Bờ sông Cần Thơ khi xưa vẫn thường dập dìu khách lãng du. Những đêm
trăng, trên sông vang ngân tiếng hò đối đáp của khách thương hồ, tiếng
đàn hát của khách cầm ca. Do đó, tương truyền khi chúa Nguyễn Ánh náo
mình ở Cần Thơ, đặt tên cho con sông là “Cầm Thi” giang nghĩa là con
sông của thi ca đàn hát. Lâu ngày gọi trại đi, hai chữ “Cầm Thi” biến
thành “Cần Thơ”.
Lúc bấy giờ bến sông Cần Thơ vẫn chưa được bàn tay
người đời tô điểm. Những hàng cây dương, cây sao đua nhau soi bóng dưới
lòng sông gợi cảnh hữu tình đầy thơ mộng.
Mỗi buổi chiều về, các cụ
bô lão đầu chít khăn điều, tay chống gậy ung dung nhẹ bước tiến theo bờ
sông ngắm cảnh. Các cô thôn nữ ngây thơ duyên dáng, mặc áo trắng quần
lãnh đen, bới tóc thả vòng bánh lái cũng góp mặt nơi đây. Cảnh trí hữu
tình quyến rũ biết bao thi nhân mặc khách.
Chiều lộng gió, từng đàn cò trắng chíu chít kêu vang tụ họp chập chờn đáp xuống trên những ngọn cây ngập trắng.
Vầng dương vừa khuất bóng. Cảnh hoàng hôn buông xuống khắp cả núi sông,
gợi bao tâm tình kỷ niệm, hồi tưởng qua những mẩu chuyện xa xưa mà nhớ
đến tiền nhân đã dày công gian khổ xây đắp bến Cần Thơ, trồng từng gốc
cây, lấp những hầm hố sình lầy, tuy không mỹ quan nhưng đó là hình ảnh
lưu dấu muôn đời gắn vào lòng dân đất Trấn Giang cần nhớ đến…
Sau
thời gian quân Pháp đến chiếm Trấn Giang của Nam triều, lập Tòa Bố tại
Cần Thơ do đại úy Nicolai làm chánh tham biện từ 1876 liên tục các trào
Tham biện khác Villard, kế Nicolai trở lại lần thứ hai, Lebrun
Boquillon nối tiếp v.v… Từ đấy Châu Thành được mở rộng, các công sở
dinh thự dựng lên, bến Cần Thơ được chỉnh trang cẩn đá xây gạch theo
chỗ cũ để ngăn song thủy triều dọc theo bờ sông, để làm thành cái bến.
Thông thường chỉ là bến ghe, bến tàu lục tỉnh, vì các tàu bè chạy khắp
miền Hậu giang đều ghé bến ở đây mà chuyển vận hàng hóa, đưa rước khánh.
Đồng bào địa phương thường nhóm họp mua bán theo bờ sông rất phồn thịnh kêu là bến Hàng Dương.
Do đó bến này được mang tên là Quai deCommerce.
Với hình ảnh bến Cần Thơ khi xưa chúng tôi sưu tầm được, đem ra đối
chiếu với cảnh năm 1966, tuy có vẻ mỹ quan lộng lẫy, nhưng sánh ra đâu
bằng cảnh trầm lặng với bộ mặt khiêm tốn của thời xa xưa.
Mặc dù cảnh cũ đã lui về quá khứ, nhưng hình ảnh ấy đã gợi cho những ai
có tinh thần tồn cổ, hoài bão quê hương mến yêu non nước, hình bóng
không khỏi ngậm ngùi luyến tiếc, muốn tìm lại bến Cần Thơ khi xưa đâu
còn nữa?
Bến Ninh Kiều năm 1966 Khoảng
năm 1954, xóa bỏ hết tàn tích thực dân, triệt hạ những cây sao bóng
mát, tấm bảng mang tên Quai de Commerce đổi lại là bến Lê Lợi. Rồi dần
dần chỉnh trang thành phố, sửa đổi bộ mặt bến sông.
Trước kia,
xuồng ghe thương hồ đậu tấp nập dài suốt bến, tạo thành bến chợ hơn là
bến dạo mát. Chính quyền bèn dành riêng một khoảng bến, sắp đặt phong
quang mỹ thuật, làm nơi du khách thỏa tình hứng gió, ngắm cảnh. Bề rộng
14 thước, dài 440 thước, một đầu là chợ Cần Thơ, thêm một vườn chơi trẻ
em xinh xắn nằm gần bên.
Ngày 4 tháng 8 năm 1958, làm lễ khánh thành, đặt tên là bến Ninh Kiều.

Một góc Ninh Kiều xưa
Vì con đường nằm dọc theo bến mang tên là Lê Lợi, nên đặt tên bến là
“Ninh Kiều” để kỷ niệm công một chiến tích oai hung của Bắc Bình Vương
Lê Lợi tại bến Ninh Kiều, ở đất Bắc thuở xưa. Trận đánh ở bến Ninh
Kiều, Tụy Động, Lê Lợi đã khiến quân Minh kinh hoàng khiếp phục:
“Tụy Động thây phơi đầy đất
Ninh Kiều máu chảy thành sông”
Mang tên kỷ niệm một chiến tích oai hung cũng như những tên Bạch Đằng,
Chương Dương, Hàm Tử, nhưng bến Ninh Kiều có sắc thái riêng, vẻ đẹp
riêng. Những tảng đá xanh cấu kết tạo thành bờ sông kiên cố. Những cây
chà là với các tàu lá nhô ra như ngọn mấy cây dừa kiểng. Lá cây màu
vàng, sắc quý phái, trang điểm cho nét đẹp về chiều. Dọc bến có chừa
một lề đường cho du khách thả rong theo bờ sông nhìn nước Hậu Giang in
bóng trăng rằm trong mát. Một hàng băng đá để du khách nghỉ chân, mắt
hướng về phía bên kia sông: Xóm Chài le lói ánh đèn dầu yên tĩnh và
bình thản, xa hơn, cù lao Bần lờ mờ trong màn đêm.
Có những con đò
đưa rước khách qua sông hoặc chiều lòng khách thả trôi thuyền trên dòng
nước để nhìn lên thành phố rực ánh đèn. Ngồi nơi băng đá, những ánh đèn
tròn gắn trên đầu trụ đứng, tỏa ánh sang mông lung.
Công viên xanh
rì thảm cỏ, những lối đi tráng nhựa, với nền xi măng len lỏi vào sân cỏ
trông đẹp mắt. Mỗi một cây kiểng có tàng “kỹ thuật” (cắt, uốn cẩn thận)
vòng tròn thật lớn, cao và rợp bóng mát; xung quan có con đường tròn
với ba lối đi để vào tìm bốn chiếc băng đặt đấu lưng nhau. Vào những
buổi chiều, du khách tha hồ vào đây nghỉ ngơi. Thêm một hàng cây dương
giống loại cây tùng, thẳng đứng, xếp thành đường thẳng dọc theo lề
đường bến Ninh Kiều như trơ gan cùng mưa nắng.
Ban ngày, bến Ninh
Kiều là nơi hành nghề của những nhà nhiếp ảnh. Du khách sẽ bắt gặp biết
bao nhiêu kiểu ảnh mới xinh đẹp của bến Ninh Kiều với hình dáng của du
khách, trên bảng treo quảng cáo của các nhiếp ảnh viên Văn Mười, Văn
Kỉnh, Hoàng Xuân Sít v.v…
Về đêm, từng đàn em bé gái, bé
trai đội từ sề mía, rổ đậu mời mọc du khách. Ở đây du khách sẽ nếm được
chất ngọt ngào của mía Cần Thơ, mùi thơm của đậu phộng rang nóng bỏng.
Phía đầu chợ, còn có những quán nước, xe trái cây, quẩy chè, gánh hột
vịt lộn, xe mì, cháo, hàng đồ nhậu mọc lên như nấm. Bãi đất trống bên
sông bấy giờ biến thành một khu chợ lộ thiên, chói chan bóng đèn ngũ
sắc như sao sa. Người mua kẻ bán ồn ào.
(Trích Cần Thơ Xưa - Huỳnh Minh - 1966)