Shing-Tung Yau (Trung Quốc/Mỹ)
    * 1978: Pierre Deligne (Bỉ), Charles Fefferman (Mỹ), Grigory Margulis (Liên Xô), Daniel Quillen (Mỹ)
    * 1974: Enrico Bombieri (Ý), David Mumford (Mỹ)
    * 1970: Alan Baker (Anh), Heisuke Hironaka (Nhật), Sergei Petrovich Novikov (Liên Xô), John Griggs Thompson (Anh)
    * 1966: Michael Atiyah (Anh), Paul Joseph Cohen (Mỹ), Alexander Grothendieck (Pháp), Stephen Smale (Mỹ)
    * 1962: Lars Hörmander (Thụy Điển), John Milnor (Mỹ)
    * 1958: Klaus Roth (Anh), Rene Thom (Pháp)
    * 1954: Kunihiko Kodaira (Nhật Bản), Jean-Pierre Serre (Pháp)
    * 1950: Laurent Schwartz (Pháp), Atle Selberg (Na Uy)
    * 1936: Lars Ahlfors (Phần Lan), Jesse Douglas (Mỹ)

    Sự kiện đặc biệt

    Năm 1954, Jean-Pierre Serre trở thành người trẻ nhất từng đạt Huy chương Fields, ở tuổi 28. Đến nay, ông vẫn giữ kỉ lục này.

    Năm 1966, Alexander Grothendieck tự tẩy chay lễ trao giải Fields của mình, tổ chức tại Moscow, để phản đối các hoạt động của quân đội Xô-viếtĐông Âu.[5]

    Năm 1970, Sergei Petrovich Novikov, vì sự quản thúc của chính phủ Liên Xô, đã không thể tới Nice để nhận huy chương.

    Năm 1978, Gregori Margulis do bị chính phủ Xô Viết hạn chế di chuyển nên đã không thể tới tham gia đại hội tại Helsinki để nhận giải thưởng. Jacques Tits đã thay mặt ông nhận giải và đã có bài diễn văn:

    Tôi không thể diễn tả sự thất vọng sâu sắc của tôi cũng như mọi người tại đây vì sự vắng mặt của Margulis trong buổi lễ này. Tôi quả thật rất hy vọng tôi sẽ có cơ hội gặp nhà toán học này, người mà tôi mới chỉ biết qua các công trình nghiên cứu và đồng thời cũng là người mà tôi kính trọng và thán phục một cách sâu sắc.[1]

    Năm 1966, Grothendieck, tuy không từ chối nhưng đã không đến Moskva để nhận huy chương Fields vì bất đồng quan điểm chính trị.

    Năm 1982, đại hội được tổ chức tại Warszawa, Ba Lan nhưng cuối cùng đã phải chuyển sang năm sau vì tình hình chính trị không ổn định. Giải Fields được công bố vào kì họp thứ 9 của IMU vào đầu năm và được trao vào năm 1983 tại đại hội Warszawa.

    Năm 1998, tai đại hội ICM, Andrew Wiles được chủ tịch hội đồng giám khảo giải Fields, Yuri Manin, trao tấm thẻ bạc IMU đầu tiên để công nhận thành quả của ông trong việc chứng minh định lý Fermat cuối cùng. Việc trao thưởng này thường làm mọi người suy nghĩ đến việc vào năm 1998 Wiles đã quá tuổi nhận giải Fields, chi tiết xem thêm tại: [2]. Ông đã từng có cơ hội nhận giải vào năm 1994, nhưng một sai sót trong việc chứng minh định lý Fermat cuối cùng được tìm ra vào năm 1993 (về sau Wiles đã sửa được sai sót trong chứng minh)[3]. Don Zagier đã miêu tả tấm thẻ IMU là "giải Fields trá hình"[cần dẫn nguồn].

    Năm 2006, lần đầu tiên giải thưởng Fields bị từ chối nhận. Người từ chối là Grigori Perelman.


    Giải thưởng Fields - Phần 2: Các sự kiện đặc biệt




    Huân chương Fields là một giải thưởng được trao cho tối đa bốn nhà toán học không quá 40 tuổi tại mỗi kì Đại hội quốc tế (ICM) của Hiệp hội toán học quốc tế (IMU), được tổ chức 4 năm một lần. Giải thưởng được sáng lập bởi nhà toán học Canada John Charles Fields lần đầu được trao vào năm 1936 và từ năm 1950 được trao đều đặn. Mục đích của giải thưởng là sự công nhận và hỗ trợ cho các nhà toán học trẻ đã có những đóng góp quan trọng cho toán học.
    Huân chương Fields thường được coi là "Giải Nobel dành cho Toán học". Sự so sánh này là không thật sự chính xác, bởi vì giới hạn tuổi của giải Fields được áp dụng nghiêm ngặt. Hơn nữa, giải Fields Medals thường được trao cho các nhà toán học có nhiều công trình nghiên cứu hơn là chỉ có một nghiên cứu quan trọng.
    Sau đây là vài sự kiện đặc biệt xung quanh giải thưởng Toán học cao quý này:

    Năm 1954, Jean-Pierre Serre trở thành người trẻ nhất từng đạt Huy chương Fields, ở tuổi 28. Đến nay, ông vẫn giữ kỉ lục này.
    Năm 1966, Alexander Grothendieck tự tẩy chay lễ trao giải Fields của mình, tổ chức tại Moscow, để phản đối các hoạt động của quân đội Xô-viết ở Đông Âu.
    Năm 1970, Sergei Petrovich Novikov, vì sự quản thúc của chính phủ Liên Xô, đã không thể tới Nice để nhận huy chương.
    Năm 1978, Gregori Margulis do bị chính phủ Xô Viết hạn chế di chuyển nên đã không thể tới tham gia đại hội tại Helsinki để nhận giải thưởng. Jacques Tits đã thay mặt ông nhận giải và đã có bài diễn văn:
    Tôi không thể diễn tả sự thất vọng sâu sắc của tôi cũng như mọi người tại đây vì sự vắng mặt của Margulis trong buổi lễ này. Tôi quả thật rất hy vọng tôi sẽ có cơ hội gặp nhà toán học này, người mà tôi mới chỉ biết qua các công trình nghiên cứu và đồng thời cũng là người mà tôi kính trọng và thán phục một cách sâu sắc.
    Năm 1966, Grothendieck, tuy không từ chối nhưng đã không đến Moskva để nhận huy chương Fields vì bất đồng quan điểm chính trị.
    Năm 1982, đại hội được tổ chức tại Warszawa, Ba Lan nhưng cuối cùng đã phải chuyển sang năm sau vì tình hình chính trị không ổn định. Giải Fields được công bố vào kì họp thứ 9 của IMU vào đầu năm và được trao vào năm 1983 tại đại hội Warszawa.
    Năm 1998, tai đại hội ICM, Andrew Wiles được chủ tịch hội đồng giám khảo giải Fields, Yuri Manin, trao tấm thẻ bạc IMU đầu tiên để công nhận thành quả của ông trong việc chứng minh định lý Fermat cuối cùng. Việc trao thưởng này thường làm mọi người suy nghĩ đến việc vào năm 1998 Wiles đã quá tuổi nhận giải Fields. Ông đã từng có cơ hội nhận giải vào năm 1994, nhưng một sai sót trong việc chứng minh định lý Fermat cuối cùng được tìm ra vào năm 1993 (về sau Wiles đã sửa được sai sót trong chứng minh). Don Zagier đã miêu tả tấm thẻ IMU là "giải Fields trá hình".
    Năm 2006, lần đầu tiên giải thưởng Fields bị từ chối nhận. Người từ chối là Grigori Perelman.

     

    THÔNG BÁO CỦA HỘI ĐỒNG CHỨC DANH GIÁO SƯ NGÀNH TOÁN

     

       Trong buổi họp đầu tiên ngày 10/6, HĐCD Ngành Toán đã bầu GS. TSKH. Phạm Kỳ Anh làm Phó Chủ tịch và GS. TSKH Lê Tuấn Hoa làm Thư ký.

     Hội đồng cũng đã thống nhất quy định cách tính điểm công trình như sau:

    1. Bài đăng trong các tạp chí thuộc danh mục SCI: tối đa 02 điểm.
    2. Bài đăng trong các tạp chí thuộc danh mục SCI-E: tối đa 1,5 điểm.
    3. Bài đăng trong Acta Mathematica Vietnamica, Vietnam Journal of Mathematics hoặc các tạp chí quốc tế không thuộc hai danh mục 1, 2 trên đây:  tối đa 01 điểm.
    4. Bài đăng trong các tạp chí khoa học cấp quốc gia (kể cả TCKH của ĐHQG Hà Nội, ĐHQG TP HCM): tối đa 0,75 điểm.
    5. Bài đăng trong các tạp chí khoa học của các trường đại học: 0,5 điểm.
    6. Các trường hợp không thuộc những danh mục nêu trên, hoặc các trường hợp đặc biệt khác sẽ do người thẩm định hồ sơ đề xuất và Hội đồng quyết định
    DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG CHỨC DANH GIÁO SƯ NGÀNH TOÁN 
    Kèm theo Quyết định số 21/QĐ-HĐCDGSNN, ngày 04 tháng 6 năm 2009 của Chủ tịch Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước về việc thành lập Hội đồng Chức danh giáo sư ngành Toán

    1. GS.TSKH. Hà Huy Khoái, Uỷ viên HDCDGSNN, Chủ tịch Hội đồng.

    2. GS.TSKH. Trần Văn Nhung, Uỷ viên

    3. GS.TSKH. Đào Trọng Thi, Uỷ viên

    4. GS.TSKH. Ngô Việt Trung, Uỷ viên

    5. GS.TSKH. Phạm Kỳ Anh, Uỷ viên

    6. GS.TSKH. Phan Quốc Khánh, Uỷ viên

    7. GS.TSKH. Lê Tuấn Hoa, Uỷ viên

    8. GS.TSKH. Đỗ Đức Thái, Uỷ viên

    9. GS.TS. Nguyễn Hữu Dư. Uỷ viên

    10. GS.TS. Dương Minh Đức, Uỷ viên

    11. GS.TSKH. Nguyễn Văn Mậu, Uỷ viên


     
    GIẢI THƯỞNG TOÁN HỌC CLAY
     

    Viện Toán học Clay [Clay Mathematical Institute (CMI)] là một tổ chức tư nhân được Landon T. Clay, một thương gia người Boston và vợ là Lavinia D. Clay tài trợ và tạo lập tháng 9 năm 1998, tại thành phố Cambridge, tiểu bang Massachusetts, Hoa kỳ. Mục tiêu Viện đề ra "để khuếch trương và phổ biến các hiểu biết toán học, để hướng dẫn các nhà toán học và các khoa học gia khác về những khám phá mới trong phạm vi toán học, để khuyến khích các sinh viên có biệt tài theo đuổi ngành toán học, và để ghi nhận những thành quả và tiến bộ đặc biệt trong việc nghiên cứu toán học." Theo đuổi mục đích này, Viện Toán học Clay bảo trợ công việc nghiên cứu của nhiều khoa học gia, tổ chức những lớp Toán thâm cứu đặc biệt vào mùa hè, và trao hai giải thưởng: Giải thưởng Nghiên cứu hàng năm (Clay Research Award) và Giải Thiên niên kỷ. (Millenium Prize Problems).
    1. Giải thưởng Nghiên cứu hàng năm
    Giải thưởng Nghiên cứu hàng năm (Clay Research Award) được dành cho những công trình khám phá toán học siêu việt đã được thực hiện trong năm trước đó. Năm 1999 Viện đã trao giải cho Andrew Wiles (chứng minh định lý Fermat, đề ra cách đây hơn 358 năm). Năm 2000 giải được trao cho Laurent Lafforgue Alain Connes về Công thức Vết [Trace formula] để giải các giả thuyết trong Chương trình Langlands [Langlands program]. Stanislav Smirnov và nhà nghiên cứu vật lý Edward Witten nhận giải này trong năm 2001. Năm 2002, có hai người nhận giải: Manindra Agrawal cùng hai sinh viên học với ông, thuộc Viện Kỹ thuật Ấn độ ở Kanpur [Indian Institute of Technology-Kanpur (IIT-K)] và Oded Schramm, thuộc công ty Microsoft. Năm 2003, giải được trao cho Richard HamiltonTerrence Tao. Năm 2004, giải được trao đồng thời cho Ben Green và cho Ngô Bảo Châu cùng đồng nghiệp là Gérard Laumon. Ben Green ược giải về công cuộc nghiên cứu các nhóm số nguyên tố lập thành theo cấp số cộng (Progressions arithmétiques des nombres premiers = Arithmetic progressions of prime numbers). Gérad Laumon và Ngô bảo Châu nhận giải này với đề tài Le lemme fondamental pour les groupes unitaires(Fundamental Lemma for unitary groups = Bổ đề cơ bản cho các nhóm unita). Giải này gồm một bản đúc bằng đồng sao lại tượng nguyên thủy bằng đá hoa cương. Phần bù của nút cấu hình số Tám do nhà toán học kiêm điêu khắc gia Helaman Ferguson tạc thành cho CMI vào năm 1999. Ngoài ra, giải còn gồm hiện kim một triệu Mỹ kim.
    2. Giải Thiên niên kỷ
    Ngoài giải Nghiên cứu được trao tặng hàng năm theo đề nghị của Hội đồng duyệt giải, Viện Toán Học Clay còn đưa ra giải thưởng Các bài Toán của Thiên niên kỷ [Millennium Prize Problems]. Giải này gồm bảy triệu Mỹ kim dành cho bài giải của bảy đầu đề toán học chưa có lời giải đáp đã được đặt ra từ nhiều năm trước đây. Bảy đầu đề đã đuợc CMI lựa chọn là:
    1. Phỏng định của Poincaré
    2. Giả thuyết của Rieman: Bài toán thứ 8 chưa giải của Hilbert
    3. Phỏng định của Hodge liên quan đến đối đồng đều
    4. Bài toán của Stephen Cook, bài toán P đối NP, liên quan đến chiến lược phải chọn trước một bài toán phức tạp và đối mặt với việc tìm giải pháp với sự kiểm nghiệm một giải pháp giả định.
    5. Những phương trình của Naviers-Stokes liên quan đến cơ học chất lỏng và sự đứng đắn của những nghiệm của phương trình đó
    6. Lý thuyết của Yang và Mills liên quan đến sự liên hệ giữa cơ học lượng tử và những không gian phần thớ
    7. Phỏng định của Birch Swinnerton-Dyer liên quan đến những đường cong ellip loại 1.
    Hội đồng xét giải thưởng bao gồm nhiều nhà toán học danh tiếng, trong đó có Andrew Wiles, người đã chứng minh thành công định lý cuối cùng của Fermat, một thách đố từng làm bối rối những bộ óc vĩ đại nhất của nhân loại suốt 358 năm

    Nguồn:  Cổng thi đua khen thường việt nam