Võ Đường Nam Úc

Come Inside














Lam Sơn Sư Tổ Quách Văn Kế

 
Quách Văn Kế (1897-1976) sinh tại Tô Lịch Hà Nội. Từ nhỏ ông đã có niềm đam mê kì lạ với võ thuật, dường như cả thời trai trẻ của ông chỉ có duy nhất mỗi việc tầm sư học đạo.

Người thầy đầu tiên của ông là một trong Tam Nhật : Ba Cát. Tương truyền rằng Ba Cát vốn là vị võ cử cuối cùng của triều Nguyễn. Ông đã được thầy truyền thụ cho võ công gia truyền và võ công tuyệt kỹ của Trung Hoa , chính nhờ vậy mà ông sớm thành danh. Ở Tô Lịch ông trở thành một tay đô vật sừng sỏ ko có đối thủ.

Năm 1918 sau khi Hàn Bái về nước mở Hàn Bái Đường ,ông đến xin bái sư . Quách Văn Kế chính là một trong những học trò đầu tiên của Hàn Bái bên cạnh Vũ bá Oai.

Năm 1928 Hàn Bái đột ngột qua đời , cương vị chưởng môn để lại cho đại sư Vũ Bá Oai. Sau 10 năm theo thầy Bái học võ,  võ công của ông lúc này có thể nói là vượt trội hơn người, cái chết của thầy ảnh hường rất nhiều đến ông.

2 năm sau . Năm 1930 ông vào Sai Gòn làm kế toán viên ở đây . Chính tại mảnh đất phồn hoa nhất Đông Nam Á một thời này ông may mắn gặp được một vị chân nhân bất lộ tướng đó là thầy Bảy Mùa - 1 trong Tam Nhật.

Bảy Mùa tên thật là Nguyễn Văn Bảy , sinh năm 1897 tại Sài Gòn. Vốn là một công nhân viên chức bình thường , ông ko mở lò võ chỉ nhận dạy một vài học trò ruột , ông chủ trương " quý hồ tinh bất quý hồ đa " . Nên ông nhận đệ tử rất khắt khe , ngoài tài năng còn phải có đạo đức . Ông chỉ dạy cho những người đã qua thời gian thử thách của mình.

33 năm khổ luyện võ học , với vốn  võ học vô cùng của mình , thầy Kế là một trong số cao thủ giỏi võ nhất Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung thời bấy giờ. Ngưỡng mộ tài nghệ của ông , ký giả Trần Văn Hạnh chủ nhiệm nhật báo Dân Báo kiêm là chủ xưởng in Tín Đức thời bấy giờ , vốn là người mê thích võ thuật đã bỏ tiền ra cho ông mở võ đường. Thời đó võ đường của thầy Kế là một trong những võ đường qui mô nhất và đầu tiên ở Sài Gòn . Võ đường có hẳn một ban quản trị và một ban huấn luyện đầy đủ những tên tuổi võ sư trứ danh miền Nam  . Tiếp nối sự nghiệp chấn hưng võ đạo mà thầy Bài đề ra , ông cùng các võ sư cộng sự nghiên cứu , hệ thống hóa đòn thế mỗi người lại tạo tiền đề khai sáng ra môn Lam Sơn võ đạo.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thầy Kế lấy vốn võ học uyên thâm của mình đánh trả quân thù và lập được nhiều chiến công . Ông dạy võ cho thanh niên yêu nước ở sân vận động Hoa Lư và CLB Phan Đình Phùng với phương châm " cận chiến cấp tốc ", ông còn tham gia vào phụ trách cho ban huấn luyện võ thuật của lực lượng kháng chiến Đức Hòa ( Long An ) trong những năm sau đó . Được một thời gian ông được điều về Sài Gòn bảo vệ cơ sở cho đến ngày kí hiệp định Geneve ( 21/7/1954 ).

Năm 1949 với tư cách là Hội phó hội Bắc Việt tương tế , ông sáng lập ra Hội TDTT Lam Sơn để rồi chính thức là võ phái Lam Sơn sau này. Do kết hợp nhiều nét tinh hoa võ thuật nên Lam Sơn võ phái có cách đánh nhanh, sử dụng đòn cận chiến mạnh mẽ và đặt thực dụng lên hàng đầu cho mỗi đòn của mình. Ngoài hệ thống 20 bài quyền quy định mới của quốc gia do liên đoàn võ thuật VN quy định, Thầy Kế còn để lại một hệ thống quyền pháp và những bài võ trấn môn như : Phượng Hoàng Quyền, Phượng Hoàng song đao, Lão Mai côn, Quách gia đại đao ...

Năm 1960, tại miền Nam Việt Nam mỗi bang phái võ thuật hùng cứ một phương, nhưng bằng đức độ và võ học uyên thâm của cụ, ông đã thống nhất được các bang phái và được bầu làm chủ tịch Tổng cục Quyền thuật VN, cũng từ đây các tổ chức võ đài diễn ra thường xuyên, và là giải đấu tự do lớn nhất cả nước thời bấy giờ.

Sau khi ông qua đời (1976) , quyền chưởng môn được truyền cho người con trai út là lão võ sư Quách Phước, ông Phước còn là một họa sĩ và một nhiếp ảnh gia tên tuổi trong làng nghệ sĩ Sài Gòn.

Ngoài Võ Sư Chưởng Môn Quách Văn Phước, Cụ Quách Văn Kế còn đào tạo một số Võ Sư tên tuổi khác đang kế thừa và phát triển Võ phái Lam Sơn trong và ngoài nước như: Nghiêm An Thạch - Võ sư tại Pháp, Nguyễn Văn Nhu - Võ sư tại huyện Long Thành, kiêm chủ tịch hội Võ cổ truyền Tỉnh Đồng Nai và nữ Võ sư Huỳnh Ngọc Sương tại Bình Dương ̣(đã mất năm 2000).

VTN