Những gì ở đây liên quan nhiều đến ác khái niệm.
Ở tiếng ta, súng trường có hai thuộc tính: súng cá nhân nòng dài và là vũ khí bộ binh thông dụng. Có nhiều loại súng cá nhân nòng dài như súng săn không phải là súng trường. Có nhiều loại súng bộ binh cá nhân không phải là súng trường, mặc dù nòng dài, như trung liên RPD. Nhưng cũng có loại trung liên có chức năng súng trường tầm xa, súng trường bắn tỉa, là RPK. Súng bắn tỉa là một loại súng trường, trước đây nó đã từng là vũ khí bộ binh chính.
Trong tiếng Trung, không có từ nào tương đương hoàn toàn với tiếng Việt. Người Tầu dùng chữ thương ban đầu chỉ động tác làm gậy gỗ đẽo, gậy nhọn, rồi thời Trung cổ là cây giáo. Tuy nhiên, có nhiều loại binh khí giống như giáo và chỉ loại là vũ khí chính của Bộ binh mới là thương: 枪, phồn thể: 槍. Đến khi súng là vũ khí chính thì súng nhỏ cá nhân thừa kế chữ thương 枪 , Loại có thể trở thành vũ khí của bộ binh là "bộ thương" 步枪 . Ví dụ, loại súng do Tầu Tưởng sản xuất từ năm 1935, sao chép kiểu G98-M1924 Đức, được gọi là 中正式步枪 Trung Chính thức bộ thương, "Trung Chính" là hiệu của Tưởng Giới Thạch, "thức" là kiểu. Bộ thương cũng không phải là chỉ giành riêng cho súng trường, mà cứ là loại súng cá nhân bắn đạn xuyên bộ binh, trừ súng ngắn có từ dành riêng là Thủ thương, đều là bộ thương, to như những khẩu súng trường chống tăng, nhỏ như những khẩu súng máy bắn đạn nhỏ (SMG, MP). Súng trường bắn tỉa tầm xa tầu gọi là 卡賓槍 tạp tân thương, như CKC (CKC là tên nhà ta hay gọi khẩu SKS Nga), Tầu gọi là 56式卡賓槍 "56 rhức tạp tân thương" .
Vì chênh lệch ngôn ngữ nên có những điểm mà tiếng Tầu khác. Ví dụ, cùng là xung phong thương 冲锋枪 , được dùng để chỉ SMG (súng máy bắn đạn nhỏ), như M3 Grease phiên bản Tầu Tưởng có tên "三七式衝鋒槍" Tam thất thức xuong phong thương , PPSh-41 là 50 thức, PPS-42 là 54 thức, đều là 冲锋枪 . Và 冲锋枪 cũng được dùng để chỉ súng trường xung phong, như AK-47 được gọi là "56式冲锋枪" . Cùng là dòng AK, nhưng kiểu 81, cải tiến tiếp theo lại là 81式自动步枪, 81 thức tự động bộ thương, hay còn được gọi là 81式突击步枪 , 81 thức đột kích bộ thương.
Như vậy, có súng không phải là súng trường mà cùng tên với súng trường, có súng trường cùng loại... nhưng lại khác tên. Đến cả cái không bắn cái gì cũng cùng tên với... súng.
http://www.armsky.com/yuanchuangzhuangao/seechina/ChinaArmy/200608/5491.html
Tiếng Đức. Trung Quốc đã phức tạp ngôn nhữ rồi, mà lại thừa kế khái niệm "súng bộ binh" của Đức, nên càng phức tạp. Trong tiếng Đức có từ Gewehr-G, nghĩa là vũ khí chính của bộ binh. Như vậy, nó có thể là súng hỏa mai hay súng trường hay súng ngắn, hay là giáo, súng ngắn như MP-44 là STG-44, súng máy như MG-42. Khẩu Mauser 98k khi được chấp nhận là "súng trường phục vụ", có tên G98. Tuy nhiên, có rất nhiều người thấy các ký hiệu như G88, lại tưởng nó là súng trường. Ví dụ, khẩu STG44 (Sturmgewehr 1944), st=bão tố=xung phong, như việc Trung Quốc gọi PPSh-41 là 50式冲锋枪 , súng xung phong kiểu 1950 vậy. PPS-41 là PP-trong tiếng Nga là súng ngắn bắn liên thanh, STG-44 là đổi tên của khẩu MP43. MP là súng ngắn bắn liên thanh, không phải súng trường. Trong tiếc Đức, "Büchse" mới là súng trường. Gewehr hiện nay cũng được dùng đổi khác, dạng như là "súng cá nhân dài", chứ không chỉ là súng bộ binh nữa.
Gewehr là "vũ khí bộ binh", ví dụ, MG-42 là Maschinen Gewehr 1942, tức "súng máy của bộ binh kiểu 1942". Hay STG-44 là Sturmgewehr 1944, súng xung phong của bộ binh kiểu 1944. Nhưng với súng trường, vũ khí chính của bộ binh, người ta dùng luôn từ Gewehr mà không thêm từ chỉ tính chất ở đầu. Ví dụ, khẩu Súng hội đồng G88, Mauser G98, G1, G3... nhưng không vì thế G là súng trường. Ví dụ về sự phân biệt, trong sắc lệnh công bố ngày 6-4-1944, Hitler xác định 3 khẩu súng của bộ binh là STG-44 (MP43, MP44), MG-42, G-43. Rõ ràng, tuy G-43 là súng trường kiểu 1943, nhưng súng máy đa năng MG-42 và súng ngắn bắn liên thanh STG-44 không phải súng trường.
Điều đó cũng như ở ta hay nói "súng AK", chứ ít khi nói "súng trường AK", vì hiện nay AK phổ biến nhất. Nhưng khi nói về RPK và PK thì lại hay dùng "trung liên RPK" và "đại liên PK" cho rõ ràng.
Tiếng Anh. Tiếng Anh rifle thường được gọi là súng trường. Nhưng không phải lúc nào cũng như vậy và cũng khối vụ dịch nhầm khủng khiếp. Thật ra, tiếng Anh phát triển tự do, không có một cơ quan nào thống nhất chúng về mặt luật pháp, nên phát triển khá luyên thuyên. Trong tiếng Anh, gun dùng để chỉ các loại súng bắn đạn động năng, từ to như khẩu pháo cho đến nhỏ như khẩu súng ngắn đều là gun, chỉ có những từ như infantry weapon (vũ khí bộ binh) hay firearms (vũ khí xách tay, vũ khí cá nhân) là gần nhất chứ không có arm-gun. Rifle là phần còn lại của cụm từ dài ngoẵng "súng trường nòng xoắn", bản thân rifle chỉ là cái nòng xoắn, nhưng người ta lại không giữ từ khác mà giữ nó khi nói gọn. Và như vậy, khá nhiều cái rifle không phải súng trường, ví dụ recoilless rifle (RCL) , như SPG-9 73 mm, thật khủng khiếp khi có một khẩu súng trường 73mm như báo đã từng đăng, cũng như vậy, rất nhiều rifle được dùng trong các tình huống khác.
Cũng như vậy, "long gun" trong tiếng Anh là pháo nòng dài.