(Hôm nay 9-4 Giỗ ông ngoại tôi)
LTG: Hôm nay 9-4 (Âm lịch) là ngày giỗ Ông ngoại tôi. Trong tuyện tôi có viết: ông mất sau Lễ Phật đản một ngày.
Tôi còn rất nhớ, Phật đản là ngày 8-4, nhưng không hiểu sao, bây giờ người ta lại chuyển Lễ Phật đản vào ngày Rằm tháng Tư. Tôi nhớ là vì, khi đó học sinh chúng tôi được nghỉ 2 ngày trong một năm. Đó là ngày Phật Đản 8-4 9âm lịch) và Noel 25-12 (dương lịch).
Cho đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ câu chuyện ngốc nghếch của mình, dù đã hơn ba mươi năm trời qua đi. Ngày đó tôi học lớp Hai, thầy Đảm là người có nhiều tài, đá mài đá vôi in giấy mời họp phụ huynh học sinh. Khi mà cái máy chữ vẫn còn là công cụ cao cấp của quốc gia, thì tờ giấy pơluya in thạch bản là một cái gì quan trọng lắm. Tôi được phát một tờ để viết tên phụ huynh của mình. Thấy trong giấy ghi : Kính gửi Ông (hay Bà), tôi cứ băn khoăn mãi. Cuối cùng tôi ghi tên ông ngoại vào và đem về đưa cho ông. Ông ngoại không biết chữ quốc ngữ, bảo tôi đọc cho ông nghe. Nghe xong, ông cười:
- Cái này phải đề tên bố cháu !
- Nhưng cơ mà “Kính gửi Ông” đấy thây! Tôi cãi.
Tôi sinh ra, ông bà nội đã mất từ lâu, nhưng ông bà ngoại thì còn cả. Thành ra, tôi đinh ninh rằng mình chỉ có một ông bà. Đã thế, khi bố mẹ tôi lấy nhau, bố tôi ở nhà ông bà rồi mới tòng quân đánh Pháp. Tôi được sinh ra trong ngôi nhà rạ của ông bà tôi. Mẹ tôi kể cho tôi nghe rằng, ngay lúc tôi được sinh ra, vào khoảng giờ Thìn, ông ngoại đã bế ngay tôi ra ngoài nắng cho nhìn mặt trời. Ông bảo: để cho cháu tôi lớn lên nhìn đời đươ
c tinh tường! Ông bà ngoại chỉ có hai người con gái là mẹ và dì tôi, nên khi có tôi ông quý tôi lắm. Tôi còn nhớ ông dạy tôi chữ nho, nhưng vì bố tôi không muốn nên tôi chỉ học được ít chữ, trong đó có hai chữ Thái Bình mà ông viết bằng vôi trắng lên vách đất ngay trên trốc cửa lớn của ngôi nhà ông ở.
Ông ngoại tôi người Thái Bình, nơi ấy bây giờ là Xóm Một, xã Lê Lợi, huyện Kiến Xương. Từ nhỏ ông đã học thợ bạc và làm nghề này rất tinh thông. Ông đem nghề đi giang hồ tứ xứ và gặp bà ngoại ở Bắc Ninh, rồi định cư tại cái làng Sơn Cốt này. Cho đến khi tôi biết thì ai ai cũng gọi ông tôi là cụ Phó bạc. Tôi thì tự hào về cái tên gọi ấy lắm, nhưng hình như bố tôi không thích. Cũng phải thôi, ông bà nội tôi là một điền chủ phá sản, từ khi chưa có chữ “địa chủ”, tình yêu ruộng đất rất đậm đặc nên khiến bố tôi khó mà hoà lòng với người không có tấc đất cắm dùi như ông bà ngoại tôi. Nhưng cũng vì thế mà dạo cải cách ruộng đất, ông tôi được xác định là thành phần cố nông, không ruộng đất, trâu bò. Mẹ tôi bảo nếu ông có chư, có khi là cán bộ huyện, tỉnh cũng nên. Nhưng không biết vì sao ông không chịu học chữ quốc ngữ.
Tôi quý ông ngoại lắm và ông rất yêu quý tôi, nhưng cũng do là tôi còn rất mê bộ đồ nghề của ông. Cái gì cũng bé tí, nhỏ xinh rất hợp với tôi. Cái búa, cái dùi, cái cặp... chỉ bằng chiếc đũa hay que tăm.
Những cái nồi nấu bạc nặn bằng đất thó chỉ to bằng nửa cái trứng chim khi đã ấp nở. Cái bễ thổi lò làm bằng ống bương trát sơn ta, đặt nằm ngang, tôi ngồi bên cạnh chỉ chờ ông gật đầu là thụt lấy, thụt để, làm cho than bụi túa lên tận duổi nhà. Cả cái chổi quét lò bằng lá thông cũng như đồ hàng của trẻ con. Có lẽ lớn nhất là cái chậu rửa bạc bằng một mảnh vỏ trai lấp lánh xà cừ... Tất cả những thứ đó ông xếp gọn vào một cái bồ nhỏ, đầu kia là tay nải quần áo, để khoảng cuối tháng bảy ta, ông vào trong Hóc, là nơi định cư của người Sán Dìu làm ăn. Ông thường đánh cho họ những bộ xà tích, vòng cổ, vòng tay, khuyên bạc... Hoặc có khi ông bịt những đồ sứ quý bằng những cái đai bạc sáng ngời. Mãi gần Tết, có khi hăm nhăm, hăm sáu ông mới về.
Những ngày ông đi vắng tôi cũng buồn, thỉnh thoảng lại tha thẩn ngoài vườn ông, trèo lên cây mánh ngong ngóng. Ông về, quà cho tôi thường là những cái bánh gai đen gói lá chuối khô ngọt đậm mùi mật mía, cũng có khi là một đùm trám trắng, ăn thì chua chua, chan chát, nhưng uống một ngụm nước lã vào thì ngọt lạ lùng... Ông về hôm trước, hôm sau thế nào cũng mài con dao bài thật sắc, cạo thử lông chân rồi gọi bà ngoại ra góc vườn để... cạo đầu! Tôi và thằng em đứng xem thích thú nhìn cái đầu nhẵn thín của bà ngoại mà cười. Bà ngồi im, chỉ đến khi xong xuôi, giũ khăn vuông đứng đậy mới tế cho chúng tôi một trận.
Bà tôi người Lim, Bắc Ninh, có nghề làm hàng xáo, lúc nào trong nhà cũng rậm rịch xay giã. Phải năm thóc cao gạo kém, mua thóc khó mà bán gạo bán cám cũng khó. Có khi trong nhà có gạo nhưng bà vẫn cho cả nhà ăn cháo đầu tấm, toàn những mày thóc và cám trộng. Ăn vào, mùi dầu cám xộc lên, như thể ăn phải xà phòng...
Khi phong trào hợp tác hoá nông nghiệp rộ lên thì ông tôi không đi làm thợ nữa. Ông cũng là xã viên nhưng là lao động phụ, người ta phân cho ông chăn con trâu mộng hung dữ của nhà ông Vọng. Con trâu này nổi tiếng kéo khỏe nhưng cũng sẵn sàng đánh nhau suốt một ngày trời. Ông tôi chiều chuộng vuốt ve con trâu, dắt bờ cho nó ăn, bắt rận, tắm chải cho nó. Nhiều lần, tôi và nó được ông đối xử như nhau, cùng được nghe câu chuyện Trí khôn, hay chuyện Hoàng Trìu... Lạ thay, trong tay ông con trâu không còn hung dữ nữa...
Chiến tranh nổ ra, những chiếc máy bay xù xì của Mỹ gầm rú đe nẹt bầu trời làng tôi. Người ta đem sơ tán về làng một hệ thống kho lương thực. Thế là dân làng phải sơ tán ra mãi ngoài cánh đồng gò bụi tránh bị vạ lây nhỡ máy bay ném bom kho gạo. Tôi thỉnh thoảng lại lén chạy về làng, lúc đầu bố tôi cấm, nhưng sau cũng chán. Kệ xác nó, bố bảo thế. Vậy là mỗi lần có máy bay tôi lại chạy loi choi trong vườn để xem đạn cao xạ, tên lửa và cả máy bay ta đánh nhau với máy bay Mỹ. Tôi chạy ra nhà ông, ông đang ngồi thái sắn khô ngoài vườn, cứ như không hề có chuyện gì trên trời. Bao giờ thái sắn độn cơm ông cũng mài dao thật sắc, trải manh chiếu ra bóng mát, kê thớt đàng hoàng. Tôi chả thấy ông sợ một thứ gì, con gì. Ông bảo chỗ đất này là sân miếu, thỉnh thoảng vẫn thấy một con rắn có mào vào cửa chào ông. Tôi sợ lắm, nhưng ông bảo chả có gì mà sợ, dù có là thần thánh gì gì nữa thì cũng thua con người. Thế nhưng với tàu bay thì không thế được. Tôi chạy hớt hải vừa gọi giục ông xuống hầm. Nhưng ông ngước nhìn tôi, thong thả:
- Xuống tăng-sê đi, thằng cu !
- Ông cũng phải xuống!
Ông cười, vuốt râu:
- Cháu xuống đi, để ông canh cho...
- Ngộ nhỡ máy bay ném bom ông chết thì sao?
- Ông chết làm sao được hả con ! Mà ông thì chết lúc nào chả được...
Bà tôi mất trước, ba năm sau thì ông qua đời.
Hôm ấy tôi từ ngoài gò về nhà, chạy ra thăm ông. Không thấy ông ngoài vườn, cánh cửa phên nứa khép hờ. Tôi đẩy cánh rại vào nhà thấy ông đang nằm ngửa trên giường, đầu gối lên cái gối bằng gỗ mít đã lên nước nâu bóng như thường ngày, chòm râu bạc thỉnh thoảng rung lên theo nhịp thở khò khè. Tôi lay ông:
- Ông ơi, ông ốm à ?
Ông hé mắt nhìn tôi:
- Ông thấy người hơi mỏi. Con lấy cho ông cái gói áo bông ở trong buồng ra cho ông để ông thay gối...
Buổi tối tôi bảo với bố mẹ là ông ốm. Bố tôi vội vàng chạy đi, lúc sau tôi thấy bố cõng ông về nhà tôi. Mấy ngày ông ốm, nhà tôi lúc nào cũng đông khách, suốt từ trưa đến khuya, có những bà cụ già còn ngủ lại. Suốt đêm các cụ kể chuyện rì rầm, lại cả tụng kinh, nam mô nữa... Ngoài vườn, mấy ông thợ mộc đang kì cạch đóng quan tài. Tôi hãi chỗ đó nhất, không dám đến gần. Buổi tối, bố tôi bắt tôi mang sách vở xuống nhà chú tôi mà học bài rồi ngủ luôn ở dưới đó.
Đêm ấy, tôi đang ngồi học bài bên ngọn đèn dầu tù mù thì một con thiêu thân bay vào làm ngọn đèn phụt tắt. Trong bóng tối đột ngột, tôi chợt nhìn thấy hình ông đang đối diện với mình. Chỉ một thoáng thôi, nhưng đầu tôi nóng ran, trống ngực đập loạn xạ. Không hiểu có chuyện gì xảy ra với ông thế? Tôi vội vàng chạy về nhà, đi lẻn cửa ngách vào buồng ông đang nằm. Trong buồng, cạnh ngọn đèn lờ mờ, chỉ có mình mẹ tôi ngồi bên ông. Tôi vội vàng thụp xuống sau bì tải thóc. Tiếng ông thều thào:
- Thôi con đừng khóc, chị em ở lại bảo ban nhau, để cha đi theo mẹ con ...
Mẹ tôi cắn chặt môi mếu máo:
- Trước lúc cha đi, cha có dặn chị em con điều gì không ?
- Không có gì phải dặn cả. Con lật dưới gối lấy cho cha cái túi vải nhỏ...
Mẹ tôi làm theo và mở cái túi ra, tận trong cùng là một xấp giấy bản, chừng ba tờ viết chữ nho dày đặc. Tôi biết tờ giấy đó, mỗi lần cúng, ông tôi thường lấy nó ra để trước mặt. Ông cầm tờ giấy cố giơ ra trước ánh đèn, rồi bảo mẹ tôi:
- Con đi lấy cho cha chén nước...
Mẹ tôi đứng dậy, vừa đi ra ngoài thì ông vo tờ giấy lại cho vào miệng, nhai trệu trạo. Tôi định chạy đến giữ lại nhưng không dám, đến lúc mặt ông đờ ra, mắt mở trừng trừng thì mẹ tôi cũng vừa vào. Mẹ nâng đầu ông dậy kề chén nước vào miệng ông. Ông uống khó nhọc, nước tràn cả ra râu, ra áo.
- Cha ơi, cha vừa ăn cái gì phải không? Tờ giấy đâu rồi?
Mẹ tôi định kêu lên thì ông giơ tay ra hiệu im lặng. Lát sau, chờ cho nhịp thở của ông dịu dần, ông mới nói, đầy vẻ khó nhọc:
- Cha đã nuốt rồi. Nó là tờ tràng biên ghi tên tuổi các cụ họ Lê của cha. Ông nói trong hơi thở gấp gáp. Cha bạc phúc, sinh con một bề, không có người nối dõi, nên...
Mẹ tôi òa khóc:
- Cha để cho con, con biết đường mà cúng các cụ! Con cúng, rồi các cháu nó cũng cúng chứ ? Cha ơi...
Mẹ tôi lay mãi nhưng ông vẫn im lặng. Nghe tiếng khóc của mẹ, bố tôi, dì và các cậu họ tôi chạy ùa vào. Ông tôi mất ngày mồng chín tháng tư âm lịch, sau Phật đản một ngày.
Ngày nay,
ngôi nhà của ông không còn nữa, trên đất cũ mẹ tôi đã cho đem phần mộ của ông
bà ngoại tôi về đặt chính giữa nền nhà. Mẹ tôi làm việc này mà không cho tôi
biết trước, xong rồi mới gửi ảnh vào Sài Gòn cho tôi. Năm ngoái, khi về thăm nhà, tôi đã quyết định và với sự đồng
ý của mẹ, đem phần mộ của ông bà nội tôi đã chôn từ hơn năm mươi năm trước về
đặt song song bên mộ của ông bà ngoại...
11-1995
__(về đầu trang)___________________________