Phân tích cơ bản - FA


 

LESSION 1: Mối tương quan giữa hàng hóa và các loại tiền tệ hàng hóa 

Tiền tệ hàng hóa là gì?

Tiền tệ hàng hóa là tiền tệ của một quốc gia xuất khẩu rất nhiều các nguyên liệu thô (các kim loại, dầu, nông sản…). Có khoảng 12 quốc gia phù hợp với mô tả này, nhưng các loại tiền tệ hàng hóa được giao dịch nhiều nhất đó là NZD, AUD và CAD. Vì các loại tiền tệ này được gọi là dollar, nên cũng được biết đến như những đồng dollar hàng hóa hay “Comdolls”.


Như vậy, chúng ta có 3 loại tiền tệ hàng hóa được giao dịch tích cực với tính thanh khoản và tính biến động khá cao.

Hàng hóa ảnh hưởng đến các loại tiền tệ hàng hóa như thế nào?

Đối với một quốc gia, nguyên liệu thô chiếm một tỷ lệ xuất khẩu khá cao, giá cả hàng hóa tăng lên có thể làm tăng giá trị đồng tiền của quốc gia đó và ngược lại.

Chúng ta hãy xem xét các loại tiền tệ hàng hóa và sự biến động của chúng tương quan như thế nào với hàng hóa…


CAD và dầu

Dầu chính là máu của thế giới công nghiệp và là một mặt hàng được chú ý và được giao dịch nhiều nhất. Dầu còn có tên khác là “Black Gold” – “Vàng Đen” và người ta còn gọi nó bằng một cái tên khác là “Black Crack”.

Những quốc gia sản xuất và nắm giữ một nguồn dự trữ dầu khổng lồ có thể kiếm lợi khi giá dầu tăng lên, trong đó có Canada. Chúng ta thường gọi những quốc gia này là Black Crack Mafia.

Canada là một trong những quốc gia sản xuất dầu lớn nhất và dự trữ dầu lớn thứ hai trên thế giới chỉ sau Saudi Arabia. Canada cũng là nước cung cấp dầu nhiều nhất cho Mỹ, quốc gia tiêu thụ dầu lớn nhất trên thế giới. Vì dầu chiếm phần lớn trong nền kinh tế Mỹ nên giá dầu tăng có thể tác động tiêu cực đến nguồn vốn của Mỹ cũng như đồng USD.

Dầu tăng giá tác động tích cực đối với CAD nhưng lại bất lợi cho đồng USD, ngược lại, nếu dầu giảm giá thì bất lợi cho CAD và tốt cho đồng USD. Hãy xem xét biểu đồ tương quan giữa dầu và cặp tiền USD/CAD sau:


Từ biểu đồ, biến động giá của cặp tiền USD/CAD và dầu có liên quan mật thiết với nhau – nghĩa là khi dầu theo xu hướng tăng giá thì cặp tiền USD/CAD lại theo xu hướng giảm giá và ngược lại.
Từ 01/1988, cặp USD/CAD và dầu tương quan nhau 68%. Đây là mối tương quan khá mạnh. Là một nhà đầu tư tiền tệ, biết được điều này có thể bổ sung thêm một công cụ khác vào hộp công cụ của bạn khi phân tích cặp tiền USD/CAD và giúp bạn đưa ra các quyết định giao dịch dài hạn hơn.



AUD và vàng

Vàng là một kim loại được nhiều người ưa chuộng và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong giới tài chính, vàng được xem là một công cụ an toàn chống lại lạm phát, là một trong những loại hàng hóa được giao dịch nhiều nhất.

Australia là một trong những quốc gia sản xuất vàng lớn nhất thế giới, nó chiếm hơn 50% các loại hàng hóa xuất khẩu. Các loại hàng hóa này chiếm một tỷ lệ lớn GDP của Australia, vì thế, rất nhiều nhà đầu tư theo dõi sự tăng và giảm giá của các loại hàng hóa này, đặc biệt là vàng, vì những biến động này có thể ảnh hưởng đến xu hướng của đồng AUD. Chúng ra hãy xem biểu đồ so sánh vàng và AUD.


Đây là biều đồ có khung thời gian tháng so sánh biến động giá vàng và cặp AUD/USD từ tháng 01/1980. Có thể thấy, hai biến động này gần như giống nhau, và từ tháng 01/1980 đến 02/2002, có thể xem vàng là tín hiệu dự báo đối với cặp tiền AUD/USD.

Các “dấu sao đỏ” thể hiện điểm đảo chiều của vàng. Những điểm này dường như xuất hiện trước điểm đảo chiều của cặp AUD/USD. Mối tương quan này thay đổi trong năm 2002 vì biến động của vàng và cặp AUD/USD là hoàn toàn giống nhau cho đến khi vàng đột ngột tăng giá từ năm 2005 đến năm 2006.

Cũng giống như dầu và cặp USD/CAD, nhà đầu tư có thể theo dõi biến động giữa giá vàng và cặp AUD/USD để đưa ra những quyết định giao dịch phù hợp. Đối với những người không thể giao dịch vàng trực tiếp thì mối tương quan mạnh giữa vàng và cặp AUD/USD đưa ra một giải pháp tuyệt vời. Bạn có thể giao dịch AUD/USD trong thị trường ngoại hối giống như giao dịch vàng, mặt hàng được giao dịch trong thị trường hợp đồng giao sau.


NZD

Là hàng xóm của Australia, nền kinh tế New Zealand cũng xuất khẩu rất nhiều loại hàng hóa. Vì vậy, sức khỏe của đồng NZD phụ thuộc vào các mặt hàng xuất khẩu này.


Biểu đồ cho thấy mối tương quan giữa giá cả hàng hóa và đồng NZD trong vòng 25 năm qua.
Kể từ 01/1990, mối tương quan giữa cặp tiền NZD/USD và chỉ số Commodity Research Bureau Index (CRB Index) là khoảng 61% (CRB Index một trong các tiêu chuẩn đánh giá giá cả hàng hóa của thế giới). Vì thế, khi giá cả tăng và giảm, nhà đầu tư có thể tìm kiếm các biến động tương tự đối với cặp NZD/USD vì nền kinh tế New Zealand phụ thuộc vào xuất khẩu hàng hóa.
Giống như vàng và dầu, nhà đầu tư có thể thể hiện quan điểm và những ý tưởng của mình bằng các giao dịch cặp NZD/USD.
Như vậy, chúng ta đã biết được mối tương quan giữa hàng hóa và các loại tiền tệ hàng hóa. Nhưng chúng ta cần phải nhớ một số điều trước khi áp dụng những ý tưởng ở đây.
Biến động ngắn hạn trong các loại hàng hóa thường không tác động trực tiếp đến tiền tệ hàng hóa ngay lập tức. Việc phân tích hàng hóa kết hợp với các loại tiền tệ hàng hóa chỉ phù hợp với những tầm nhìn dài hạn, giao dịch và đầu tư dài hạn.
Phải nhớ rằng, mặc dù chúng ta thấy được mối tương quan mạnh giữa hàng hóa và các loại tiền tệ hàng hóa đi chăng nữa thì xuất khẩu cũng chỉ chiếm một phần trong nền kinh tế ấy. Vì vậy, chúng ta phải phân tích tổng thể nền kinh tế của một quốc gia, lãi suấtt cũng như tình hình chính trị của quốc gia đó.

Kết hợp tất cả những yếu tố này và thêm các biến động về hàng hóa, chúng ta có thể thấy được một bức tranh rõ ràng hơn và có thể có những ý tưởng giao dịch tốt hơn đối với các loại tiền tệ này.

 

LESSION 2:

                                  Niềm tin tiêu dùng 

Niềm tin tiêu dùng là Bảng khảo sát thái độ của người tiêu dùng về cả điều kiện hiện tại cũng như sự kỳ vọng về các điều kiện kinh tế, được chỉ đạo bời Ủy ban hội nghị. Năm ngàn người tiêu dùng khắp đất nước sẽ được điều tra mỗi tháng. Mức độ niềm tin của người tiêu dùng liên quan trực tiếp tới mức độ chi tiêu của họ.

 

Niềm tin tiêu dùng và ý kiến của người tiêu dùng chỉ là hai cách để nói về thái độ của người tiêu dùng. Trong số các bản báo cáo kinh tế, Ý kiến người tiêu thì được khảo sát bởi ĐH Michigan trong khi Niềm tin tiêu dùng thì được khảo sát bởi Ủy ban hội nghị.

Sự chi tiêu của người tiêu dùng chiếm 2/3 nền kinh tế, vì vậy thị trường luôn khát khao muốn biết người tiêu dùng đang quan tâm vào cái gì và họ sẽ ăn, ở như thế nào trong tương lai gần.
Sự tin tưởng của người tiêu dùng vào nền kinh tế và khả năng tài chính của mình càng nhiều thì nhiều khả năng họ sẽ chi tiêu nhiều hơn.

Với ý nghĩ như vậy, thật dễ dàng để thấy chỉ số về thái độ của người tiêu dùng ảnh hưởng trực tiếp như thế nào vào xu thế của nền kinh tế. Hãy nhớ rằng sự thay đổi của Niềm tin tiêu dùng và doanh số bán lẻ không di chuyển nối tiếp nhau qua từng tháng.

 

                    Chỉ số giá tiêu dùng CPI

Chỉ số giá tiêu dùng CPI là gì? Nó đo lường cái gì? CPI là một công cụ đo lường sự thay đổi giá do người dùng chi trả theo thời gian cho các hàng hóa trong rổ hàng hóa và dịch vụ.

 

Rổ hàng hóa và dịch vụ bao gồm những gì?

Hàng hóa và dịch vụ bao gồm: thực phẩm, quần áo, chỗ ở, báo chí và các loại đĩa CD. Các mòn hàng mà người tiêu dùng thường chi tiêu nhiều như : thực phẩm, thì chiếm tỉ trọng lớn, quan trọng, trong việc tính toán chỉ số hơn là cách sản phẩm khác như: kem đánh răng, vé xem phim là những sản phẩm mà người tiêu dùng ít chi tiêu hơn.

Các khoản đầu tư thì sao ?

CPI không bao gồm các đồi tượng đầu tư như: cổ phiếu, trái phiếu, bầt động sản, bào hiểm nhân thọ. Những đối tượng này liên quan đến tiết kiệm chứ không phải là sự chi tiêu hằng ngày.
Tại sao nó quan trọng để đo lường nền kinh tế?
CPI đo lường sức mua của người tiêu dùng xài đồng đô.

Mối liên hệ giữa CPI và lạm phát là gì?

CPI đo lường lạm phát được trải qua bởi người tiêu dùng trong việc chi tiêu hằng ngày của họ.
Sự gia tăng trong chỉ số CPI sẽ được nhiều người nghĩ rằng như là “tỉ lệ lạm phát”. Nó được sự dụng bởi các thương nhân bán lẻ để dự đoán giá trong tương lai, bời các ông chủ để tính tiền lương và bởi chính phủ để xác định mức tăng cho quỹ bảo trợ xã hội.

CPI được thu thập và xem xét như thế nào?

Mỗi tháng, các nhà thu thập dữ liệu từ cục thống kê của bộ Lao động ra lệnh cho các trợ lý kinh tế ghế thăm hoặc kêu gọi hàng ngàn cửa hàng bán lẻ, cơ sở dịch vụ, các tổ chức cho thuê, phòng mạch,và toàn bộ Hoa Kỳ để thu thập thông tin giá cả của hàng ngàn đối tượng được sử dụng để theo dõi và đo lường sự thay đổi trong chỉ số CPI. Các trợ lý sẽ lưu lại giá của khoảng 80.000 đối tượng mỗi tháng. Tám mươi ngàn đối tượng giá này diễn tả các mẫu được chọn có tính khoa học được mua bởi người tiêu dùng cho hàng hóa và dịch vụ được mua.

Trong suốt mỗi cuộc gọi hay chuyến ghé thăm, các trợ lý kinh tế thu thập giá của một hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định, cái mà đã được xác định chính xác từ lần trước. Nếu đối tượng được chọn sẵn sàng, thì giá sẽ được lưu lại. Nếu đối tượng được chọn không sẵn sàng hoặc có sự thay đổi về số lượng hoặc chất lượnag (ví dụ như: trứng được bán trong một gói 8 trứng khi lần trước đã được bán là 12) của hàng hóa hoặc dịch vụ kể từ lần thu thập lần trước, các nhà trợ lý kinh tế chọn một đối tượng mới hoặc ghi lại sự thay đổi của đối tượng hiện tại.

Các số liệu thu thập được sẽ được gởi tới văn phòng quốc gia của Cục thống kê bộ Lao động, các chuyên gia thương phẩm sẽ xem xét chi tiết các thông tin về giá của hàng hóa và dịch vụ

Các nhà phân tích sẽ kiểm tra tính chính xác và nhất quán của dữ liệu, và tạo ra những sự điều chỉnh cần thiết.

CPI ảnh hưởng như thế nào đối với đồng tiền của quốc gia?

Dầu hiệu của lạm phát có nghĩa là NHTW sẽ phải tăng lãi suất. Đa số dùng công cụ đo lạm phát là chỉ số CPI. Nếu CPI tăng, thì nó sẽ cho các NHTW như Fed các dự liệu hỗ cho việc tăng lãi suất. Lãi suất tăng thì đồng tiền của quốc gia tăng.

 

 

 

                                                  Chỉ số giá sản xuất - PPI

PPI là gì? Nó đo lường cái gì? Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo lường mức độ lạm phát trải qua bởi các nhà sản xuất. Số liệu này mô tả mức độ thay đổi giá cả trung bình trong rổ hàng hóa cố định được mua bởi nhà sản xuất. Một cách tổng thể, lạm phát cao dẫn đến lãi suất cao, điều này sẽ có xu hướng làm mạnh đồng tiền của quốc gia.

 

Nó nghe có vẻ giống CPI, vậy đâu là sự khác biệt?

PPI là một chỉ số của giá thương phẩm. Ngược lại, CPI đo lường cả giá của thương phẩm và dịch vụ - nhà, giao thông, y tế và những dịch vụ khác chiếm 50% của CPI. CPI cũng bao gồm hàng hóa nhập khẩu trong khi PPI thì không.
Một sự khác biệt giữa PPI và CPI là PPI đo lường giá trị của đồng vốn dành cho trang thiết bị trong kinh doanh.

“Rổ hàng hóa ” bao gồm những gì?

Các hàng hóa liên qua đến tiều dùng chiếm 75% biểu đồ tròn. Hàng hóa tiêu dùng, chủ yếu là xe hơi chiếm 40%. Thực phẩm chiếm 26% gồm : thịt, cá, sản phẩm liên quan đến bơ sữa, trái cây và rau quả. Danh mục năng lượng, chủ yếu là gas và dầu nhiên liệu chiếm thêm 9%. Danh mục trang thiết bị chiếm 25% gồm: ôtô và xe tải.

Các số liệu được đặt với nhau như thế nào ?

Các nhà kinh tế Bộ Lao động so sánh giá của nhiều món hàng – khoảng 3.450. Giá thì được lấy mẫu hàng tháng.

PPI lõi là gì?

Nhiều nhà kinh tế xem xét PPI trừ đi thực phẩm và năng lượng cái mà được gọi là PPI lõi.Vậy tại sao? Bởi vì giá thực phẩm và năng lượng thay đổi rất nhanh. Giá năng lượng có thể bị ảnh hưởng bởi thời tiết chẳn hạn như nếu bão gây ảnh hưởng đến các dàn khoan dầu thì sẽ anh hưởng đến sản lượng khai thác. Điều tương tự cũng có thể xảy ra đối với thực phẩm. Đó là lý do tại sao phải loại trừ chúng để thấy được xu thế lạm phát thật của PPI.

Các “nhà chuyên nghiệp” xem xét PPI như thế nào ?

Các “nhà chuyên nghiệp” xem xét PPI một cách chung chung và xem xét nhiều phương pháp:


• So sánh tháng gần đây nhất với hai đến ba tháng trước


• Xem xét sự thay đổi trung bình của chỉ số PPI được công bố trong sáu hoặc mười hai tháng trước.


• Xác định tỉ lệ lạm phát giữa các năm.


Điểm chính ở đây là không nên để ý quá nhiều vào bản báo cáo đơn độc. Tốt hơn là hãy xác định xu thế và liệu có một xu thế mới sắp xuất hiện không.

PPI ảnh hưởng như thế nào đối với USD?

Đồng đô có xu hướng mạnh lên khi tăng lãi suất ngắn hạn. Vì thế nếu Fed tăng lãi suất, thì USD tăng giá.


Nếu lạm phát cao, USD thường sẽ tăng vì điều này cho thấy Fed có lý do để tăng lãi suất.

 

Cán cân thương mại (Trade balance)

Trade balance ( còn được gọi là net exports, và thỉnh thoảng được viết tắt dưới dạng NX) là bảng quyết toán về chênh lệch giữa giá trị về mặt tiền tệ của nhập khẩu và xuất khâu trong một nền kinh tế qua một giai đoạn thời gian rõ ràng. Nếu xuất khẩu vượt quá nhập khẩu thì quốc gia đó có sự thặng dư thương mại thường được gọi là trade surplus, và bản báo cáo trade balance đó được coi là tốt.

Ngược lại nếu nhập khẩu vượt trội so với xuất khẩu thì quốc gia đó có sự thâm hụt thương mại thường gọi là trade deficit hoặc một cách thông tục hơn là một lỗ hổng thương mại, và báo cáo trade balance trong trường hợp ấy thường bị coi là xấu. Thỉnh thoảng, báo cáo còn được chia làm 2 phần là báo cáo về mặt dịch vụ và báo cáo về mặt hàng hóa. Đặc biệt ở Anh người ta còn dùng cụm từ vô hình và hữu hình cho 2 bản báo cáo này .

Trade balance bao gồm sự giao dịch của những loại sản phẩm như các loại mặt hàng công nghiệp, nguyên liệu thô và những sản phẩm nông nghiệp, cũng như du lịch và vận chuyển.

Các bạn ko nên nhầm lẫn trade balance với payments balance, một bản báo cáo có phạm vi rộng lớn hơn rất nhiều so với trade balance. Payments balance là bản báo cáo về dòng chảy tiền tệ quốc tế, ko chỉ bao gồm các giao dịch thương mại về mặt hàng hoá và dịch vụ mà còn cả về nguồn thu nhập từ đầu tư và các số tiền được chuyển khoản. Payments bao gồm current account ( tạm dịch là báo cáo về tổng các loại nguồn thu từ nước ngoài), financial account ( tạm dịch là báo cáo về tổng các nguồn đầu tư từ trong và ngoài nước) và capital( tạm dịch là báo cáo về sự chuyển khoản của vốn và các mặt hàng để làm vốn như các nhà máy xí nghiệp ...). Nói chung financial account và capital account thường được kết hợp với nhau.

Trade balance là một phần của news current account ( có thể hiểu là một báo cáo về tổng các loại nguồn thu của quốc gia), mà news này cũng bao gồm cả những giao dịch như thu nhập từ những hoạt động đầu tư quốc tế và trợ cấp quốc tế. Nếu current account có giá trị thặng dư, thì báo cáo về nguồn thu nhập quốc tế của nước đó cũng theo đó mà tăng lên.

Trade balance cũng tương tự như sự chênh lệch giữa đầu ra của một quốc gia và nhu cầu địa phương ( tức là sự chênh lệch giữa những mặt hàng mà quốc gia đó sản xuất và số mặt hàng mà nước đó mua từ nước ngoài về; ko bao gồm số tiền được tiêu lại vào thị trường cổ phiếu nước , và cũng ko bao gồm việc nhập khẩu các mặt hàng để sản xuất cho thị trường địa phương)



Những Báo Cáo Chủ Đạo Trong Phân Tích Cơ Bản

Ngoài những tin tức được coi là chủ đạo mình đã nói ở trên, chúng còn có thể theo dõi những chỉ số sau ( đặc biệt cần với các bạn xác định làm một news trader):


-  Chicago Purchasing Manager's index (PMI): Báo cáo này dựa vào một cuộc khảo sát gồm hơn 200 giám đốc bán hàng trong khu vực chicago và được coi là báo cáo dự báo tổng thể tình hình sản xuất trong nước.

Báo cáo giúp dự đoán kết quả của một bản báo cáo quan trọng khác là ISM index, yếu tố chính về tổng quan các hoạt động kinh doanh trong nước. Báo cáo ISM này thường ra sau báo cáo PMI một ngày làm việc. Tương tự như các báo cáo khác, chỉ số ra trên 50 biểu thị sự phát triển còn bất cứ một chỉ số nào dưới 50 đều là dấu hiệu của sự tụt giảm trong hoạt động sản xuất.
Nguồn: Tổ chức Chicago Purchasing
Báo cáo ra vào lúc 10h sáng EST vào ngày làm việc cuối cùng hàng tháng.

-  Philadelphia (Philly) Fed Manufacturing Index: Chỉ số này là một chỉ số về điều kiện sản xuất trong vùng liên bang Philadelphia. Tuy nhiên chỉ số này được rất nhiều người theo dõi vì nó đại diện cho một phần đặc biệt của toàn bộ nền sản xuất ở Mỹ. Báo cáo Philly cung cấp một cái nhìn tổng thể về nền sản xuấat, sự năng xuất và đánh giá sự phát triển. Vì sản xuất là một lĩnh vực trọng điểm nên báo cáo có tầm ảnh hưởng lớn đối với thị trường. Cùng với PMI, Philly Fed Index giúp đoán kết quả của một chỉ số khác được mong đợi hơn rất nhiều – ISM- một chỉ số chủ chốt về tổng thể các hoạt động kinh tế. Chỉ số trên 50 phản ánh sự phát triển trong lĩnh vực sản xuất trong khi chỉ số dưới 50 biểu thị sản xuất chậm phát triển và ko được đánh giá tốt cho lắm.

Tin ra từ nguồn Philadelphia Federal Reserval Bank ( Ngân Hàng dự trữ liên bang Philadelphia) vào hồi 10 sáng EST thứ 5 lần thứ 3 hàng tháng.

-  Personal Income and consumption: Báo cáo về thu nhập cá nhân (Personal Income report) còn được biết đến dưới cái tên (Personal Income & Outlays) là một thước đo mang tính vĩ mô về thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình, và nắm bắt được hiện trạng của một lĩnh vực chủ chốt trong kinh tế. Nguyên bản báo cnày vốn là một phần của báo cáo tài khoản GDP quốc gia hàng quý. Tuy nhiên hiện nay báo cáo đã được công bố hàng tháng như một phần hoàn toàn riêng biệt. Thu nhập cá nhân đại diện cho tất cả các nguồn thu nhập mà các hộ gia đình nhận được từ tả các nguồn, bao gồm, lương tuần, lương tháng, các thu nhập lao động khác ( bảo hiểm sức khoẻ, lương hưu ...) thu nhập của các chủ nông trang và những chủ doanh nghiệp bình thường., thu nhập cho thuê nhà, cổ tức, lãi xuất thu nhập cá nhân, và cu nhập nhận được từ doanh nghiệp hay chính phủ.

-  Personal Outlays, hay consumer spending ( tạm dịch là chi tiêu cá nhân) bao gồm những hoạt động mua bán tiêu thụ cá nhân (các mặt hàng lâu bền, ko bền, các dịch vụ), lãi xuất được ngân hàng trả cho doanh nghiệp, và các giao dịch trả tiền đi nứơc ngoài. Sức tiêu thụ của khách hàng nhiều hơn chỉ giúp các công ty giàu hơn, tăng lãi, và sinh lời cho thị trường chứng khoán. Chỉ số càng cao thì kinh tế càng mạnh. Tuy nhiên, tiêu thụ cá nhân có thể rất khác nhau dựa trên một mức cơ bản gồm rất nhiều yếu tố. Các hoạt động bán lẻ ( đặc biệt là những mặt hàng đắt đỏ như tự động hoá) sa thải và những chuyển biến của tỉ lệ lãi xuất ngân hàng có thể ảnh hưởng đến mức bán hàng trong một tháng cụ thể. Hãy tìm sự thay đổi trong lương tháng và lương tuần (salary and wages). Sự thay đổi lớn cỡ nào? Và liệu sự thay đề thu nhập cá nhân có phải chỉ xúât hiện chủ yếu ở các mặt hàng lâu bền, ko lâu bền hay các dịch vụ khác ko?


Tin ra từ nguồn Bộ phân tích kinh tế, BEA, Ban thương nghiệp, vào 8h30 sáng EST ngày đầu tiên hàng tháng.

-  Employment Cost Index (ECI): ECI ( tạm dịch là chỉ số chi phí nhân công) là một báo cáo hàng quý được dùng để đánh giá lợi tức các công nhân (hưởng lương tuần và lương tháng) bao gồm cả sự thay đổi về giá nhân công. Giá trị của ECI là ở chỗ nó được dùng để đánh giá chủ yếu về lạm phát. ECI bao gồm 2 yếu tố: lương tuần và lương tháng ( chiếm 75%) bao gồm thu nhập, thưởng, hoa hồng, trợ cấp chi tiêu, và chi phí mà chủ công phải trả cho quyền lợi của nhân công ( chiếm 25%), bao gồm làm việc quá giờ, lợi tức bảo hiểm, và các kế hoạch lương hưu cũng như tiết kiệm. Ý tưởng đằng sau sự phân tích chỉ số này là khi áp lực về lương tăng thì lạm phát cũng tăng bởi vì lợi tcó xu thế tăng trước khi các công ty tăng giá khách hàng.


Khi ECI thể hiện xu hướng tăng hoặc ghi dấu một sự nhảy vọt hơn hẳn mong đợi trong 1 khoảng thời gian cụ thể, điều đó thể hiện, lạm phát đang gia tăng. Thêm vào đó, khi lạm phát tăng, tổng sản lượng và tỉ lệ lãi xuất ngân hàng cũng tăng, dẫn đến trái phiếu giảm giá.


Tin ra từ nguồn bộ thống kê lao động, ban lao động lúc 8h30 sáng các tháng 1, tháng 4, tháng 7 và tháng 10.

  Durable goods orders: còn được gọi là Advance Report on Durable Goods Manufactures' Shipment &Orders ( tạm dịch là báo nâng cao về các đơn đặt hàng và các chuyến chuyển hàng của các nhà sản xuất mặt hàng bền lâu), báo cáo này cung cấp số lượng khoảng bao nhiêu chuyến vận chuyển các mặt hàng lâu bền ( tức là các mặt hàng có tuổi thọ trung bình từ 3 năm trở lên) và những đơn đặt hàng chưa thực hiện của mặt hàng này . Yếu tố này là thước đo về sản xuất và việc làm trong lĩnh vực mặt hàng lâu bền.


Một chỉ số gia tăng biểu thị nhu cầu và sức sản xuất đang tăng mạnh ( và theo đó giá tiền cũng tăng lên) trong khi một chỉ số thụt giảm thể hiện nhu cầu và sản xuất yếu kém hơn. Durable Goods Orders là 1 trong những yếu tố biểu thị sớm nhất nhu cầu của khách hàng và doanh nghiệp đối với các loại dụng cụ. Mức tiêu thủa các mặt hàng tăng giúp làm giảm đi khả năng lạm phát.


Tin từ bộ điều tra số liệu, ban thương mại vào lúc 8h30 sáng khoảng 26 hàng tháng.

-  Industrial Production and Capacity Utilization: Tỉ lệ Industrial Production and Capacity Utilization là những yếu tố chủ chốt biểu thị hiện trạng của một nền kinh tế và những khâu của vòng tròn kinh tế. Đặc biệt Industrial Production phản ánh mức đầu ra của các ngành công nghiệp như mỏ quặng, sản xuất, và các dịch vụ cộng đồng, và đóng vai trò như một yếu tố chính (lương cao) cho thị trường việc làm của các ngành sản xuất. Vì vậy, nó đóng một vai trò đặc biêệ quan trọng trong sự thay đổi về thu nhập cá nhân. Tỉ lệ Capacity Utilization đánh giá mức độ sản xuất theo số lượng sản xuất, và thường được dùng để theo sức ép lạm phát được gây ra bởi sức ép của các nguồn cung và các chi tiêu đầu tư chủ chốt trong lĩnh vực sản xuất.


Industrial Production được quyết định bởi nguồn cầu và sản xuâất là yếu tố chủ chốt một nền kinh tế. Chỉ số mở ra cánh cửa dẫn đến lĩnh vực sản xuất và có những liên hệ tới phần khách hàng qua những y yếu tố như công việc lương cao, cũng như có liên quan tới lĩnh vực dịch vụ và các hoạt động xây dựng.


Capacity Utilization rates, ngược lại, lại được sử dụng để nắm bắt xem liệu nền kinh tế còn có thể phát triển ở tỉ lệ nhanh hơn được nữa ko. Liệu mức sử dụng có thể được đẩy mạnh bằng cách kích thích để ko tăng mức sản xuất vượt qúa khả năng tối đa có thể – một khoảng đầu ra nằm trong giới hạn giưã tình trạng sản xuất hiện tại và sản xuất giàu tiềm năng mà ko gây ra lạm phát . Nếu chỉ số này trên mức 85% thì đó là một dấu hiệu xấu cảnh tình về sức ép lạm phát, điều dẫn đến tỉ lệ lãi xuất tăng cao.


Tin từ hội đồng các nhà cầm quyền nguồn dự trữ liên bang ( Federal Reserve Board of Governors) ra lúc 9h15 phút sáng ngày 15 hàng tháng.

-  International Trade in Goods & Services: (tạm dịch là báo cáo hoạt động thương mại quốc tế của lĩnh vực sản phẩm và dịch vụ): Báo cáo thưong mại quốc tế, đánh giá sự khác nhau giữa xuất nhập khẩu của sản phẩm và dịch vụ của Mỹ, bao gồm cả hàng hoá và dịch vụ. Báo cáo tượng trưng cho một phần quan trọng của bức tranh kinh tế vì nó phản ánh hiện trạng nhu cầu nội địa đối với việc nhập khẩu nước ngoài cùng với nhu cầu của nước ngoài đối với xuất khẩu của Mỹ. Vì mối quan hệ lẫn nhau giữa các quốc gia, những thay đổi trong nguồn thương mại cũng ảnh hưởng điá trị của đông đô Mỹ và các đồng tiền khác trong thị trường trao đổi ngoại tệ.


Hiệu ứng của các thông số thương mại này thường là rất phức tạp. Vì thị trường fx phản ứng với dòng chảy thương mại quốc tế, thị trường tiền và trái phiếu cũng ảnh hưởng theo. Sự gia tăng đột biến trong chỉ số nhập khẩu của Mỹ có thây ra sự thụt giảm trầm trọng của đồng đô vì nhập khẩu được trả bởi đồng đô của Mỹ dẫn đến vịêc nước ngoài nắm giữ một khối lượng lớn đồng đo và giá trị trao đổi tiền tệ của đồng đô bị sụt giảm. Điều này còn làm tăng giá trị nhhẩu và hạ giá xuất khẩu của Mỹ vì đồng đô được dùng để nhập khẩu đã đi ra nước ngoài. Cuối cùng mức nhập khẩu sụt giảm vì thu nhập thấp và giá nhập lại tăng lên. Cùng lúc đó sự tăng trưởng của nước ngoài lại gia tăng vì nước Mỹ nhập khẩu nhiều hơn và giá xuất khẩu lại rẻ hơn.


Rất gần đây thôi, sự phát triển mạnh mẽ của Mỹ và chính sách tiền tệ tương đối chặt chẽ súôt hơn 5 năm qua đã giúp tiền Mỹ rất được ưa chuộng, khiến cho các mặt hàng của Mỹ rất đắt đỏ cho nước ngoài và các mặt hàng nước ngoài lại rẻ mạt cho dân Mỹ. Hậu quả của việc này có 2 khía cạnh: thứ nhất, sức ép lạm phát giảm nhẹ vì nhập khẩu thấp đi. Điều này còn cho phép lãi xuất ngân hàng giảm đi theo lãi xuất nước ngoài, và có hệu quả kích thích sản xuất và việc làm trong nước ở các lĩnh vực mà cần đầu vào từ nước ngoài. Khía cạnh thứ 2 là giảm nhẹ đáng kể sự thâm hụt thương mại – khiến cho Mỹ phải vay tiền nước ngoài mỗi năm. Điều này có nghĩa là tăng lãi xuất để hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài và dẫn đến một nguồn thu nhập đầu tư khổng lồ từ nước ngoài, làm đẩy giá trị của đồng Mỹ lên.
Nguồn từ bộ thống kê số liệu, ban thương mại. News ra lúc 8h30 sáng ngày 19 hàng tháng.

 

Chỉ Số Giá Cả (Consumer Price Indexes)

Song song với PPI chúng ta có một chỉ số tiêu biểu về giá cả thị trường và lạm phát khác. Đó là CPI – Consumer Price Indexes. Chỉ số CPI là chỉ số về sự thay đổi trung bình của giá cả mà khách hàng phải trả trên một khoảng thời gian đối với một mặt hàng và dịch vụ nhất định. Chỉ số CPI ảnh hưởng tới hầu hết tất cả những người Mỹ vì nó được dùng trong rất nhiều trường hợp. Một vài mục đích chính là:

 


+Như một kim chỉ nam về kinh tế.

+ Như một yếu tố làm giảm lạm phát trong một loạt những chuỗi yếu tố kinh tế khác.

+Như một phương tiện để điều chỉnh giá trị của đồng dollar.



Từ xưa đến nay, lạm phát được hiểu như một quá trình leo thang vật giá liên tục ko ngừng hoặc theo một nghĩa khác tương đồng, là một quá trình mà tiền liên tục bị mất giá.

Rất nhiều chỉ số đã được định ra để đánh giá những khía cạnh khác nhau của lạm phát. Chỉ số CPI đánh giá lạm phát dựa trên mức chi tiêu thường nhật của khách hàng; chỉ số PPI ( chỉ số chúng ta vừa nói trước đó) lại đánh giá lạm phát ở giai đoạn trước đó, quá trình sản xuất và tiếp thị, chỉ số ECI ( chỉ số nhân công) thì đánh giá lạm phát theo khía cạnh của thị trường lao động, Chương trình vật giá quốc tế BLS đánh giá dưới góc nhìn của hoạt động xuất nhập khẩu, và Chỉ số GDP tổng hợp sự đánh giá sẵn có với với lạm phát của các cấp chính phủ ( địa phương, bang và liên bang), doanh nghiệp, và khách hàng. Cuối cùng là những sự đánh giá đặc biệt như đánh giá về tỉ giá cho vay của ngân hàng nhà nước hay về sự mong đợi về chiều hướng lạm phát của khác hàng và doanh nghiệp. Phương pháp đánh giá lạm phát được coi là tốt nhất phụ thuộc vào cách thức mà bạn dự định sẽ sử dụng các nguồn dữ liệu. Nói chung, CPI là thuớc đo tốt nhất để điều chỉnh chi tiêu cho khách hàng khi mà mong muốn chính của nhà nước là giúp cho khách hàng có thể mua được sản phẩm và dịch vụ với một giá cả ổn định ở mọi thời điểm. CPI cũng là thước đo tốt nhất để giúp chuyển thu nhập hàng tuần hoặc hàng giờ trở thành những đồng tiền thật, ko bị lạm phát.

Lãi Suất Ngân Hàng (Interest Rates) 

 

Nếu nói về sự quan trọng thì có lẽ ko có news nào quan trọng như news này. Chiều hướng và sự chuyển động của interest rates se quyết định toàn bộ hướng đi của đồng tiền. Nên có nhiều trader chi tập trung phân tích chiều chuyển động của chỉ số này và có thể đưa ra được những lệnh trade xuyên suốt cả một tháng.

Để hiểu về interest rate đầu tiên chúng ta phải có một cái nhìn tổng thể là thế nào là interest?

Mình xin giới thiệu sơ qua như sau:

-   Interest là một loại phí mà bạn phải trả khi vay vốn. Những loại tài sản như tiền, cổ phiếu, sản phẩm mà các khách hàng thuê, những tài sản chính như máy bay, và thậm chí cả những xí nghiệp lớn thông qua việc sắp xếp của những công ty định giá tài chính. Interest được tính toán dựa trên giá trị của tài sản ở cùng một cách như là trên tiền . Interest có thể được coi như là “ tiền thuê trong giá trị tiền”. Ví dụ, nếu bạn muốn mượn tiền từ ngân hàng, sẽ có một tỉ lệ cụ thể bạn phải tra theo mức mà bạn muốn vay .

-   Khoản phí ấy là sự đền bù cho người cho vay để có thể thực hiện những khoản đầu tư khác có lơi hơn mà người cho vay có thể thực hiện với số tiền đã cho mượn. Người mượn tiền sau đó có thể tận hưởng việc có lời nhờ sử dụng nguồn tiền ấy mà ko cần phải bỏ ra nỗ lực nào hết, trong khi đó người cho vay tận hưởng nguồn lời từ phí mà người mượn tiền trả cho cái quyền lợi ấy. số tiền được mược, hoặc giá trị của tài sản được mượn, được gọi là principal (tiền vốn). Giá trị của số tiền vốn này được người vay tiền nắm giữ bằng khái niệm credit ( tạm dịch là niềm tin hay sự uy tín, mình sẽ nói rõ về khái niệm này ngay). Vì thề mà interest là giá phải trả của credit, ko phải là của số tiền như mọi người thường hiểu lầm. Trong tiền vốn sẽ có một một phần trăm nào đó phải trả như là một loại phí (chính là interest), trong một khoảng thời gian, được gọi là interest rate. :D . Và đó chính là cái chúng ta đang nói tới.

-   Xin bàn một chút về khái niệm credit! Ở nước ngoài thường những tổ chức tài chính như ngân hàng ko tự dưng mà cho bạn vay tiền hay các hoạt động tài chính nào cả, mà họ yêu cầu bạn phải có credit tức là phải có uy tín. Nên bạn sẽ thường xuyên được nghe cụm từ building credit _ xây dựng uy tín ở nước ngoài. Bạn có thể build credit bằng cách ở nước ngoài lâu, ko vi phạm điều khoản gì với ngân hàng, có thu nhập và chứng minh kinh tế ổn định …… Nhiều khi chẳng vì lí do gì bạn cũng có thể được cho vạy :D. Chính vì thế mới có khái niệm credit card tức là card mà ngân hàng cho bạn vay tiền dựa trên tình hình uy tín của cá nhân bạn.

Interest thường thay đổi theo tình hình lạm phát và các chính của Ngân hàng dự trữ Liên Bang.

 Ở đây mình xin trình bày về tình hình interest rates của Mỹ. Vì interest rates của Mỹ có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường.

-   Ở Mỹ, interest rates được quyết đỉnh bởi Ngân hàng dự trữ liên bang ( Federal Reserve Bank thường gọi là FED) nên còn được gọi là federal funds rate ( lãi xuất quỹ liên bang). Fed funds rates là interest rate mà những quỹ tài chính ( chủ yếu là các ngân hàng) cho vay federal funds ở nguồn dự trữ liên bang tới các tổ chức tài chính khác, thường là qua đêm. Thay đổi tỉ lệ trực tiếp là một hình thức để chủ tịch hội đồng dữ trự liên bang sử dụng để điều chỉnh nguồn cung cấp tiền cho nền tài chính Mỹ.

 

 -   Các ngân hàng và các quỹ tiết kiệm phải tuân theo luật là giữ vững những mức dự trữ, dù là những nguồn dự trữ ko phải chịu lãi gì như với Fed hay là số tiền mặt để sử dụng trong các giao dịch hàng ngày. Mức dự trữ này được quyết định bằng các nguồn nợ và nguồn có của các tổ chức này, cũng như là của chính Fed, nhưng thường là tầm 10% của tổng giá trị các tài khoản tiền mặt của ngân hàng.


Ví dụ: Giả sử là một tổ chức tài chính Mỹ cụ nào đó, trong một quá trình kinh tế bình thường, cho vay một khoảng tiền. Nghĩa là phát tiền ra và làm giảm nguồn dự trữ của ngân hàng. Nếu mực dự trữ hạ xuống dưới mức thấp nhất mà nhà nước quy định, thì ngân hàng ấy phải thêm vào nguồn dự trữ để phù hợp với luật của Fed. Ngân hàng có thể vay mức quỹ cần thiết từ các ngân hàng khác mà có tài khoản thặng dự với Fed. Lãi xuất (interest rate) mà ngân hàng vay này trả cho ngân hàng cho mươn được thỏa hiệp giữa 2 bên, và mức trung bình được áp dụng xuyên suốt tất cả các giao dịch của tỉ lệ này là tỉ lệ có hiệu lực của quỹ liên bang.


-   Còn tỉ lệ trên danh nghĩa là một mục tiêu được những người cầm quyên trong Fed đề ra. Tỉ lệ này có hiệu lực dựa chủ yếu trên các hoạt động thực hiện chính sách tiền tệ. Khi giới truyền thông nhắc tới “ sự thay đổi về interest rates” của Fed, thì có nghĩa là họ đang nói về tỉ lệ này. Còn tỉ lệ thực sự được Fed đề ra thì nằm trong một khoảng của các tỉ lệ mục tiêu này, vì Fed ko thể đặt một giá chị chính xác qua các hoạt động dùng để thực hiện các chính sách tiền tệ được.

-   Một cách khác mà các ngân hàng có thể mượn tiền để giữ được mức dự trữ cần thiết với FED là vay ngay từ Fed theo chính sách cho vay khẩn cấp (gọi là discount window). Những khoản vay này được Fed theo dõi và kiểm tra, và lãi xuất mà các ngân hàng này phải trả ( gọi là discount rate) thì thường là cao hơn với lãi xuất của quỹ fed bt. Sự nhầm lẫn giữa 2 dạng vay tiền này thường dẫn đến sựu nhầm lẫn giữa 2 loại lãi xuất vay (discount rate và interest rate). Một sự khác biệt nữa trong khi Fed ko thể đặt ra một mức fund rate chính xác, thì tổ chức này lại hoàn toàn có thể đặt ra một mức discount rate cụ thể.

-   Mục tiêu cho lãi xuất quỹ của Fed được định ra bởi cuộc họp của FOMC _ Hội đồng Thị trường Mở Liên Bang . Và ở trong forex cũng có một báo cáo gọi là FOMC minutes rất được chú ý. Trong báo cáo FOMC minutes này Fed thể hiện chiều hướng và dự tính của Fed với tỉ lệ lãi xuất, và gần như là một sự khẳng định về tỉ lệ lãi xuất. Báo cáo này thường được ra 2 tuần trước khi news về interest rates ra. Tùy vào điều kiện kinh tế của Mỹ và nhật kí công tác của các thành viên FOMC, mà những thành viên này sẽ tăng, giảm, hoặc giữ nguyên tỉ lệ này. Có thể luận ra những suy đoán của thị trường với các quyết định của FOMC ở những buổi hội nghị trong tương lại Ban Thương Nghiệp Chicago (CBOT), và những dự đoán về các khả năng này thường được giới thông tin tài chính cập nhật một cách rộng rãi.


-   Vay tiền trong hệ thống ngân hàng với nhau là một cách rất cần thiết để cho các ngân hàng có thể nhanh chóng tăng nguồn vốn.

VD: một ngân hàng có thể muốn bỏ vốn cho một dự án công nghiệp lơn nhưng ko có thời gian để các nguồn tiền gửi (deposit) hay lãi xuất ( từ các khoản vay) đến. Trong những trường hợp như vây ngân hàng sẽ nhanh chóng tăng số tiền này từ những ngân hàng khác (bằng cách cho vay tiền) ở mức lãi xuất bằng hoặc cao hơn với mức lãi xuất của quỹ fed.

-   Tăng lãi xuất của quỹ Fed sẽ giúp các ngân hàng tránh khỏi việc vay những nguồn vay liên ngân hàng như thế. Việc này theo đó cũng khiến cho việc thu gom tiền mặt trở nên khó khăn rất nhiều. Ngược lại, hạ lãi xuất ngân hàng đóng vai trò như một công cụ để giúp điều chính nền kinh tế Mỹ theo hướng tự do, và cứ theo cái vòng ấy nền kinh tế thế giới cũng hoạt động như vậy – vì luôn có một mối liên quan mật thiết giữa nền kinh tế thế giới và nền kinh tế của Mỹ.

-   Bằng cách đặt mức discount rate ( chú ý ở trên) Ngân hàng dự trữ Liên Bang ko khuyến khích các ngân hàng trưng thu tiền từ Ngân hàng Liên Bang, nhưng chính những lệnh vay tiền này vẫn là nguồn giải pháp cuối cùng của các ngân hàng.

 Bảng lương phi nông nghiệp - Non-farm payrolls

Đây là một trong những bản báo cáo được mong đợi nhất của Mỹ, Non-farm payrolls là một bản báo cáo kịp thời về bức tranh của thị trường việc làm ở Mỹ : gia tăng, tụt giảm, số giờ làm việc, số lương thưởng ... Những tư liệu trong bản báo cáo được thu thập từ 2 cuộc khảo sát là Household Surveys và Establishment ( payroll) Survey ( Báo cáo theo hộ gia đình và báo cáo theo bảng lương).

Trong đó Establishment Survey được ưa chuộng hơn vì bản báo cáo này đánh giá tình trạng của các doanh nghiệp chứ ko chỉ gói gọn trong các hộ gia đình. Bản báo cáo có những chỉ số đầy ý nghĩa như : Change in nonfarm payrolls, Unemployment, Manufacturing Payrolls, và Average Hourly Earnings.

Trong quá trình khai thác cũng như phân tích về bản báo cáo mình sẽ có cơ hội để mở ra trước mắt các bạn nhiều hơn nữa những news và yếu tố liên quan đến tình trạng lao động.

Nonfarm Payrolls ( NFP)

Nonfarm payrolls (NFP) là một báo cáo về tình hình kinh tế của Mỹ được thông báo hàng tháng.

Tên của bản báo cáo được biên soạn để sử dụng cho những công ty về sản xuất, xây dựng, và các công ty chế tạo sản phẩm. Ban Thống Kê Lao động của bộ Lao động cho ra những tài liệu sơ bộ của cuộc khảo sát dành cho tháng trước đó. Tin ra vào thời điểm 8h30 ET thức đầu tiên của hàng tháng, hoặc theo Ban này bản báo cáo sẽ được đưa ra vào thứ 6 thứ 3 trong tháng sau khi có kết luận về tài liệu của tuần

Ví dụ: Tuần có ngày thứ 12 của tháng, thường có ảnh hưởng lớn đến đồng tiền Mỹ, thị trường chứng khoán, và thị trường khế ước, cho dù chỉ số của NFP ngày hôm đó chỉ có một chút ít khác biệt so với sự mong đợi về NFP.

Chỉ số được công bố là chỉ số về sự thay đổi trong NFP so với tháng trước đó và thường có sự thay đổi từ 10000 cho đến 250000 suốt những giai đoạn khủng hoảng kinh tế. Các con số về NFP được sử dụng để đại diện cho số công việc gia tăng hay mất đi trong kinh tế trong tháng gần nhất, ko bao gồm những công việc liên quan đến ngành công nghiệp trồng trọt. Vì ngành này thường có tính chất thuê nhân công theo mùa mà điều này sẽ làm cho chỉ số xung quanh thời điểm gặt ko còn chính xác nữa ( vì các nông trang thường tăng thêm số công nhân và sau đó thì chỉ số vào mùa gặt mới được công bố). Bản báo cáo này cũng cho biết về số giờ làm việc trung bình hàng tuần và số thu nhập kiếm được bình theo tuần của tất cả những công nhân thuộc những ngành có trong báo cáo.


NFP bao gồm các thông tin sau :

-   Sự thay đổi về chỉ số NFP

-   Tỉ lệ thất nghiệp

-   Thay đổi về chỉ số Manufacturing Payrolls : chỉ số Payrolls dành riêng cho các ngành sản xuất.

-   Thu nhập trung bình tính theo giờ

-   Số giờ làm việc trung bình tính theo tuần.

Nói chung báo cáo phản ánh khoảng 80% tổng số công nhân làm việc để tăng sản lượng GDP của Mỹ và đưowjc sử dụng để hỗ trợ các chính khách và các nhà kinh tế đưa ra những chính xác mới để quyết định hiện trạng của kinh tế và phỏng đoán tương lai.

Ý nghĩa của NFP đối với nền kinh tế:

Nói chung, khi chỉ số lao động gia tăng có nghĩa là các công ty đang phát triển và cần tuyển dụng nhân lực và điều đó cũng đồng nghĩa với việc nhiều người sẽ có việc làm và có tiền để chi tiêu vào các sản phẩm hay dịch vụ giúp kích thích phát triển. Điều ngược lại cũng hoàn toàn đúng trong trường hợp NFP hạ.

Ý nghĩa của Nonfarm với thị trường tài chính:

Trong khi tổng số việc làm tăng lên hay giảm đi đối với nền kinh tế là một kim chỉ nam rất quan trọng cho hiện trạng kinh tế thì báo cáo này lãi có những thông kê mà hoàn toàn có ảnh hưởng đến thị trường tài chính:

-   Chỉ số thất nghiệp đối với kinh tế như một tỷ lệ của toàn bộ lực lượng lao động. Đây là một phần quan trọng của bản báo cáo vì số người thất nghiệp là một dấu hiệu của tổng thể kinh tế, và đây là một con số được ngân hàng Liên Bang theo dõi rất kĩ vì khi chỉ số này hạ xuống mức qúa thấp ( thường là dứới 5%) thì lạm phát sẽ bắt đầu hình thành vì các doanh nghiệp sẽ phải trả nhiều tiền hơn để thuê những thợ lành nghề và việc giá thành sản phẩm gia tăng cũng là điều đương nhiên.

-   Chỉ ra bộ phận nào có sự tăng hay giảm về công việc: Bản baó cáo có thể đưa ra sự cảnh báo cho những trader về mảng kinh tế nào có thể bung nổ phát triển.

-   Thu nhập trung bình hàng giờ : Đây là một yếu tố quan trọng vì nếu cùng một lượng nhân công như nhau nhưng lại kiếm nhiều hơn hay ít hơn cho một khối lượng công việc , điều này về căn bản là nói lên việc cần phải tăng hay giảm nhân công cho khối lượng công việc đó.

-   Dùng để xem lại chỉ số của lần ra tin NFP trước đó: Một yếu tố quan trọng khác của báo cáo là có thể gây ra những biến động trong thị trường vì traders tự lên khung những chiều hướng phát triển của news dựa vào chỉ số cũ.

 

 

Tổng Giá Trị Thị Trường –Gross Domestic Product (GDP)


Chắc hẳn các bạn ai cũng từng nghe nói đến GDP. GDP có lẽ là một trong những cụm từ news thông dụng nhất trên mọi phương tiện thông tin quần chúng. Và trong website này mình cũng đã nhắc đến GDP ko ít lần!

Vậy GDP là gì??

GDP là viết tắt của cụm từ Gross Domestic Product (tạm dịch là thu nhập tổng sản phẩm quốc dân) là một trong những thước đo dùng để đánh giá thu nhập và đầu ra quốc gia trong một nền kinh tế nhất định. GDP được định nghĩa là tổng giá trị thị trường của tất cả những mặt hàng và dịch vụ đến tay người tiểu dùng mà được sản xuất trong đất nước đó trong một giai đoạn thời gian cụ thể. Chỉ số này còn được coi như tổng giá trị cộng dồn ở mỗi khâu sản xuất ( những khâu sản xuất trung gian) của tất cả những mặt hàng và dịch vụ đến tay người tiêu dùng được sản xuất trong một quốc gia ở tại một giai đoạn nhất định và được cấp cho một giá trị tiền nhất định.

Cách thông dụng nhất để tính ra và hiểu được chỉ số GDP là phương pháp tính lượng tiêu dùng:

GDP = tiêu thụ + tổng số đầu tư + chi tiêu chính phủ + ( xuất khẩu – nhập khẩu)

Tức là GDP = C+I+G+(X-M)

Các nhà kinh tế học thường thích chia đôi cụm từ tiêu thụ nói chung thành 2 phần : tiêu thụ cá nhân, và chi tiêu công cộng ( còn gọi là chi tiêu chính phủ). 2 ưu điểm trong việc chi tổng số tiêu thụ ra trở thành như trên là:

Tiêu thụ cá nhân là nỗi lo chính của mảng phúc lợi kinh tế. Những nguồn đầu tư cá nhân và những phần thương mại cần dùng trong nền kinh tế hoàn toàn hướng tới việc gia tăng tiêu thụ cá nhân lâu dài.

Nếu tách riêng khỏi yếu tố nội sinh tiêu thụ cá nhân, thì tiêu thụ chính phú có thể coi như là yếu tố ngoại sinh để những mức chi tiêu chính phủ khác nhau có thể được đặt trong một khung kinh tế vĩ mô đầy ý nghĩa.

Mức sống và GDP:

GDP bình quân một đầu người thường được dùng để biểu thị mức sống trong một nền kinh tế, lý do cơ bản là tất cả những cư dân của nước đó đều có lời từ sự gia tăng sản xuất của nền kinh tế.

Ưu điểm lớn nhất trong việc sử dụng chỉ số GDP bình quân một đầu người để biểu thị mức sống là ở điểm số này thường được đánh giá rộng rãi, liên tục và nhất quán. Liên tục ở điểm là hầu hết tất cả các đất nước đều cung cấp thông tin về chỉ số GDP theo quý( việc này giúp người dùng tin có thể xác định được hướng của xu thế nhanh hơn). Rộng rãi ở điểm một vài chỉ số đánh giá của GDP thì được áp dụng thực tế ở khắp mọi nơi trên thế giới ( cho phép so sánh thuần mức sống giữa các đất nước khác nhau). Và nhất quán ở điểm các định nghĩa mang tính chuyên ngành được dùng trong GDP đều có tính tương đối nhất quán giữa các đất nước, và vì vậy mà người ta tin rằng nước nào cũng đánh giá các yếu tố giống nhau.

Nhược điểm lớn nhất của GDP trong việc biểu thị mức sống là, nếu nói một cách chặt chẽ thì GDP vốn ko phải là thước đo của mức sống. GDP được dùng để đánh giá những dạng hình đặc biệt của các hoạt động kinh tế trong một đất nước. Trong định nghĩa của GDP chẳng có gì gợi ý rằng chỉ số này cần thiết để giá mức sống cả. Ví dụ nhé, một nước có nền xuất khẩu tuyệt đối (100%) và ko nhập khẩu tí nào sẽ có chỉ GDP rất cao, nhưng mức sống lại cực kì thâp.

Một ý kiến khác ủng hộ việc sử dụng chỉ số GDP là tuy chỉ số này ko phải biểu thị của mức sống nhưng ( tất cả những yếu tố khác đều giống nhau) mức sống có chiều hướng tăng lên khi GDP bình quân một đầu người gia tăng. Điều này khiến cho chỉ số GDP đại diện được cho yếu tố mức sống, hơn là một công cụ được sử dụng để đánh giá trực tiếp yếu tố này. Vì khi công nhân làm việc năng suất hơn, các chủ doanh nghiệp phải cạnh tranh để có thể tra họ lương cao hơn. Ngược lại, nếu ko năng suất, lương sẽ hạ hoặc các doanh nghiệp này ko thể sinh lời được.

Có rất nhiều tranh luận xung quanh cách sử dụng này của GDP

 

Chỉ Số Bán Lẻ (Retail Sales)

 Retail Sales ( hay còn gọi là Advance Monthly Retail Sales Report) là thước đo tổng hoá đơn của các tiệm bán lẻ. Sự thay đổi trong chỉ số này rất quan trọng và được nhận định là một biểu thị kịp thời nhất về mức tiêu thụ của khách hàng. News được Ban Thương Nghiệp Mĩ thông báo hàng tháng từ năm 1953 và chỉ vắng mặt trong vòng 2 năm kể từ tháng 2 năm 1970 đến tháng 2 năm 1972.
Mục đích chính cuả news này là cung cấp dấu hiệu ban đầu về tình hình bán hàng của các công ty bán lẻ và dịch vụ cung cấp thực phẩm. Nội dung của báo cáo là giá trị về tiền của các sản phẩm được bán ra, giai đoạn báo cáo, và số các điểm bán lẻ. Các chỉ số bán lẻ, hay các chỉ số bán các mặt hàng có sức chịu đựng lâu dài hoặc ko lâu dài, thường được Ban Thương Nghiệp cục Thông Kê dân số báo cáo vào ngày 11 và 15 hàng tháng. Ko giống báo cáo Sổ đỏ Johnson cũng về chỉ số bán lẻ nhưng được thông kê hàng tuần và chỉ khảo sát dựa trên 15 điểm bán lẻ, chuỗi thống kê của báo cáo này dược soạn dựa trên một loạt cơ sở kinh doanh xuyên suốt đất nước. Báo cáo bao gồm các công ty bán lẻ và cung cấp dịch vụ ăn uống với một hoặc nhiều cơ sở mà cung cấp các hàng hoá và dịch vụ có liên quan tới nhau. Nhưng lại có nhược điểm là thực tế rất khó để xem lại.


Các chuyên gia thị trường thường tập trung vào chỉ số “ retail sales less autos”. Điều này là vì những người tham gia vào thị trường tài chính có thể dễ dàng nắm bắt được thói quen chi tiêu nổi bật của các khách hàng bằng cách loại bỏ yếu tố rất bấp bênh là “ auto sales” ( các mặt hàng như ôtô).
Một khía cạnh khác của news này mà xứng đáng được chú ý là lạm phát. Vì việc bán hàng thườngđược báo cáo bằng giá tiền hiện tại, những biến động trao đảo bất thường về mức giá có thể bóp méo bức tranh tổng thể về số lượng sản phẩm bán được. Một ví dụ của tình huống này một sự biên đổi tăng vọt nhanh chóng giá xăng dầu, cũng giống hiện tượng đã được chứng kiến suốt thời kì chiến tranh Vịnh Ba Tư. Suốt thời gian đó, một khối lượng khổng lổ số mặt hàng bán tăng lên đã góp phần làm tăng giá trị tiền của các ga dịch vụ.

 

News này còn thường xuyên được theo dõi sát sao và sử dụng một cách rộng rãi trong hệ thống chính phủ, các viện và các cộng đồng kinh tế. Viện Phân tích Kinh tế sử dụng news này như một đầu vào để tính toán chỉ số GDP. Hội Đồng Dự trữ Liên Bang cũng sử dụng sự đánh giá này để đoán trước xu thế kinh tế. Hội đồng Cố Vấn Kinh tế cũng sử dụng news này để phân tích các chính sách kinh tế.


Các phương tiện thông tin thường viết phóng sự về báo cáo này và sử dụng những chỉ số được ước lượng trong báo cáo để phan tích kinh tế. Các nhà phân tích tài chính và các công ty nghiên cứu thị trường thường dùng các dữ liệu để phân tích xu thế của thị trường cũng như là để quyết định chiều hướng của kinh tế. Các doanh nghiệp thường sử dụng bản thống kê này để tính toán xem họ đang hoạt động như thế nào và dự đoán những nhu cầu trong tương lai.


Nhiều yếu tố cho rằng The Advance Monthly Retail Sales Report là một trong những thước đo quan trọng nhất thể hiện độ mạnh yếu trong phạm vi khu vực khách hàng và bao gồm 10 yếu tố lớn. Được chú ý nhất là những phần sau : các nhà buôn máy móc tự động ( chiếm 25%); thực phẩm (17%), các mặt hàng chung chung (13%), và các trạm dịch vụ ( 6%) ( ở nước ngoài thường có các cây xăng trên đường cao tốc. Đi cùng các cây xăng này là những tiệm đồ ăn nhanh để mọi người có thể nghỉ ngơi và ăn uống thường được gọi là các trạm dịch vụ). Các nhà buôn đồ tự động hoá thường bán các phương tiện có động cơ motor ( như ôtô, xe máy ) .... mang giá trị cao và chỉ có vậy thội đã một tay làm ảnh hưởng hết toàn bộ chỉ số bán lẻ. Vì vậy, tổng chỉ số của retail sales cũng được giới thiệu mà ko có yếu tố này, để giúp người phân tích có một cái nhìn cân bằng hơn về sức tăng trưởng của retail sales. Chỉ số chính là chỉ số retail sales less auto mới được kể ở trên. Báo cáo này được coi là một kim chỉ nam kịp thời về yếu tố chi tiêu của khách hàng trong một phạm vi rất rông. Nếu tổng số của retail sales lên dù chỉ một phần thôi cũng chỉ ra sự phát triển kinh tế và niềm tin của khách hàng vào thị trường. Còn một chỉ số xấu thể hiện sự tụt giảm trong số lượng mặt hàng bán ra và mức chi tiêu cũng giảm bớt. Xin nhắc lại một lần nữa là việc theo dõi chỉ số retail sales less auto là rất quan trọng vì chỉ số này sẽ thể hiện một bức tranh chân thật hơn .


Xem xét một vài tháng dữ liệu Retail Sales cũng là một điều rất hữu dụng. Người ta thường đổ tội cho những điều chỉnh theo mùa ko hoàn hảo khi một tháng đặc biệt kém được nối tiếp sau đó bằng một tháng tốt. Dữ liệu của một đường chuyển động trung bình ( thường gọi là moving average, MA) trong vòng 3 tháng thường vẽ lên một bức tranh rõ ràng hơn. Những người nắm giữ trái phiếu thường thích chỉ số này hạ vì sự yếu kém ấy thể hiện kinh tế đi chậm lại. Một nền kinh tế mạnh thường mang theo nỗi sợ về lạm phát, điều thường đặt gánh nặng lớn lên giá
của trái phiếu.

Ý kiến cá nhân : Là một news trader ( người trade theo news tại thời điểm ra news _ bạn có thể xem ở đây để biết rõ chi tiết hơn) mình nhận thấy tại thời điểm ra news retail sales ko phải là một news tạo nhiều đột phá. Như vậy nếu bạn cũng là một news trader thì retail sales ko phải là một tin thích hợp cho bạn. Nhưng nếu bạn sử dụng retail sales để phân tích kinh tế như một người trading theo phương pháp cơ bản thật sự thì đó mới thực sự là khôn ngoan vì retail sales có mức độ ảnh hưởng sâu và rộng, mang lại những phản ứng lâu dài chứ ko phải là nhất thời! Theo thời gian và kinh nghiệm rồi bạn sẽ nhận thấy được điều này.

 

 

Yếu Tố Nào Ảnh Hưởng Đến Các Cặp Tiền Tệ Chính?


Ở mục này mình xin giới thiệu những yếu tố chính ảnh hưởng đến các cặp tiền tệ chính một cách cụ thể:

EUR/USD: Mặc dù đã được đề nghị lần đầu từ n bnhăm 1978, cái tên EURO chỉ chính thức được đặt vào 12/1995 bởi liên đoàn kinh tế Châu Âu và ngoại tệ này bắt đầu được dùng trong việc buôn bán điện năng vào 1/1/1999,

chính thức hợp pháp hóa vào 1/1/2002. Những chỉ số kinh tế cho các nước trong khối cộng đồng chung CHâu Âu giống với các chỉ số của Mỹ : như chỉ số GDP của cả khối CHâu Âu là 6.3 nghìn tỉ đô so với 8.1 nghìn tỉ đô của MỸ. Trong các giao dịch quốc tế ngoài khu vực CHâu Âu, cổ phiếu của Mỹ cũng ko thấp hơn CHâu Âu là bao nhiêu ( chiếm 17% so với 19%).

EUR/USD có thể là cặp tiền tệ được biết đến và được trade nhiều nhất trên thế giới. THường được gọi là “ chống đồng đô” vì sự nhạy cảm đặc biệt của nó với tư liệu kinh tế Mỹ, cặp tiền tệ này phản ánh tốt nhất hiện trang kinh tế Mỹ đối với toàn bộ phần còn lại của Thế giới. Dù riêng ngoại tệ này đã tăng đều so với đồng đô trong một vài năm gần đây, một sự đổi chiều có thể xảy đến rất nhanh. Đến tận khi đó, cặp tiền tệ này vẫn tạo rất nhiều cơ hội trade, với mức trung bình vào khoảng hơn 100 pips mỗi ngày.

1 vài thủ thuật trade cặp này:


-   Vì Mỹ là nước tiêu thụ nhiều dầu và các loại chất đốt nhất Thế Giới. nên bất cứ một sự thay đổi nào trong giá dầu đều có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá của đồng đô, điều mà, sau đó ngay lập tức phản ánh trên giá trị của cặp tiền này. Khi giá dầu tăng, Mỹ phải trả nhiều tiền hơn để mua dầu và từ đó mà giá trị của đồng đô tụt giảm so với đồng EUR.

-   EUR/USD có thể trải qua xu thế tăng nhanh và tụt giảm mạnh mà sau đó cập tiền tệ này thường di chuyển trong một cái khung trong một khoảng thời gian ( gọi là range-bound trade). Một trader tháo vát có thể kiếm được rất nhiều tiền nhờ việc trading theo khoảng. đối với cặp tiền này.

 -   Khi Fed tăng mức lãi xuất tiết kiệm cao hơn mức của Châu Âu những nhà đầu tư nước ngoài bị hấp dẫn đầu tư vào Mỹ và vì thế mà kích thích giá trị của đồng đô. Khi ngân hàng trung ương Châu Âu ( ECB) tăng lãi xuất tiết kiệm, điều ngược lại xảy ra, EUR đi lên.

-   Sự thâm hụt thương mại của Mỹ ( nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu) và sự thâm hụt ngân sách ( chi nhiều hơn thu) đã đẩy giá trị của đồng đô xuống thấp. Khi nhập khẩu của Châu Âu vượt quá xuất khẩu, đồng EUR suy yếu.

-   Dù kinh tế vẫn luôn phát triển đều đăn, số việc làm cần có vẫn ko giữ được nhịp độ của nó, dẫn đến việc rất nhiều nhà kinh tế học gọi đó là một quá trình phục hồi ko việc làm”. Báo cáo NFP vì vậy mà được các trader theo dõi chặt chẽ và có một ảnh hưởng lớn đến giá trị của đồng Đô. Ngược lại, Đức, nước có nền kinh tế lớn nhất Châu Âu, lại được các trader theo dõi rất chặt chẽ, và tỉ lệ thất nghiệp của nước này được một số đông cho là thước đo của điều kiện kinh tế trong khu vực Châu Âu. Vì cặp tiền tệ này thường đi theo xu hướng nhiều hơn là theo khoảng, những indicator như moving averages hay crossovers thương huu dụng hơn Bollinger band hoặc RSI ( mời các bạn xem các phân tích kĩ thuật để biết thêm chi tiết)

GBP/USD: Nước Anh là một nước có nền kinh tế lớn đứng thứ 4 trên thế giới với chỉ số GDP hơn 3 ngàn tỉ đô. GBP/USD cũng là một trong cặp tiện tệ thú vị và bất ổn nhất thế giới. Là cặp tiền tệ có lịch sử lâu đời với những biến động cực mạnh  cặp tiền tệ này thường di chuyển hàng trăm pips một lúc, giúp cho trader có rất nhiều cơ hội với mọi khoảng thời gian. Mức dịch chuyển trung bình cho cặp này thường là trên 150 pips.

Thời gian tốt nhất để trade cặp này là từ 3:00 sáng EST cho tới 10:00 sáng EST

Thủ thuật trade:

-   Thị trường nhà cửa ở Anh là yếu tố hàng đầu để biểu thị về lạm phát. Tình trạng nhà cửa của GBP nổi lên như bong bóng xà phòng và đã tạo nên một loạt sự bùng nổ về giá cả và vì vậy những cải thiện mới đều được thị trừơng theo dõi chặt chẽ.


-   Đối với nền kinh tế Mỹ thị trường nhà của cũng là một thị trường rất nhạy cảm để dự đoán tương lai.Một sự tăng giá đột biến cũng có thể gợi ý cho lãi súât của Mỹ trong tương lai, và đó cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến giá trị của đồng GBP/USD. Lãi suất tài khoản và sự thâm hụt kinh tế, chỉ số thất nghiệp và báo cáo số lượng hàng bán lẻ (retail sales), tỉ lệ thất nghiệp của anh và các cuộc họp của ngân hàng trung ương Anh (BOE) cũng vậy

USD/JPY: Nhật là nước có nền kinh tế mạnh đứng thứ 3 trên thế giới với GDP vượt 4 ngàn tỉ đô. Cặp tiền tệ này cũng là một cặp tiền tệ rất lí thú đối với các traders: vì tất cả các yếu tố xung quanh nó như: Trung Quốc, dầu hoả, lxuà những nỗ lực của chính phủ. Tất cả những yếu tố đó đề đóng vai trò trong đường đi của cặp tiền tệ này.

Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Nhật trên thị trường thế giới và giá trị của loại tiền này, đồng Yên, luôn được nhà nước điều chỉnh từ xưa. Khi Trung Quốc định giá lại hoặc thả nổi giá trị của đồng Nhân dân tệ ( tức là cho phép đồng tiền này cao hơn và gần với giá trị thực tế hơn) xúât nhập khẩu của Nhật sẽ cạnh tranh được tốt hơn trên thị trường Mỹ và đồng tiền Nhật sẽ tăng giá.

Nhật là một nước nhập khẩu dầu nên khi giá dầu tăng đồng nghiã với việc Nhật phải trả nhiều hơn và theo đó mà giá trị của đồng Yên cũng giảm.

Vì giá trị của đồng Yên tương đối thấp, nên đồng tiền này thường được sử dụng làm tiền vốn của các giao dịch carry trades ( xem carry trades) và vì thế, mà đồng tiền này đặc biệt cảm với sự thay đổi về lãi xuất.

Điều quan trọng nhất là, vì đồng Yên tăng giá sẽ gây ảnh hưởng xấu đến xuất nhập khẩu của Nhật, khiến cho các sản phẩm của Nhật đắt đỏ hơn nên Ngân Hàng Nhật Bản luôn cố gắng cật lực để giữ cho giá trị của đồng Yên thấp hơn giá trị thật bằng cách xen vào thị trường ngoại tệ.

Thời điểm tốt nhất để trade cặp tiền tệ này là từ 6:00pm EST ( giờ mở cửa thị trường Châu Á) tới 9h tối EST và đầu giờ mở cửa thị trường Mỹ (8h sáng tới 10h am EST). Trung bình hàng ngày cặp tiền này dao động khoảng trên 100 pip.

USD/CHF: Lịch sử trung lập và ổn định của Thuỵ Điển đã giúp cho đồng France được biết đến như một “ngoại tệ an toàn”

Khi thị trường tài chính cảmt hấy sự bất ổn, chiến tranh, các hỉêm hoạ kinh tế, các thảm hoạ nhiệt đới, bất ổn chính trị phát sinh, trên thị trường có xu thế chuyển vốn về Thuỵ Điển – nước an toàn trung lập. Những thảm hoạ toàn cầu ko mong đợi hay những gia tăng đột biến về giá dầu cũng sẽ có ảnh hưởng tốt đến giá trị của đồng CHF, vì đồng tiền này là một trong số những tiền tệ vẫn tiếp tục được ủng hộ phần nào bởi vàng

Các thủ thuật trade:

-   Theo thống kê, 99% cặp USD/CHF đi ngược chiều cặp EUR/USD và di chuyển trong một vùng giá cả khi mà cặp EUR/USD như vậy. Nghĩa là khi đồng EUR/USD lên thì đồng USD/CHF hạ và ngược lại. Vì vậy, chỉ cần nắm bắt được chiều chuyển động của EUR/USD, bạn sẽ biết được chuyển động của USD/CHF.

-   Khoảng thời gian tốt nhất để giao dịch với capự này là khoảng thời gian đầu ngày khi thị trường Châu Âu mở cửa từ 3-->4h sáng và khi thị trường Mỹ bắt đầu mở cửa ( 8h đến 10h sáng EST). Thường thì cặp này dịch chuyển trên 120 pip một ngày.

AUD/USD: Úc là một quốc gia sản xuất vàng và vì thê khi giá vàng tăng tiền Úc cũng tăng. Trong khi đấy Mỹ với vàng lại có mối liên hệ hoàn toàn ngược lại, nghĩa là khi giá vàng tăng, giá trị của đồng đô la Mỹ sẽ giảm, tạo thêm một động lực hơn nữa để tiền Úc so sánh với tiền Mỹ.

USD/CAD: Giống như Úc, Canada cũng là một nước có nền tài nguyên phong phú với một số lượng lớn dự trữ dầu. Rất ít người biết một điều là Canada là nước sảm xuất dầu đứng thứ 9 trên thế giới, với lượng dữ trữ dầu lớn thứ nhì chỉ sau Ả Rập. Khi giá dầu quốc tế tăng, đồng đô la Canada cũng tăng.

 

Vòng tuần hoàn kinh tế:
Vòng tuần hoàn kinh tế rất giống với bât cứ một vòng đời sản phẩm hay vòng đời doanh nghiệp nào. Cũng có 4 kì tuần hoàn đại diện cho lên xuống của những sự thay đổi trong các hoạt động kinh tế. 4 kì này là:
1) Kì Mở rộng hay còn gọi là kì phát triển hoặc kì phục hồi ( Expansion, Growth hoặc Recovery Phase)
2) Kì đỉnh điểm ( The peak hoặc Top)
3) Kì suy thoái hoặc kì khủng hoảng kinh tế ( The recessionary hoặc Contraction Phase)
4) Kì đáy ( The Trough hoặc Bottom)
 
Kì I -Kì Phát triển hay Kì mở rộng (cũng còn gọi là kì phục hồi)
Trong kì mở rộng, nền kinh tế đi theo hướng dao động lên. Các hoạt động kinh tế đều phát triển và mở rộng, sản xuất và nhu cầu gia tăng, tỉ lệ lao động cũng theo đó mà tăng. Các doanh nghiệp và các khách hàng bắt đầu mượn tiền để mở rộng các hoạt động và gia tăng tiêu thụ của họ. Điều này cũng theo đó mà giúp gia tăng lãi suất.


Kì II- Kì đỉnh điểm
Khi vòng tuần hoàn kinh tế lên đến đỉnh điểm, nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ vượt quá nguồn cung, vì vậy mà tạo nên thị trương của người bán. Và như thế, giá cả bắt đầu tăng nhanh, dẫn đến lạm phát. Trong suốt quá trình lạm phát, sẽ có quá nhiều tiền đuổi theo quá ít hàng hóa. Hậu quả là vì giá sản phẩm gia tăng nên khả năng mua hàng của khách hàng cũng giảm và nhu cầu cũng theo mà giảm. Điều này cũng theo đó mà khiến cho các hoạt động kinh tế giảm. Vòng tuần hoàn bước vào kì thứ 3, hay là một sự khủng hoảng kinh tế.


Kì III: Kì khủng hoảng kinh tế (cũng được gọi là kì suy thoái)
Vì sản xuất và kinh doanh chìm xuống, các người chủ doanh nghiệp bắt đầu giảm thiểu số công nhân. Những người bị sa thải, về hưu sớm, hay tạm thời nghĩ dẫn đến việc gia tăng thất nghiệp, khiến cho nhu cầu còn giảm hơn nữa. Theo đó, giá cả bị sụp xuống bất thình lình dẫn đến quá trình phản lạm phát, tức là điều kiện kinh tế tiêu biểu bởi tình hình giá cả bị giảm dai dăng và đáng kể.


Kì IV: Kì đáy
Cuối cùng, vòng tuần hoàn kinh tế bước vào kì IV, kì đáy. Lãi suất cắt giảm để khuấy độgn các hoạt động kinh tế. GIá cả thấp đi cũng khuấy động nhu cầu. Cuối cùng kinh tế sẽ bắt đầu đi lên và chuyển mình vào kì tiếp theo là kì mở rộng.
Và vòng tuần hoàn kinh tế cứ như vậy mà tiếp diễn.

Vòng tròn kinh tế và ảnh hưởng của lãi suất?
4 thời kì khác nhau của vòng tuần hoàn kinh tế dẫn đến một loạt những sự phát triển có ảnh hưởng lớn đến tỉ giá trao đổi ngoại tệ. VD: khi một nền kinh tế phát triển hay suy giảm, chỉ số GDP của đất nước ấy sẽ lên hoặc giảm, Consumer Spending (Sức chi tiêu của khách hàng) tăng hoặc giảm,  Chỉ số về lao động lên hoặc xuống, mức vay vốn hoặc tiết kiệm cũng bị ảnh hưởng, nguồn thương mãi cũng chịu tác động .... Các nhà kinh tế học và nhà cầm quyền theo dõi những sự thay đổi này và đưa ra những hành động phù hợp để giữ vững nền kinh tế. điều này có nghĩa là điều khiển tỉ lệ lạm phát bằng cách tăng hoặc giảm lãi suất cho vay, hoặc nới lỏng hoặc thiết chặt khả năng cho vay của các ngân hàng (thường gọi là credit). Lãi suất cho vạy và hiện trạng tổng thể của nền kinh tế là 2 yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến cugn và cầu.
Một chỉ số lãi suất cho vay cao lên diễn nhiên sẽ có sức hấp dẫn với các nhà đầu tư dẫn đến việc gia tăng nguồn vốn và vì mậy mà tăng nhu cầu tiền tệ và  cuối cùng là tăng giá trị của tiền tệ đó.
Vậy lãi suất cho vay ảnh hưởng đến kinh tế thế nào?
Khi lãi suất cho vay thấp, mọi người có thể vay tiền một cách dễ dàng để mua nhà , mua xe ... VIệc mua nhà, mua xe này  .. lại theo cái vòng đó mà giúp phát triển những nhu cầu khác như đồ gỗ, các thiết bị thiết yếu, vì vậy mà cung cấp một lực đẩy cho nền kinh tế. Trong trường hợp như vậy, khách hàng có thể phải trả ít lãi phí hơn và lấy về được nhiều sản phẩm hay dịch vụ hơn.
Lãi suất thấp cũng khiến cho các nhà sản xuất, các chủ nông nghiệp và các cơ sở kinh doanh khác dễ dàng mượn vốn và đầu tư vào thiết bị hoặc những phạm trù cần các chi phí lớn khác. Thêm vào đó, nguồn thu lại từ những khoản đầu tư như vậy thì có giá trị hơn tại thời điểm ấy ( tức là thời điểm khi mà lãi suất thấp) hơn khi là lãi suất cao. điều này khiến cho các doanh nghiệp lời nhiều hơn khi đầu tư với mức lãi suất thấp, và cũng theo đà đó mà giúp kinh tế phát triển nhanh hơn vì nang suất lao động tăng mạnh.
Tuy nhiên, chỉ lãi suất cho vay ko thôi thì dường như ko thể ảnh hưởng được khối lượng tiền tiết kiệm thuần của con người ( tức là tiền tiết kịêm được khi đã giảm bớt mọi thụ tục chi phí). Và dẫn đến 2 mặt của một vấn đề. Một mặt, khối lượng tiền tiết kiệm thu về cao hơn giúp con người có thêm lời để tiết kiệm. Tuy nhiên, mặt khác, điều này cũng khiến con người cảm thấy mình giàu hơn và có thể sẽ kết thúc bằng cách chi tiều nhiêu hơn là tiết kiệm.
Vậy lãi suất ảnh hưởng đến giá trị đồng đô Mỹ trong thị trường Forex như thế nào?
Lãi suất cho vay có thể và hoàn toàn có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến giá trị của đồng đô đối với các loại tiền tệ khá. Tất cả những yếu tố khác vẫn đứng nguyên, khi lãi suất cho vay thực (lãi suất cho vay có điều chỉnh về mặt lạm phát) ở Mỹ cao hơn ở những nước khác, các nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư bằng tiền Mỹ để thu về lợi nhuận cao hơn. Và như thế nhu cầu gia tăng tất yếu của tiền Mỹ sẽ giúp đẩy giá trị đồng tiền này lên. Điều ngược lại cũng xảy ra khi lãi suất Mỹ thấp.
Vậy lãi suất ảnh hưởng đến tình hình của một nền kinh tế nói chung như thế nào?
Lãi suất cho vay thể hiện tình trạng của nền kinh tế bằng cách ảnh hưởng đến nguồn và nguồn cầu về số lượng tiền gửi ngân hàng.

VD: nguồn thu nhập của con người rơi vào tình trạng  khủng hoảng, nên lượng tiền họ tiết kiệm được cũng giảm đi. nhu cầu vay tiền của các doanh nghiệp cũng giảm đi trong thời gian khủng hoảng kinh tế vì doanh nghiệp ko tốn nhiều vào các toà nhà mới, trang thiết bị ... Và Hội đồng dự trữ liên bang ( FED) thường giảm lãi suất suốt thời gian khủng hoảng kinh tế để thúc đẩy các hoạt động kinh tế.
VD: nhu cầu của chính phủ liên bang Mỹ về các khoản vay tiền thường là tăng khi kinh tế khủng hoang, vì các doanh nghiệp giảm thiểu các hoạt động và nguồn thu nhập của khách hàng giảm thuế thu nhập, và các chương trình phúc lợi như bảo hiểm thất nghiệp thường là tăng.
Hậu quả tồn đọng lại của toàn bộ những thay đổi này là lãi suất thường giảm khi kinh tế khủng hoảng.
Tất cả những yếu tố khác ko đổi, nhu cầu vay tiền tăng sẽ đẩy lãi suất lên. Tuy nhiên, nếu lãi suất mà khách hàng và doanh nghiệp phải trả tăng lên quá nhanh, chi tiêu sẽ tụt giảm và dẫn đến kinh tế sẽ bị chậm lại.

Unemployment rate - Tỷ lệ thất nghiệp
Một tin khác luôn ra cùng thời điểm với NFP và cũng có những tính chất quan trọng được đặt ngang hàng với NFP đó là Unemployment rate
Unemployment Rate: Là tỉ lệ lực lượng lao động mà chủ động tìm kiếm việc làm trong vòng khoảng 4 tuần nhưng lại ko thể kiếm được công việc tại 1 thời điểm cụ thể. Những nhân công chán nản với công việc, ko đi tìm việc vì họ tin rằng khả năng tìm được việc là rất thấp thì ko được tính ở trong lực lượng này. Chỉ số này ko giống với chỉ số Unemployment Insurance vì ko phải người thất nghiệp nào cũng đủ điều kiện cho những lợi tức ấy và vì có những người nhận trợ cấp thất nghiệp vì những lí do như nghỉ phép sinh nở và những người lợi dụng để ăn trợ cấp này ko được coi là thất nghiệp.
Chỉ số này được tổng hợp bằng lấy số người ko có việc làm chia cho tổng số lượng nhân công. Chỉ số này chủ yếu là xác định xu thế của thị trường chứ ko thể giúp người phân tích đoán ra được hướng đi lâu dài của thị trường
Vì những ngân hàng trung tâm luôn đặt áp lực lớn để giữ cho tỉ lệ thất nghiệp trong khả năng quản lý được ( cũng như luôn để ý đển mức độ lạm phát), nên tỉ lệt thất nghiệp cao thường tạo áp lực làm tụt hả lãi suất ngân hàng và ảnh hưởng đến toàn bộ phần còn lại của nền kinh tế- vì vậy ngân hàng trung tâm sẽ luôn để ý ủng hộ nền kinh tế để từ đó có thể giải quyết được tình trạng nhân công.
Nói chung, thất nghiệp thể hiện sản lượng kinh tế, tiêu thụ cá nhân, thu nhập của công nhân và ý kiến của khách hàng. Một tỉ lệ thất nghiệp thấp có nghĩa là có nhiều người được nhận tiền lương và điều đó kích thích chi tiêu của khách hàng, phát triển kinh tế và khả năng lạm phát. Và ngược lại tỉ lệ thất nghiệp càng cao thì thu nhập càng giảm, chi tiêu ít và tình trạng kinh tế cũng bị ứ đọng. Tuy nhiên, với hầu hết số người bị thất nghiệp, đây chỉ là một tình trạng tạm thời mà từ đó họ có thể tìm được những công việc khác thích hợp với khả năng và kĩ năng của họ.

Chỉ số giá cả PPI
PPI – Producer Price Indexes
Ý nghĩa của PPI :
Producer Price Indexes là chỉ số nhà sản xuất thực hiện giao dịch mua bán. Chỉ số này là một trong những tập hợp về các loại chỉ số so sánh mức độ thay đổi trung bình qua thời gian về giá cả mà những nhà sản xuất sản phẩm và dịch vụ bán ra thị trường. PPIs dựa trên triển vọng và mức độ phát triển của những công ty cung cấp sản phẩm này để so sánh về sự thay đổi trong giá cả. Giá của người bán và người mua có thể khác nhau tùy thuộc vào các yếu tố như trợ cấp nhà nước, thuế và các chi phí phân phối kinh doanh.
Chỉ số PPI là chỉ số dành cho hầu hết những sản phẩm của các ngành công nghiệp trong lĩnh vực khai thác quặng mỏ và sản xuất của nền kinh tế Mỹ và hiện nay đang dần dần có những chỉ số PPI mới được giới thiệu vào những ngành công nghiệp như vận tải, thương nghiệp, tài chính và kinh tế dịch vụ.
Vậy chỉ số PPI này được sử dụng thế nào?
Một vấn đề rất quan trọng ngoài ý nghĩa ra là cách dùng của một chỉ số news. Vì cách dùng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc bạn áp dụng news ra sao. Nói về cách dùng, thì chỉ số PPI được sử dụng rộng rãi bởi chính phủ và cộng đồng kinh tế. 3 cách chính mà PPI được dùng là:
_ Như một kim chỉ nam về kinh tế: Chỉ số PPI nắm bắt chuyển động của giá cả theo mức độ bán lẻ. Vì vậy, dựa vào đó, họ có thể đoán trước được những thay đổi sau này của giá cả cho khách hàng và doanh nghiệp. Tổng thống, Nghị viện, và Ngân Hàng Liên Bang sử dụng những thông tin này để lên công thức cho những chính sách về tiền tệ và tài chính.
_ Là một chỉ số điều chỉnh lạm phát của những chỉ số kinh tế khác : PPIs được sử dụng để điều chỉnh những chuổi thời gian khác trong kinh tế về sự thay đổi của giá cả và để chuyển đổi những chuỗi này thành những đồng tiền ko bị lạm phát.
Ví dụ : GDP được tính toán bằng cách sử dụng những yếu tố ko bị lạm phát dựa trên thống kê về PPI.
_ Như một yếu tố ủng hộ cho sự tính toán về hợp các hợp đồng kinh tế: Các thông kê về PPI thường được sử dụng trong việc tính toán các hợp đồng mua bán. Những hợp đồng dạng này là những yếu tố tiêu biểu để xác định khối lượng tiền tệ sẽ được luân chuyển tại một thời điểm trong tương lai. Thường thì chỉ số này được dùng để tính toán cho sự tăng lên của giá sản phẩm đầu vào.
VD: Một hợp đồng bánh mì dài hạn có thể được tính toán là sẽ làm ảnh hưởng đến giá của bột mì bằng cách áp dụng phần trăm thay đổi trong chỉ số PPI của yếu tố bột mì với giá của chiếc bánh mì trong hợp đồng đấy.