
Bệnh viện đa khoa Cần Thơ năm 1920.

Chùa ông

Chợ cổ Cần Thơ thời Pháp

Tòa án tỉnh Cần Thơ (năm 1925)

Con kênh trước bệnh viện (năm 1925) nay là đường Châu Văn Liêm
Đoàn học sinh tuổi trung bình từ 12 đến 18 đang diễn hành đều bước
trên Lộ Mới là một trong những con đường nhộn nhịp nhất chạy từ trung
tâm thành phố Cần Thơ đến sông Cái Khế. Con đường này, nay được gọi là
Xô Viết Nghệ Tĩnh. Cách đây 60 năm, người Pháp cai trị Đông Dương nên
đã có thời kỳ con Lộ Mới này được đổi tên là Capitaine d'Hers, sau nữa
đổi thành Phan Thanh Giản cho đến năm 1975. Nó chạy xuyên ngang một khu
đông đúc gồm có trại gia binh và trường trung học Phan Thanh Giản ở
phía Nam và khu gia cư ở phía Bắc lên đến tận sông Cái Khế. Cứ mỗi buổi
chiều, đến giờ thể dục thì học sinh trung học tập đi diễn hành ngoài
đường và ca ngợi nước Pháp với hai câu hát được Chính Phủ Pháp tung ra,
“Maréchal! Nous voilà! Devant toi le sauveur de la France” (Thưa Thống
Chế, vị cứu tinh của nước Pháp! Chúng tôi đang trình diện trước mặt
Ngài!), để vinh danh Thống Chế Pétain, vị anh hùng của trận Verdun hồi
thế chiến thứ I.
Năm 1941, khi Phát Xít Đức xâm chiếm các nước Âu Châu, trong đó
có Pháp, Chánh Phủ Cộng Hòa Pháp kể cả Quốc Hội tự động giải tán. Quốc
gia Pháp được thành lập tại miền Nam nước Pháp dưới quyền lãnh đạo của
Thống Chế Pétain, chủ trương hợp tác với Phát Xít Đức để cứu vãn nước
Pháp, ít lắm là theo lời tuyên bố của ông ta, trong lúc đại đa số người
dân Pháp hướng về Thiếu Tướng De Gaulle, đang kêu gọi toàn quốc kháng
chiến, từ Luân Đôn (Anh Quốc) là nơi ông đã thành lập Chính Phủ Pháp Tự
Do và lãnh đạo cuộc chiến đánh đuổi Đức Quốc Xã để giải phóng nước Pháp.
Nhà
tôi nghèo. Quê tôi là làng Phú Hữu, ở tận cực Nam của tỉnh Cần Thơ,
cách tỉnh lỵ độ 18 cây số. Bên nội tôi sống bằng nghề nông. Trước năm
1945, xã Phú Hữu cũng như tất cả các xã khác, trừ xã tại quân lỵ, chỉ
vỏn vẹn có một lớp Đồng Ấu để dạy trẻ con biết đọc và viết mà thôi. Với
hoài bảo cho các con ăn học để tương lai được sáng sủa hơn là cứ miệt
mài với ruộng vườn quanh năm suốt tháng mà không thoát cảnh nghèo nàn,
ba mẹ tôi dời lên ở tỉnh lỵ Cần Thơ, cất nhà sát bên cạnh trường trung
học Lộ Mới, tiện cho việc học hành của các con sau này.
Quê tôi
nghèo. Bên nội tôi gồm khoảng 50 gia đình thuộc ba bốn thế hệ chia nhau
chiếm trọn con Kinh Nhỏ là nơi phát nguồn của Rạch Mái Dầm giáp ranh
với tỉnh Sóc Trăng. Toàn dân trong xã làm ruộng, hết mùa lúa ở quê nhà
thì rủ nhau bơi xuồng xuống Ba Xuyên gặt lúa để kiếm thêm chút đỉnh,
hoặc bằng tiền hoặc bằng hiện vật là lúa để tăng cường lợi tức thấp kém
của mình. Lúc bấy giờ trong nước chỉ làm ruộng một mùa. Người nào siêng
năng cần cù thì trồng thêm vài luống khoai hoặc bắp, kiếm thêm thức ăn
độn cho gia đình. Nông thôn ta lúc bất giờ chưa biết làm lúa hai mùa
hoặc trồng rẫy qui mô để sinh lợi. Sau khi gặt hái, còn lại nửa năm
không biết làm gì nên dân làng thường tổ chức cờ bạc và đá gà.
Đất
nước tôi nghèo, nghèo lắm. Hơn 90 phần trăm nhân dân sống lam lũ ở nông
thôn. Ngoại trừ một thiểu số làm công chức và nghề tiểu công nghệ hoặc
tiểu thương, đa số quần chúng sống trong cảnh nghèo đói theo định nghĩa
“nghèo đói” của Liên Hiệp Quốc ngày nay. Nước nghèo lại gặp cảnh thế
chiến. Gạo thừa thải chút đỉnh nhưng xuất cảng không được. Ngoài ra,
Pháp và Nhật tung đòn đánh phá nhau về kinh tế gây nạn đói ở Bắc Việt
chết hàng triệu người. Có đủ gạo thì ăn cơm, thiếu gạo thì phải độn
khoai cho đỡ đói, và đừng mong mua được đồ biến chế ngoại quốc vì các
phe lâm chiến phong tỏa khắp các mặt biển và hải trình.
Cần Thơ, quê hương hiền hòa
Trong
trọn tỉnh lỵ Cần Thơ, tôi chỉ thấy một chiếc xe hơi của Chánh Tham Biện
tức Tỉnh Trưởng người Pháp. Lúc bấy giờ, thế giới chưa có máy lạnh (air
conditioner) , và máy truyền hình. Tôi cũng chỉ thấy có một tủ lạnh
(refrigerator) nơi tư thất của một trong 10 gia đình giàu nhất ở chợ
Cần Thơ. Ngoài ra, từ trường trung học cho đến sông Cái Khế, trọn một
khu gia cư dọc theo đại lộ Phan Thanh Giản gồm có cả trăm gia đình mà
chỉ có nhà ông giáo Chưởng, thầy dạy tôi lớp vỡ lòng tại trường tiểu
học tỉnh lỵ, là có một cái máy phát thanh duy nhất. Chiều chủ nhật nào,
Lộ Mới cũng đông nghẹt nơi đây vì lối xóm ngồi chiếm nửa mặt lộ trước
nhà ông giáo này để nghe Huyền Vũ tường thuật các trận túc cầu quốc tế
ở Sài Gòn.
Anh cả của tôi dạy học, lương khoảng 100 đồng bạc
Đông Dương. Một người anh khác làm thợ máy cho Công Chánh, lương khoảng
70 đồng. Từng ấy lợi tức giúp má tôi nuôi một gia đình gồm má tôi và 8
anh em. Cho đến khi học năm thứ ba trung học, tôi vẫn còn mặc bà ba và
mang guốc cây để đi học như 90 phần trăm bạn bè cùng trường. Một vài
học sinh giàu mới mua sắm được “sơ mi” và quần tây ngắn. Ngay cả giáo
sư trung học và các công chức cũng đều mặc quần ngắn, lý do là vì hằng
4, 5 năm kể từ ngày thế chiến bùng nổ, không có nhập cảng hàng vải được
nữa. Công tư chức mới mua được một chiếc xe đạp để đi làm và dùng cho
mọi cuộc di chuyển khác sau giờ làm việc hoặc cuối tuần. Trong lớp học
của tôi chỉ có một học sinh duy nhất là anh Lê Đình Thêm, em vợ kỹ sư
Phan Khắc Sửu (sau cuộc Cách Mạng và Chỉnh Lý, đảm nhận vai trò Quốc
Trưởng Việt Nam), mới có xe đạp. Toàn dân mang guốc cuốc bộ. Cho đến
đường cát, sữa đặc và diêm quẹt cũng phải đến Quận Châu Thành hoặc Tòa
Hành Chánh Tỉnh xin phiếu mua dùng. Nêu lên một vài cảnh sinh hoạt kinh
tế tại tỉnh lỵ mỹ miều Cần Thơ để biết mức độ nghèo khổ của quê hương
yêu dấu trước 1945.
Tại tỉnh lỵ thì còn thấy người dân ăn no mặc
ấm. Nhưng khi đi sâu vào nông thôn như tôi năm nào cũng sống hai tháng
hè tại quê nội, là nơi mà 90 phần trăm dân ta sinh sống, thì cảnh nghèo
khó biến thành bần cùng. Đa số nhân dân ăn mặc rách rưới. Vì không có
vải nhập cảng nên đã bắt đầu thấy “vải ta” xuất hiện, mình vải hết sức
thô vì được dệt bằng bông vải nội địa và dệt bằng tay theo lối tiểu
công nghệ. Nhiều gia đình nghèo không mua nổi vải, phải may quần áo
bằng bố tời (loại bao bố chỉ gai màu xám lợt để làm bao đựng lúa hoặc
đựng gạo). Chính mắt tôi chứng kiến nhiều gia đình nghèo đến nỗi chỉ
mua sắm được có một bộ quần áo, dù là bằng bố tời. Khi có việc phải ra
khỏi nhà thì vợ hoặc chồng mới dùng đến bộ quần áo duy nhất đó. Ở thôn
quê chí rận nhiều, vì vừa nghèo vừa thiếu điều kiện vệ sinh. Cho nên
trước khi mặc quần áo bằng bố thì phải trải trên mặt phản và lấy ve
chai loại 1 lít, đè thật mạnh và lăn qua lăn lại để giết chí rận, đè
nát lên bọn chúng, tiếng nghe “răng rắc”.
Đó là thực tế đời sống
ở miền Nam trước khi thế chiến II chấm dứt. Những mỹ từ thường được
dùng như “Hòn Ngọc Viễn Đông” để ám chỉ Sài Gòn, bao lơn Thái Bình
Dương khi nói đến Việt Nam, và “Tây Đô bên bờ sông Hậu” cũng chỉ nhằm
an ủi niềm đau khổ thấp hèn của người dân thuộc địa mà thôi. Có lẽ độc
giả thắc mắc tại sao ai cũng nói miền Nam Việt Nam, nhất là miền Tây là
một vùng giàu có nhất trong nước, thế mà tại sao tôi lại mô tả đen tối
đến thế.
Miền Tây Việt Nam còn được gọi là Hậu Giang chỉ có lúa
ruộng. Phần lớn đất đai do người Pháp khai khẩn, như tại Cần Thơ có một
số đồn điền người Pháp canh tác ruộng lúa tại những vùng Thới Lai, Cờ
Đỏ và miệt kinh xáng như Kinh Bảy Ngàn. Nếu không ở trong tay của Pháp
thì cũng ở trong tay của Hoa Kiều vốn dĩ có nhiều vốn liếng lại còn
được hưởng đặc quyền đặc lợi thụ đắc qua các hiệp ước ký kết với Triều
Thanh trong tinh thần Pháp Hoa lưỡng lợi, chia sẽ miếng mồi thuộc địa.
Có một số chủ điền Việt Nam có từ năm, mười cho đến vài trăm mẫu ruộng
do hai ba đời cần cù làm lụng tiết kiệm để tậu mãi. Còn lại đa số là
tiểu điền chủ có từ một vài sào cho đến một hai mẫu ruộng là cùng. Gặt
hái xong được vài chục hoặc vài trăm giạ lúa, một số để dành làm giống
cho mùa sau, còn lại để ăn trong năm, thiếu trước hụt sau. Đại đa số
người dân trong xã không có ruộng phải xin thuê ruộng để canh tác, được
gọi là tá điền, lại còn nghèo hơn tiểu điền chủ hai ba bậc. Trong đại
đa số này có một số khá đông không thuê được ruộng thì đi làm công cho
chủ điền, từ công việc cày bừa, gieo cấy cho đến khi gặt hái, được trả
“lương chết đói” bằng hiện vật là lúa.
Đừng đánh giá Hậu Giang
giàu sang khi nhìn thấy một số đại điền chủ người Việt hoặc Minh Hương
(Việt lai Tàu) sinh sống thảnh thơi hoặc khi đọc truyện các công tử Bạc
Liêu phung phí tài sản trong đó có Cậu Ba Qui con của một đại điền chủ
giàu khét tiếng miền Tây, mỗi cuối tuần tự lái máy bay riêng lên Sài
Gòn khiêu vũ trác táng với gái “hạng sang” tột bực, đến chiều thứ hai
mới lái về nhà. Do đó, mỗi chiều thứ hai, trẻ con chúng tôi ở Lộ Mới
thường tụ tập để đón xem máy bay của “Cậu Ba” bay ngang tỉnh lỵ, trên
đường về Bạc Liêu.
Vựa Lúa Miền Nam
Chỉ tại vùng đồng
bằng Cửu Long ở Miền Tây là câu tục ngữ “trời sinh voi sinh cỏ” có ý
nghĩa nhất. Đừng có lo. Đến mùa mưa lúa lớn mạnh như thổi cùng với tôm
cá sinh sản tràn đồng. Kịp đến ruộng khô không còn tôm cá nữa thì đến
mùa lúa chín, là mùa chim và chuột ăn lúa chín mập tròn. Còn rắn thì
nhờ bắt được nhiều chuột hơn trước nên cũng to béo hẳn lên. Chim thì
“rô-ti”, rắn thì nấu cháo đậu xanh. Thịt chim hay rắn đều có thể bầm
nhỏ xào củ hành xúc bánh tráng, lớn nhỏ đều ưa thích. Chuột thì thui
rồi lột da, vứt bỏ đồ lòng, giữ lại mỡ sa để thắng thành dầu thắp đèn
ban đêm. Thân chuột banh ra mập trắng như heo sữa bày bán ở các sạp
thịt nhà lồng chợ. Món anh em tôi thích nhất là chuột ướp sả ớt, kẹp
nướng than hồng, ăn với cơm trắng và nước mắm tỏi ớt. Tuy nhiên, trong
các tháng nước kém, cạn lòi lòng sông, cá tôm hoàn toàn biến mất. Chuột
rắn cũng không còn. Nhiều hôm không tìm được gì thì lấy nước mắm kho
sệt lại để ăn với rau luộc. Có sống ở nông thôn mới biết nước mình
nghèo. Có chia sẻ cọng rau hột muối với nông dân mới thương dân mình
nghèo, dân mình đói.
Nguồn: Internet