Lê Lợi sinh ngày 10-9-1385 (nhằm ngày 6-8 năm ất Sửu) tại Lam Sơn (Kẻ Cham), nay thuộc
huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, trong một gia đình "đời đời làm quân trưởng một
phương". Ông là con út của Lê Khoáng và Trịnh Thị Ngọc Hương (anh lớn của
ông tên Học, anh thứ là Trư). Ông nối nghiệp cha làm chúa trại Lam Sơn. Khi
quân Minh chiếm đất nước, ông nuôi chí lớn đánh đuổi xâm lăng. Quân nhà Minh
nghe tiếng ông, dụ cho làm quan, ông không chịu khuất. Ông nói: "Làm trai
nên giúp nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời, chớ sao lại chịu bo bo
làm đầy tớ người?". Năm Lê Lợi 21 tuổi cũng là năm nhà Minh đem 80 vạn
quân sang xâm lược nước Việt. Cuộc kháng chiến chống Minh của vương triều Hồ
thất bại, nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh. Trước cảnh
đất nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh
đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.
Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với 18 người
bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quê hương. Đó
là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách.
Tin Lê Lợi dựng cờ nghĩa, chiêu mộ hiền tài bay xa, thu hút các anh hùng hào
kiệt từ bốn phương kéo về. Đất Lam Sơn trở thành nơi tụ nghĩa. ở đó có đủ các
tầng lớp xã hội và thành phần dân tộc khác nhau, với những đại biểu ưu tú như:
Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Chích, Nguyễn Xí, Lê Lai, Cầm Quý, Xa Khả
Tham... Sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi xưng là Bình
Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh giặc cứu
nước. Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa ấy.
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ mở đầu tới kết thúc thắng lợi (tháng 12-1427), qua
các giai đoạn phát triển và chiến lược, chiến thuật của nó đã chứng minh Lê Lợi
là người có tầm vóc của một thiên tài, một nhân cách vĩ đại, chỉ thấy ở những
lãnh tụ mở đường, khai sáng. Nếu Ngô Quyền với chiến thắng trên sông Bạch Đằng
năm 938 đã chấm dứt thời kỳ 1.000 năm mất nước, mở đầu thời kỳ độc lập mới của
dân tộc thì Lê Lợi với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, kết thúc 20 năm
thống trị của giặc Minh, khôi phục nền độc lập lâu dài cho Tổ quốc, bắt đầu một
kỷ nguyên xây dựng mới. Không có Lê Lợi, không có phong trào khởi nghĩa Lam
Sơn. Nhưng Lê Lợi không chỉ là người nhen nhóm, tạo lập ra tổ chức khởi nghĩa
Lam Sơn mà ông còn là nhà chỉ đạo chiến lược kiệt xuất. Một nét đặc sắc, mới mẻ
trong đường lối chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Minh mà Lê Lợi thực hiện là dựa
vào nhân dân để tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc. Nhìn vào lực lượng
nghĩa binh và bộ chỉ huy, tướng lĩnh của cuộc khởi nghĩa, có thể thấy rõ tính
chất nhân dân rộng rãi của nó, một đặc điểm nổi bật không có ở các cuộc khởi
nghĩa khác chống Minh trước đó. Dựa vào sức mạnh của nhân dân, đoàn kết, tập
hợp mọi lực lượng xã hội trong một tổ chức chiến đấu, rồi từ cuộc khởi nghĩa ở
một địa phương, lấy núi rừng làm căn cứ địa, phát triển sâu rộng thành cuộc
chiến tranh giải phóng dân tộc trên quy mô toàn quốc. Đây là một cống hiến sáng
tạo to lớn về đường lối chiến tranh của Lê Lợi và bộ tham mưu của ông, để lại
một kinh nghiệm lịch sử quý giá.
Vừa là nhà tổ chức và chỉ đạo chiến lược về chính trị, quân sự, vừa là vị tướng
cầm quân mưu trí, quả quyết, Lê Lợi đã vận dụng lối đánh "vây thành diệt
viện" theo lý thuyết quân sự ông nghiền ngẫm: Đánh thành là hạ sách. Ta
đánh thành kiên cố hàng năm, hàng tháng không lấy được, quân ta sức mỏi, khí
nhụt, nếu viện binh giặc lại đến thì ta đằng trước, đằng sau đều bị giặc đánh,
đó là đường nguy. Chi bằng nuôi sức khỏe, chứa khí hăng để đợi quân cứu viện
tới. Khi viện binh bị phá thì thành tất phải hàng". Chiến thuật "Vây
thành diệt viện" của Lê Lợi kết hợp với chủ trương "mưu phạt nhị tâm
công", uy hiếp, phân hóa, chiêu dụ địch của Nguyễn Trãi tạo nên một phương
thức độc đáo trong nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Cuộc vây hãm Vương Thông ở Đông Quan và tiêu diệt viện binh giặc tại Chi Lăng,
Xương Giang cuối năm 1427 là kết quả thắng lợi của tư tưởng quân sự của Lê Lợi
- Nguyễn Trãi. Sau khi đuổi hết giặc Minh về nước, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế năm
1428, sáng lập ra vương triều Lê. Lê Lợi làm vua được 5 năm thì mất vào ngày 22-08 âm lịch năm Quí Sửu (1433), an táng tại Vĩnh Lăng, Lam Sơn, miếu hiệu là Thái
Tổ.
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước buổi đầu của vương triều Lê, Lê Lợi đã có
những cố gắng không nhỏ về nội trị, ngoại giao, nhằm phục hồi, củng cố, phát
triển đất nước trên mọi mặt, như tổ chức lại bộ máy chính quyền từ trung ương
xuống địa phương; ban hành một số chính sách kèm theo những biện pháp có hiệu
quả để khôi phục sản xuất nông nghiệp, ổn định đời sống xã hội. Lê Lợi cũng chú
ý tới việc phát triển văn hóa, giáo dục, đào tạo nhân tài. Năm 1428, lên ngôi
vua, năm sau (niên hiệu Thuận Thiên thứ 2, 1429), Lê Lợi đã cho mở khoa thi
Minh Kinh. Năm 1431, thi khoa Hoành từ. Năm 1433, Lê Lợi đích thân ra thi văn
sách. Đấy là chưa kể năm 1426 trong khi đang vây đánh Đông Quan, Lê Lợi đã mở
một khoa thi đặc cách lấy đỗ 32 người, trong đó có Đào Công Soạn, một nhà ngoại
giao xuất sắc thời Lê Lợi. Nhưng, nhiệm vụ chính trị lớn nhất phải quan tâm
giải quyết hàng đầu sau khi đất nước được giải phóng là việc tăng cường củng
cố, giữ vững nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc. Về phương diện này, Lê Lợi đã
làm được hai việc có ý nghĩa lịch sử. Thứ nhất, ông đã thành công trong cuộc
đấu tranh ngoại giao, thiết lập quan hệ bình thường giữa triều Lê và triều
Minh. Thứ hai, Lê Lợi đã kiên quyết đập tan những âm mưu và hành động bạo loạn
muốn cát cứ của một số ngụy quân trước, điển hình là vụ Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ,
Lai Châu. Trong bài thơ làm khắc vào vách đá núi Pú Huổi Chò (bên sông Đà,
thuộc Lai Châu) năm 1431 khi đánh Đèo Cát Hãn, Lê Lợi đã nói rõ ý chí bảo vệ sự
thống nhất giang sơn:
Đất hiểm trở từ nay không còn,
Núi sông đã vào chung một bản đồ.
Đề thơ khắc vào núi đá
Trấn giữ miền Tây của nước Việt ta.
Sau bài thơ trên, Lê Lợi còn viết bài thơ thứ hai khắc vào vách núi Hào Tráng
bên Chợ Bờ, Hòa Bình.
Lê Lợi trong 5 năm làm vua, bên cạnh những công lao to lớn, có phạm một số sai
lầm mà sử sách đương thời cũng thẳng thắn phê phán. Đại Việt sử ký toàn thư
viết: "Vua hăng hái dấy nghĩa binh đánh dẹp giặc Minh, 20 năm mà thiên hạ
đại định. Đến khi lên ngôi, định luật lệ, chế lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ,
lập quan chức, lập phủ huyện, thu góp sách vở, mở trường học, có thể gọi là có
mưu lớn, sáng nghiệp. Song, đa nghi, hay giết, đó là chỗ kém".
Nguồn: Internet.