Language

Chuyện Hay Ý Đẹp

Một Cái Chết

posted Sep 15, 2011 5:11 PM by Mục sư Huỳnh Thiên Trung   [ updated Sep 15, 2011 5:13 PM ]

Một Cái Chết

Có thể nói chết là một trong những điều kinh khủng nhất trên đời sống của con người. Dù rằng, có một số người không biết sợ chết là gì! Nhưng khi cái chết đụng đến người thân yêu và gia đình thì cá nhân người đó ngay lập tức cảm nhận được bàn tay kinh khiếp của tử thần. Có những người run sợ trước cái chết, bất an khi nghĩ đến cái chết cũng có những người không muốn chết nhưng sự chết vẫn đến. Khi thần chết gõ cửa thì ai cũng đành bó tay, sự chết thật kinh khiếp và không miễn trừ một ai.

Dĩ nhiên ai trong chúng ta cũng biết đời người ngắn ngủi và phù du. Ai cũng biết sự sống con người giống như hạt sương mong manh. Biết thì biết như vậy, nhưng nếu chưa cảm nhận được cái kinh khiếp của sự chết thì khó có thể nhìn vào vấn đề niềm tin cách nghiêm chỉnh. Điều kinh khủng nhất của sự chết là ngăn cách. Cái chết đem lại một khoảng cách vô cùng rộng lớn giữa người đi và kẻ ở. Nếu người đi và kẻ ở, người chết và người sống là hai người thân yêu thì cái mất mát đó thật vô cùng to lớn. Tại sao? Bởi vì họ sẽ không bao giờ gặp được nhau trên đời sống dương trần này nữa.

Động đất và sóng thần tại Nhật Bản đã ghi lại trên khắp mọi trang báo về những câu chuyện đầy thương tâm. Những cái chết trong bàng hoàng ngay trước mắt của người thân yêu, dù họ tìm đủ mọi cách để cứu giúp. Có những người chồng, người vợ, người mẹ, người cha nắm được bàn tay của người thân yêu mình, nhưng đành bất lực trước sức mạnh cuồn nộ của thiên nhiên.

Những hình ảnh thương tâm xuất hiện khắp nơi, những người dân đói khổ tự bọc mình trong những tấm vải hy vọng giữ thêm chút nhiệt trong cái lạnh cắt da. Một trong những hình ảnh cảm động nhất là một người phụ nữ quỳ xụp xuống khi tìm thấy đôi tay của người mẹ quá cố nằm giữa đống đổ nát. Bà Yoshie Murakami đã òa khóc và nói lời từ biệt mẹ lần cuối trong khi nắm đôi tay của mẹ sau 5 ngày tìm kiếm tại thành phố Rikuzentakata bị sóng thần tấn công. Giờ đây bà đang cầu nguyện cho đứa con gái 23 tuổi của mình vẫn còn sống ở đâu đó.

Quý vị suy nghĩ gì trước những tin tức dồn dập nầy? Có thể nói, bất ngờ là một trong những yếu tố khiến người ta không chạy tránh được thiên tai nầy. Dù là một xứ thường có động đất nhưng động đất và sóng thần đã xảy ra lúc không ngờ và hàng chục ngàn người đã mất tích hay thiệt mạng. Cùng với bất ngờ trong động đất và sóng thần ở Nhật Bản, chúng ta thấy sức mạnh kinh hồn của thiên nhiên. Những ngọn sóng thần tràn vào bờ chỉ từ từ thôi nhưng có sức tàn phá khủng khiếp: Từ những chiếc tàu đánh cá, đến những toa xe lửa, đến cả những khu dân cư đông đúc. Các nhà khoa học cho biết trận động đất vừa qua đã đẩy Nhật Bản 13 feet về phía Đông và khiến cho trục địa cầu bị xê dịch 6 inches 5 do đó các ngày trên địa cầu bị thu ngắn lại 1,6 của một phần triệu của một giây đồng hồ. Chỉ một trận địa chấn mà ảnh hưởng lớn như vậy thì chúng ta biết sức mạnh của thiên nhiên kinh khủng như thế nào.

Người ta thường nói đến thiên nhiên như một lực vô hình nào đó nhưng thật sự tất cả quyền năng và sức mạnh đều ở trong tay Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, là Đấng đã tạo dựng nên vũ trụ vạn vật nầy và chúng ta là tạo vật của Ngài. Kinh Thánh nói về Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa như sau: Ai đã lấy lòng bàn tay mình mà lường biển cả, lấy gang tay mà đo các tầng trời? Ai đã lấy đấu mà đong bụi đất? Ai đã dùng cân mà cân núi và dùng cân bàn mà cân đồi? Kìa, các nước giống như một giọt nước nhỏ trong thùng, giống như là một hạt bụi rơi trên cân. Nầy, Thiên Chúa nhấc các hải đảo lên như nhấc một vật nhỏ (Ê-sai 40:12, 15).

Có thể nói, mỗi cái chết là niềm đau nhói tim cho một ai đó còn sống, nhưng có một cái chết thoạt đầu là một chấn động cho một nhóm thiểu số, sau đó đã trở thành một sức sống bừng lên, ấn sâu vào dòng chảy lịch sử của nhân loại. Tôi muốn nói đến cái chết của Chúa Giê su. Ngài đã chết đền tội một lần đủ cả cho nhân loại, cái chết của Chúa Giê su đã làm rúng động cả lòng người, trở thành nguồn cảm tác cho hàng vạn, hàng vạn nhạc sĩ, cái chết của Chúa Giê su đã trở nên một tiếng vọng để gọi mời con người trở về trong sám hối và ăn năn.

Trước những biến động của thế giới, của vũ trụ, người ta kêu gọi và nhắc bảo nhau rằng hãy trở về với thiên nhiên. Thật ra, nếu không trở về với Thiên Chúa, nếu không trở về với Đấng Tạo Hóa thì mọi trở về đều trở thành vô nghĩa.

Trong tinh thần đó, hãy trở về với Thiên Chúa, suy niệm về cái chết của Đấng Cứu Thế và trở về trong sám hối ăn năn để lãnh nhận ơn thứ tha vô tận của Ngài.

Mục sư Huỳnh Thiên Trung

Độc Đoán Là Tự Hủy

posted Sep 15, 2011 5:10 PM by Mục sư Huỳnh Thiên Trung

Độc Đoán Là Tự Hủy

Trong lúc cả thế giới đang bước sang một kỷ nguyên mới của thịnh vượng, của văn minh thì người Ai Cập phải gồng mình chịu bao khổ đau vì chế độ độc tài của Mubarak. Và rồi chuyện gì  đến cũng phải đến. Một quy luật chung không ai phủ nhận được đó là: Độc đoán là tự hủy và điều đó đã và đang xảy ra ngay trên đất nước Ai Cập.

Người dân Ai Câp sau gần một tháng trời tranh đấu và trước sức mạnh của quần chúng chế độ độc tài của Mubarak hoàn toàn bị xụp đổ. Thứ Bảy vừa rồi, người dân Ai Cập bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của dân chủ. Tất cả mọi người nhất trí ở một điểm: Để tiến về phía trước, quốc gia này phải thu hồi phần lớn tài sản mà Hosni Mubarak, vị Tổng Thống vừa bị họ lật đổ, cùng với tay chân và thuộc hạ của vị tổng thổng này trong suốt thời gian gần ba thập niên cầm  quyền.

Có đến hàng chục ngàn người đổ dồn về Quảng trường Tahrir hôm thứ Bảy để ăn mừng chiến thắng nhấn mạnh rằng việc xử lý số phận của Mubarak sẽ quyết định tương lai của cuộc thay đổi nay, cũng như khả năng chữa lành các vết thương còn đang nhỏ máu sau nhiều thập niên cai trị độc đoán và tham nhũng.

Sự giàu có của Mubarak, gia đình và các đồng minh chính trị của ông từ lâu đã là nguồn gốc của sự bất bình trong một đất nước với tỷ lệ thất nghiệp cao, nghèo đói lớn, giá cả tăng vọt và nhận thức chung rằng chỉ có những ai có quan hệ mạnh mẽ với Mubarak và đảng cầm quyền của ông mới có thể thành công về tài chính. Lãnh đạo đối lập Ai Cập đang thề sẽ thúc đẩy một cuộc điều tra đầy đủ vào các giao dịch tài chính của Mubarak.

Theo 7 News cho biết rằng tài sản của ông Mubarak- cựu tổng thống của Ai Cập lên đến khoảng 70 tỷ USD và Mubarak là người giàu nhất hành tinh này. Các nhà phân tích Trung Đông và báo chí Ả Rập nói rằng Mubarak và gia đình giữ phần lớn tài sản dưới dạng bất động sản, kéo dài từ bờ biển Biển Đỏ của Ai Cập tới London, Los Angeles và New York, và trong các tài khoản ngân hàng Thụy Sĩ và nước ngoài.

Các nhà phân tích nói, gia đình Mubarak có thể đã hưởng lợi từ nhiều phi vụ kinh doanh giữa chính quyền với các công ty và nhà đầu tư nước ngoài khi ông còn đang làm tổng thống, hoặc thậm chí từ khi ông còn là một quan chức quân sự cấp cao. Nhưng Mubarak đã dính dáng đến mọi vấn đề của Ai Cập từ quá lâu, qua nhiều thế hệ, nên rất khó để xác định cái gì ông ta đã đạt được thông qua nhà nước và cái gì ông đã đạt được với tư cách cá nhân.

Các hoạt động tài chính bất hợp pháp và sự tham nhũng của chính phủ đã hút hơn 6 tỷ USD từ ngân quỹ của Ai Cập mỗi năm, theo Karly Curcio, một nhà kinh tế tại Global Financial Integrity, một tổ chức phi lợi nhuận theo dõi dòng chảy tài chính bất hợp pháp. Từ năm 2000 đến năm 2008, Ai Cập bị mất 57,2 tỷ USD. Nhiều người Ai Cập kiếm được khoảng 2 USD một ngày.

Ngày 12 tháng Hai năm 2011, bộ ngoại giao Thụy Sĩ đã cho báo giới biết rằng chính phủ Thụy Sĩ đã phong tỏa tài khoản của Mubarak cùng gia đình, cũng như của một số nhân vật nổi tiếng người Ai Cập, bao gồm cả một số bộ trưởng trong chính phủ cũ.

Theo dòng lịch sử cận và hiện đại, một quy luật chung mà ai trong chúng ta cũng đều thấy rõ đó là: Độc Tài, tham nhũng là đường dẫn đến sự đào thải. Nếu không dẫn đến từ chính thể chế đó thì cũng bị sức mạnh của quần chúng lật đổ mà thôi. Sự giàu có của cựu tổng thổng Ai Cập Hosni Mubarak đến từ những phi vụ làm ăn bất chánh, từ tham nhũng và là nguyên nhân dẫn đến sự nghèo đói cho dân lành. Tất cả, rồi cũng bị phanh phui trước ánh sáng công lý và bị chính bánh xe lịch sử nước này nghiền nát và đào thải. Thế mới biết rằng: Sự giàu có từ chính trí tuệ của những việc làm chánh đáng, là sự tích lũy của lao động chân chính mới có thể tồn tại dài lâu và mới có thể giúp ích cho tha nhân.

Mục sư Huỳnh Thiên Trung

Lạc Quan Hướng Về Tương Lai

posted Sep 15, 2011 5:09 PM by Mục sư Huỳnh Thiên Trung   [ updated Sep 15, 2011 5:17 PM ]

Lạc Quan Hướng Về Tương Lai

Thời gian trôi qua thật nhanh mới đó mà đã hết một năm âm lịch rồi. Nhìn lại một năm qua với không biết bao nhiêu dấu hiệu của thời triệu cùng với những chuyển luân vô thường của kiếp người.

Có thể nói, một năm qua nhân loại đã gặt hái được rất nhiều thành công trên chính trường lẫn thương trường thế giới. Nhưng bên cạnh những thành công đó không ai có thể phủ nhận rằng: Bóng tối là kẻ đáng sợ của đời người vẫn là màn u minh giăng kín dày đặc, che khuất chân thiện mỹ trong tâm của con người. Cái bóng tối đáng sợ đó đã choán chổ ánh sáng văn minh của trí tuệ. Để rồi trong mong manh của sương đêm, vời vời của đêm thâu, chập chờn trong mỗi giấc ngủ là những niềm đau khôn tận của kiếp người trần thế.

Chiến tranh tuy có kẻ thắng người bại nhưng đã lấy đi biết bao nhiêu sinh mạng của đôi bên. Trong cuộc chiến chống khủng bố, dù muốn dù không hầu như tất cả thế giới đều bị cuốn vào cuộc chiến này. Thế giới đã hao tốn không biết nhiêu tỉ đô la cho việc tăng cường trang thiết bị cho hệ thống an ninh công cộng. Tuy nhiên, tình trạng bất ổn vẫn là những hồi chuông không ngừng vang lên trên xứ trời tự do. Tại Trung Đông, máu vẫn đổ từng ngày vì nạn ôm bom tự sát của những người Hồi Giáo quá khích. Tại Liên Xô, phi trường được cho là an ninh nhất của nước này cũng bị rung lên vì bom nổ, có thể nói không nơi đâu trên trần thế này là an toàn hết cả.

Trong những ngày đầu năm  2011 khi mà hàng tỉ người đang chuẩn bị đón mừng năm mới, thì "đại hồng thủy" lại bất ngờ đổ xuống trên người dân tại Brisbane. Lũ lụt đã tràn làn khắp nước Úc, làm thiệt hại người và của, mức độ thiệt hại lên đến hàng tỉ tỉ đô la. Tại Ai Cập thì hệ thống chính quyền rung lên vì làn sóng phẩn nộ của dân chúng. Chính phủ phải huy động cả quân đội để bảo vệ, trong khi đó thì người dân phải sơ tán đến nơi an toàn. Có thể nói, bóng đêm tang tóc như phủ chụp lên cả bầu trời thế giới.

Nhìn lại viễn cảnh trong năm qua cùng với bao king hoàng có người đã nghĩ rằng, "Đời là một chuyến tàu đêm cưu mang những toa xe nặng nề chất chứa những muộn phiền, băng mình đi trong bóng đêm dày đặc không hướng định", và cũng có nhiều người khi thấy những thiên tai tàn khốc xãy đến cho những người xung quanh, hoặc đang đứng trước ngỏ cụt bi ai của cuộc đời thì nhận xét cách bi quan rằng, "Loài người sinh ra để phải chịu khổ đau và chết trong nhọc nhằn".

Dưới cái nhìn của người theo chân Chúa Giê su, thế gian chỉ là quán trọ qua đêm và mỗi người theo chân Ngài như là những khách lữ hành. Khi đặt chân trên con đường lữ hành đó, Chúa muốn con người mặc lấy thái độ tự tin và lạc quan. Thật ra, ngay trong cuộc sống thường nhật lạc quan là yếu tố rất quan trọng để dẫn đến một cuộc đời thành công. Có tin tưởng nơi chính mình thì con người mới dám đương đầu với thực tại và hướng đến một tương lai tươi sáng. Dù đời có bạc như vôi, nhưng có tin vào cuộc đời thì ta mới hòa vào dòng chảy chung của nhân loại. Đành rằng cũng sẽ có thất bại, cũng sẽ phải đối mặt với trăm ngàn thách thức nhưng người có tinh thần lạc quan sẽ không chồn chân, nản lòng hay bỏ cuộc.

Trong lãnh vực đời sống đức tin, yếu tố lạc quan là một trong những đặc tánh khá quan trọng. Người tin theo Chúa có thể lạc quan tự tại trước những thử thách là bởi vì người đó luôn đặt tất cả tin tưởng vào chính Thiên Chúa. Càng tin tưởng vào sự quang phòng, định đặt của Thiên Chúa con người sẽ không bao giờ thất vọng về những gì đang xãy ra xung quanh và cũng không bao giờ thất vọng về chính mình hay người khác. Nền tảng để chúng ta kiến dựng sự lạc quan cho chính mình là Thiên Chúa. Ngài là tình yêu, tình yêu của Ngài vượt trên mọi toan tính hơn thiệt của hẹp hòi ích kỷ. Khi được thông ban nhân tố ái & mến của Ngài, ánh nhìn của chúng ta sẽ tràn ngập ý niệm tin yêu và hy vọng.

Đành rằng đời cũng là một hành trình đầy tranh đấu chông gai để sinh tồn, và dĩ nhiên không ai trong chúng ta có thể chối bỏ thực tại của khổ đau, chết chóc. Nhưng chúng ta được chắp cánh vào đời và được chính Thiên Chúa mời gọi để không nhìn vào đời như tiếng nói đoạn tuyệt cuối cùng của ngõ cụt. Bỡi vì vinh quang của Thiên Chúa sẽ được tỏ bày khi con người được tồn tại trong sự sinh động. Vì vậy, từng mỗi hướng đến của lịch sử nhân loại không phải là ngõ cùng hay là sự chết, mà là sự sống. Với cái nhìn trong đức tin nơi lời hứa của Chúa, người Tín Hữu luôn ý thức được rằng, bên kia bến bờ của khổ đau, tang tóc, cuộc sống vẫn muôn vàn ý nghĩa để ta đáng sống và hướng đến trong tinh thần lạc quan.

Bước vào năm mới với cái nhìn lạc quan hơn trong năm qua, vì vậy ngay trong những ngày đầu năm, xin hãy ném xa những lo lắng thoái hóa để nhìn đời bằng đôi mắt lạc quan. Vì lo lắng như nước: Nó bắt đầu chỉ là một thoáng nghi ngờ nho nhỏ sẽ thấm vào tư tưởng của chúng ta. Nếu những ý tưởng nghi ngờ đó không được dừng lại, chẳng bao lâu sau sẽ trở thành dòng sông của sự sợ hãi. Sự sợ hãi sẽ tạo nên những ao tù của tư tưởng bi quan yếm thế và hàng cuộc, hậu qủa là dẫn đến những triệu chứng căng thẳng và phát triển thành chứng bệnh tâm thần. Lo lắng là đức tin của kẻ bi quan, là sự tin cậy vào những điều không thú vị, những bảo đảm không căn cứ trước những thiên tai. Lo lắng là niềm tin trong tinh thần chiến bại. Lo lắng như cục nam châm cuốn hút những hoàn cảnh bi quan, tiêu cực. Để những lo lắng phủ đầy là chúng ta đang tự đào mồ chôn sống chính mình. Còn môi trường để cho lo lắng phát triển là chiếm hết chỗ cho những cơ hội của ngày mai. Lo lắng sẽ khiến những cảm giác của những khó khăn thất bại của ngày hôm qua làm tê liệt nhiệt huyết vươn lên của ngày hôm nay. Vì vậy, mỗi người Việt Nam chúng ta hãy ngẫn cao đầu cùng với niềm tự hào dân tộc để hướng đến một cuộc hành hương ở ngày mai, và cùng góp phần kiến xây một xã hội tự do, công bằng, bác ái và nhân bản.

 

Thay mặt cho Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Adelaide tại 16-18 Warwick St, Enfield tôi kính chúc quý đồng hương Việt Nam và bạn đọc trong mục "Góc Cạnh Tâm Linh" một năm mới Tân Mão thật an vui, hạnh phúc và viên mãn.

Mục sư Huỳnh Thiên Trung

MỐC DẤU .....................................CỦA THỜI GIAN

posted Sep 15, 2011 5:07 PM by Mục sư Huỳnh Thiên Trung

MỐC DẤU ..............................................

.............CỦA THỜI GIAN

Vào mỗi cuối năm, hoặc vào thời điểm khởi đầu của một năm mới, hay khai mở một thập niên, một thế kỷ các tạp chí lớn hay các đài truyền hình nổi tiếng thường có những bình chọn một người nổi bật trong các thời điểm trên, nhằm đánh dấu những mốc điểm quan trọng của dòng chảy thời gian trong lịch sử  nhân loại.

Dĩ nhiên người nổi bật trong năm hay trong một thập niên hoặc thế kỷ thì không nhất thiết phải là đàn ông, mà ngay cả phái yếu cũng được bình chọn vào danh dự cao quý ấy. Vì trong sự vinh danh không có phân biệt màu da, sắc áo hay chủng tộc, điều này nói lên tính công bằng trong hành xử của việc bình chọn những nhân tài thuộc nhiều lĩnh vực trong thế giới con người. Cách đây vài năm tại nước Úc, nơi có hơn 100 ngàn người Việt Nam cư ngụ, một thiếu nữ Việt Nam tay yếu chân mềm đã được bình chọn là người trong năm.Vài năm trước, một thanh niên trẻ người Việt đã được đài truyền hình lớn tại Mỹ bình chọn là người khôi hài nhất nước Mỹ. Hiện tại trong chánh quyền Barack Obama và các chính quyền khác trên thế giới có nhiều người Việt Nam nắm giữ những vai trò khá quan trọng, trong đó có đàn ông, đàn bà thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Đây cũng là niềm hãnh diện chung của người Việt Nam chúng ta ở khắp mọi nơi trên thế giới. Đồng thời, chính những nét chấm phá đẹp này cũng là những mốc điểm quan trọng của cộng đồng người Việt, đánh dấu những ngày tháng lưu vong thành công.

Có thể nói, họ là những gương mặt đáng để chúng ta tự hào về giống nòi và dân tộc. Vì vậy, chúng ta là những người Việt Nam lưu vong có thể ngẩn cao đầu với thế giới, và chứng tỏ cho các bạn hữu thế giới biết rằng: Chúng ta đến đây không phải là những người ăn bám, lệ thuộc về hệ thống phúc lợi xã hội, nhưng chúng ta là những người có thiện ý góp một bàn tay, cùng xây dựng một xã hội bình đẳng, một cộng đồng đẹp và an vui, để cùng hướng đến một tương lai tốt đẹp trong vòng tay lớn của hiệp thông và kết nối.

Trong những bình chọn những nhân vật nổi tiếng của thế giới, có những người xây dựng hòa bình như Mahatma Gandhi người đã lãnh đạo cuộc tranh đấu dành độc lập cho Ấn Độ mà không hề dùng đến khí giới như gươm giáo hay súng đạn của bạo động và hận thù. Ở con người khô gày ấy đã thốt lên những câu nói làm rúng động lòng người và mãi còn đậm ghi trong lịch sử Ấn Độ. Một trong những câu nói của người mà mỗi người dân Ấn Độ nào đều biết đó là, "Tình yêu là sức mạnh khiêm tốn nhất, nhưng cũng là sức mạnh vạn năng mà thế giới đang có".

Mục Sư người Mỹ da đen là Martin Luther King, người đã đi khắp các hè phố để diễn thuyết về niềm mơ ước của chính mình rằng: "Một ngày không xa, xã hội Mỹ sẽ không còn nạn kỳ thị chủng tộc, sẽ có một ngày người da trắng, da đen cùng đi chung một con phố, cùng đứng chung dưới một màu cờ sắc áo trong thế giới đại đồng". Ông đã không hề mỏi mệt trong cuộc tranh đấu chống lại chính sách kỳ thị chủng tộc và ông đã không ngần ngại chia sẽ niềm mơ ước mình cho mọi giới. Có thể nói Mục Sư Martin Luther King là cha đẻ của chính sách đối xử bình đẳng, không phân biệt màu da ngôn ngữ hay văn hóa. Ông đã sống và chết cho tinh thần đó, và chẳng bao lâu sau khi ông qua đời thì niềm mơ ước của Mục Sư Martin Luther King đã thành sự thật. Tên tuổi và nhiệt huyết của ông đã đi vào lịch sử nhân loại và Mỹ Quốc.

Thời gian sẽ vô nghĩa và rỗng trống nếu không được đánh dấu bằng những mốc điểm quan trọng của lịch sử. Con người chúng ta cần có những chiếc mốc quan trọng ấy để nhắc nhở nhằm nhìn lại qúa khứ để rút tỉa những kinh nghiệm, và cùng dự phóng những chương trình cho tương lai. Những chiếc mốc thời gian đã qua có thể là những trang sử oanh oanh liệt liệt, mà cũng có thể là những trang sử thấm đẫm những dòng lệ buồn, với bao khúc thăng trầm bi ai. Dầu vậy, chúng ta không nhìn vào những chiếc mốc ấy với đôi mắt bàng quan yếm thế, nhưng phải nhìn bằng đôi mắt lạc quan. Bởi vì chúng ta vững tin rằng chính Thiên Chúa là Đấng cầm nắm lịch sử nhân loại. Hay nói đúng hơn, Chúa Jesus là tác giả của lịch sử nhân loại. Ngài luôn có mặt trong từng mỗi dòng chảy của lịch sử con người, của từng mỗi hiện hữu trên đất này. Với niềm tin vào sự hiện diện và sự quang phòng của Chúa sẽ giúp chúng ta nhìn vào những mốc điểm thời gian ấy như là những ký dấu của hy vọng và tin yêu. Cho dù ngay cả trong sự thất bại, tang chế, thương đau. Tin tưởng vào sự hiện diện của Chúa trong từng giây phút trong đời sống của mỗi cá nhân và lịch sử nhân loại, chắc chắn chúng ta sẽ luôn chọn Ngài là Người đệ nhất của qúa khứ, hiện tại, và tương lai.

Trong tinh thần đó, bước vào năm 2011 ước mong mỗi một đồng hương Việt Nam của chúng ta hãy tự hào về những thành qủa trong năm qua, mà cộng đồng chúng ta đã gặt hái được. Mỗi một người lính Việt Nam Cộng Hòa hãy ngẩn cao đầu tự hào về những cống hiến máu xương của quý vị trong qúa khứ, chúng tôi khắc ghi về những cống hiến của quý vị cho giống nòi dân tộc chúng ta. Các sinh viên học sinh hãy vui mừng tự chủ về những thành công trong một năm dài đèn sách, chúng tôi kỳ vọng nơi những tài năng của các sinh viên và học sinh. Quý cô, chú, bác nông gia hãy vui mừng về những đóng góp không nhỏ của mình trong việc đem đến hoa trái cho mạch sống hằng ngày tại tiểu ban Nam Úc. Những vị giáo chức dạy Việt Ngữ, chúng tôi tri ân quý vị về những cống hiến trong việc kiến xây những mầm non cho tương lai và đặc biệt là di trì được bản sắc văn hóa Việt trên đất tha hương.  

Đối với quý vị Tín Hữu theo chân Chúa Jesus bước vào năm 2011 chúng ta hãy chọn Thiên Chúa làm trung tâm điểm của cuộc sống. Là ưu tiên số một trong cuộc đời, là lý tưởng để đeo đuổi bằng đam mê của kính mến và hy sinh. Khi Ngài là mục tiêu hướng đến trong từng mỗi cá nhân, là điểm dừng để suy niệm hoài nhớ trong từng mỗi tiềm thức, chắc chắn mỗi cá nhân sẽ kinh nghiệm về tình yêu không hề biến đổi, sự cảm thông, ủi an của Ngài trong từng mỗi thăng trầm của cuộc đời trần thế. Vậy, hãy chọn Ngài làm thiết hữu, làm điểm tựa huyết mạnh, là giao nối cảm thông để giải bày những trăn trở, ưu tư trong thân phận kiếp người trần thế. Vì Thiên Chúa, mới chính là ấn dấu quan trọng nhất của thời gian, của từng mỗi dòng chảy trong lịch sử nhân loại.

Cầu xin Chúa bình an, Đấng cầm nắm vận mạng lịch sử của nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng ban cho từng mỗi đồng hương và quý vị Tín Hữu một năm mới Tân Mão 2011 thật hạnh phúc, sức khỏe và thành đạt.

Mục sư Huỳnh Thiên Trung

Hôn nhân nền tảng xã hội

posted Sep 15, 2011 5:05 PM by Mục sư Huỳnh Thiên Trung

 

Hôn nhân nền tảng xã hội

Hôn nhân là căn bản của đời sống gia đình. Gia đình là nhân tố xây dựng xã hội. Bởi vì qua hôn nhân, con người tiến tới một đời sống cộng thể và khai triển xã hội tính. Hôn nhân, do đó, không chỉ là một nhu cầu tình cảm cần được khỏa lấp, một khế ước được thừa nhận về mặt xã hội. Nó chính là một gạch nối giữa đời sống gia đình và đời sống xã hội, giữa những yếu tố gia đình và yếu tố của xã hội. Quan niệm hôn nhân trong tương quan xã hội đến từ tư tưởng “không ai là một hòn đảo”. Đó cũng là tư tưởng của Patrick Malton, một cựu đảng viên Cộng Sản trong thời chiến tranh lạnh, vì cảm nhận được ý nghĩa của hai chữ yêu thương và hiệp nhất, nên đã từ bỏ chủ thuyết Cộng Sản, đi tu và trở thành linh mục khổ tu và là một nhà tư tưởng. 

Con người, ngay từ khi lọt lòng mẹ đã mang sẵn trong mình xã hội tính. Ngoài đời sống thể lý, còn có đời sống tâm lý và tâm linh nữa. Tinh thần xã hội, tinh thần hợp quần và liên đới đến từ đời sống và nhu tâm tâm lý ấy. Đúng ta con người không chỉ sống riêng cho mình, mà còn cho những người chung quanh nữa. Trong ý nghĩa này, và trong tinh thần này, hôn nhân chính là một hình thức của nếp sống hợp quần, nếp sống tập thể tính và xã hội tính. Trong hôn nhân, không phải là một mà là hai, là ba, là bốn cá nhân trong một tập thể gia đình chung sống, sinh hoạt chung với nhau. Trong xã hội nhỏ bé này, mỗi người được sinh ra, lớn lên và hoạt động theo chiều hướng và tâm tư riêng, nhưng lại gắn bó và 

ràng buộc với nhau bằng những ràng buộc của tình yêu, của huyết thống, và của sự chia sẻ di truyền do cha mẹ để lại. Có thể nói, gia đình là một xã hội thu nhỏ, và là một tập thể có sức sống mạnh mẽ và gắn bó nhất, trong đó vợ chồng, cha mẹ, và con cái, anh chị em chia sẻ cùng một cảnh ngộ, cùng một môi trường, và cùng một sự thăng trầm của cuộc sống.

Những tư tưởng trên đưa tới một cái nhìn và ý tâm lý và tâm linh khi trình bày về hôn nhân với tương quan xã hội. Thật vậy, do tình yêu ràng buộc mà hai người yêu nhau đã đi đến một cuộc sống chung với nhau. Do tình yêu triển nở, phát sinh hoa trái là những đứa con. Và từ tình yêu cha mẹ nẩy sinh tình yêu con cái, và từ tình yêu con cái, nẩy sinh tình yêu anh chị em trong gia đình. Tuy nhiên, khi nghĩ tới những khía cạnh tích cực của hôn nhân trong cuộc sống xã hội, người ta không thể không đề cập tới những khía cạnh tiêu cực và ảnh hưởng tiêu cực của nó trong đời sống xã hội. Những con số thống kê mà chúng ta từng trưng dẫn trước đây về những đổ vỡ trong đời sống hôn nhân, nhất là ảnh hưởng của những đổ vỡ ấy đối với sự băng hoại của xã hội, khiến người ta không thể không nghĩ tới trước hết ảnh hưởng của nó nơi chính cuộc sống hôn nhân và gia đình của mỗi nạn nhân, mà người chịu ảnh hưởng nhất không ai khác là những đứa trẻ vô tội. 

Hãy giữ lại chiếc nĩa

posted Sep 15, 2011 5:04 PM by Mục sư Huỳnh Thiên Trung

 

Hãy giữ lại chiếc nĩa

Có một cô gái trẻ nọ vừa được chẩn đoán là mang một căn bệnh nan y và chỉ còn sống được ba tháng nữa mà thôi. Vì thế, cô gái chuẩn bị mọi thứ "sẵn sàng" cho mình, cô liên lạc với ông mục sư và mời ông đến để bàn về những ước muốn sau cùng của mình. Cô nói với ông bài hát nào cô thích được hát trong tang lễ, đoạn Kinh Thánh nào sẽ được đọc, và cô sẽ được an táng như thế nào.

Mọi việc đã được bàn bạc rõ, và khi vị mục sư chuẩn bị ra về thì cô gái bất ngờ nhớ ra một điều rất quan trọng. "À, còn một điều này nữa" cô gái nói giọng rất xúc động. "Điều gì vậy?" Mục sư hỏi. "Điều này rất quan trọng," cô gái nói tiếp. "Tôi muốn được chôn cất với một cái nĩa trong tay phải."

Vị mục sư đứng sững nhìn cô gái, ông không biết mình nên nói điều gì nữa. "Điều đó kỳ cục lắm, phải không mục sư?" Cô gái trẻ hỏi. "Vâng, thật tình thì cái yêu cầu này của cô làm tôi bối rối đấy." Ông mục sư đáp.

Cô gái giải thích "Một lần nọ, bà nội tôi đã kể cho tôi nghe một câu chuyện, và từ lúc đó trở đi, tôi cố gắng chuyển cái thông điệp này đến với những người tôi yêu mến và những người cần được nâng đỡ.

Bà nội tôi kể rằng trong suốt thời gian bà nhóm lại với Hội Thánh, trong những buổi thông công, cả Hội Thánh thường cùng ăn tối với nhau. Bà vẫn nhớ như in rằng khi các món ăn chính đã dùng xong và được dọn xuống, thì sẽ có một người đứng lên và nói "Xin mọi người giữ lại chiếc nĩa của mình." Đó là lúc bà thích nhất, vì bà biết rằng sẽ có một món gì rất ngon chuẩn bị được dọn ra... Có thể đó là chiếc bánh 

sô-cô-la mềm hấp dẫn hoặc là chiếc bánh táo thơm phức. Sẽ là một món gì rất tuyệt vời và rất giá trị!

Vậy nên tôi chỉ muốn mọi người nhìn thấy tôi trong chiếc quan tài với cái nĩa trên tay, tôi muốn họ sẽ phải thắc mắc: "Chiếc nĩa kia để làm gì vậy?" Và lúc đó, tôi muốn nhờ ông mục sư giải thích cho họ rằng, "Hãy giữ lại chiếc nĩa... vì điều tuyệt vời nhất vẫn chưa đến." Nước mắt vị mục sư tuôn ra vì cảm động, lòng đầy vui mừng. Ông ôm cô gái trẻ vào lòng và tạm biệt.

Ông mục sư biết rằng đây có thể là lần cuối cùng ông gặp cô gái trước khi cô qua đời. Nhưng ông cũng biết rằng cô gái trẻ đã có niềm tin vào sự sống đời đời mãnh liệt hơn cả chính ông, hơn cả những người gấp đôi tuổi đời với cô, những người gấp đôi kinh nghiệm sống và sự hiểu biết với cô. Vì cô BIẾT rõ có những điều tốt đẹp hơn đang đến trên đời sống mình.

Trong buổi lễ tang, mọi người đi vòng quanh quan tài để tạm biệt cô gái, họ thấy cô mặc chiếc váy rất đẹp và trên tay cô cầm một chiếc nĩa. Hết người này đến người khác đi qua, ông mục sư đều nghe một câu hỏi, "Cô ấy cầm cái nĩa làm gì thế?" Mỗi lần nghe câu hỏi, ông mục sư lại mỉm cười. Trong bài giảng, ông mục sư kể cho mọi người nghe về cuộc trò chuyện của mình với cô gái trước khi cô qua đời. Ông cũng giải thích với họ về chiếc nĩa và thông điệp mà cô gái muốn gửi đến mọi người.

Ông mục sư nói rằng bản thân ông không thể ngừng suy nghĩ về chiếc nĩa, và ông khuyên mời mọi người cũng hãy đừng quên nghĩ về nó. Và ông đã đúng! Mọi người chẳng thể nào quên được! Vì thế, nếu lần tới bạn dùng nĩa trong bữa ăn, hãy nhớ điều này: Điều tuyệt vời nhất của cuộc đời theo Chúa của chúng ta vẫn chưa đến!

Câu hỏi suy gẫm

Bạn có tin rằng thiên đàng thực sự hiện hữu hay không? Kinh Thánh dạy rằng, "...Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. 3 Khi ta đã đi, và sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó."

 

NGƯỜI QUÂN TỬ

posted Sep 15, 2011 5:03 PM by Mục sư Huỳnh Thiên Trung

 

NGƯỜI QUÂN TỬ

Đại phu nước Tấn thời Xuân Thu là Kỳ Hoàng Dương do tuổi cao muốn từ quan, Tấn Điếu Công bảo ông tiến cử người thay thế, Kỳ Hoàng Dương tiến cử Giải Hồ. Điếu Công ngạc nhiên hỏi, “Vì sao khanh lại tiến cử người vốn có thù oán với khanh?” Hoàng Dương tâu: “Bệ hạ muốn thần tiến cử nhân tài, chứ có hỏi kẻ thù của thần là ai đâu, Giải Hồ tuy thâm thù với thần, nhưng là bề tôi có thể dùng được.” Đúng lúc Điếu Công đề bạt Giải Hồ thì Giải Hồ lâm bệnh qua đời. Điếu Công lại nhờ Kỳ Hoàng Dương tiến cử một người khác. Lần nầy, Hoàng Dương giới thiệu con trai của mình là Kỳ Ngọ. Điếu Công ngạc nhiên hỏi: “Ngươi tiến cử con trai mình, không sợ thiên hạ dị nghị sao?” Họ Kỳ thưa: “Bậc quân tử vì việc công trên hết, tiến cử người ngoài không loại bỏ kẻ thù, tiến cử người trong không loại bỏ thân thiết.”

Một lần khác, Dương Thiệt Chức bệnh chết, Tấn Điếu Công cũng nhờ Kỳ Hoàng Dương tiến cử người thay thế, ông liền tiến cử con trai của Dương Thiệt Chức là Dương Thiệt Xích.

Có kẻ chỉ thích tiến cử người thân, để dễ dàng tạo nên vây cánh, bất chấp sự gièm pha của thiên hạ bàng quan. Người khác lại quá sợ sự bình phẩm của dư luận, đến nỗi khi người thân của mình có khả năng, vẫn e dè không dám tiến cử. Cả hai hành động trên đều không phải là vì việc công. Cơ Đốc nhân phải là một bậc quân tử, theo một ý nghĩa nào đó, tức là ngay thẳng trong lòng, ngay thẳng khi nhận định, ngay thẳng khi hành xử. Bất cứ điều gì làm sai lệch lẽ thật, bóp méo sự công bằng, bẻ cong khuôn phép, đều không thể dung túng được. Đừng bao giờ để những động lực tư kỷ nhơ bẩn làm vẩn đục sự trong sạch của một tâm 

hồn ngay thẳng. Hãy hiểu rằng tất cả những gì ta làm, đều là vì nước Chúa. Mọi thứ sẽ qua đi, người ngay thẳng sẽ nhận được phần thưởng về sự sống đời đời. “Hãy chăm chú người trọn vẹn, và nhìn xem người ngay thẳng. Vì cuối cùng người hòa bình có phước.” Thi Thiên 37:37

Hòa Bình (Dr Bill Wright)

posted Sep 15, 2011 5:02 PM by Mục sư Huỳnh Thiên Trung

 

Hòa Bình (Dr Bill Wright)

Có một người dong duổi khắp nơi với hi vọng tìm thấy một tương lai đầy hứa hẹn cho cuộc sống của mình .

Ngày đầu tiên, anh đi qua một vùng đất rộng và chỉ mong tìm được tảng đá để gối đầu để nằm nghỉ, anh nghĩ rằng: những người khác có thể là 

thù địch mà anh phải chiến đấu để có đuợc một chỗ riêng dưới ánh mặt trời.

Ngày thứ hai, anh tới một mảnh đất tắm đầy máu. Mặt đất như hét vào tai anh: "Khốn khổ! chết chóc". Xa hơn một chút nữa, những cây cối đang khóc lóc: "Bạo lực! đao phủ". Khắp nơi nổi lên những tiếng phàn nàn và than thở; sự khủng khiếp và những ô nhục của nó trải rộng khắp nơi, địa cầu phơi bày những vết thương của mình và kể lể về chiến tranh, giết chóc và những tội ác. Anh thầm nghĩ : "Điên! điên thật rồi". Và trong đầu anh vang lên tiếng thì thầm: "những người khác có thể là anh em để mình yêu mến và mình cùng với họ làm nảy sinh hoa trái sự thiện trên địa cầu". Anh cảm nhận được sự lo âu khi nhìn thấy nhân loại đắm chìm một lần nữa trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn, nỗi sợ hãi thắt chặt tim anh, làm anh nghi ngờ tương lai của mình.

Cứ thế, ngày qua ngày, anh đi từ vùng này đến vùng khác. Mỗi ngày anh khám phá ra hạnh phúc và bất hạnh ghi dấu ở nhiều nơi trên đường đi của lịch sử con người.

Một ngày kia, anh vào một đô thị. Những con đường và những cây cầu tươi cười la lên "Tự do! tự do!", nhưng các bức tường và những cửa sổ đã thêm vào: "đấu tranh đi! đối đầu đi". Dẫu vậy, trong ngày hôm đó, đám đông đã vui mừng reo lên: "Sự sống! Sự sống". Ngay cả những con chim cũng hát vang trời bài ca của ngày đại lễ. Lúc bấy giờ, chàng trai hát hò nhảy múa, anh chạy như bay, đùa dỡn và tự nhủ mình rằng: đời thật đẹp và đã cho con người hạnh phúc".

Chiều hôm ấy, trước khi đi ngủ, kẻ hành hương tự hỏi mình: Tại sao? Tại sao lại có chiến tranh bạo lực, trong khi con người khao khát hòa bình và hạnh phúc? Bấy giờ, có một bà cụ già đã đến gần bên anh và nói: "Hòa bình là hoa quả của con tim, nó sẽ đến khi con tim rộng mở và khi vết thương của sự đau khổ nhỏ ra một chút tình yêu".

 

NỖI TUYỆT VỌNG VÌ CÔ ĐƠN

posted Sep 15, 2011 4:58 PM by Mục sư Huỳnh Thiên Trung   [ updated Sep 15, 2011 5:02 PM ]

 

NỖI TUYỆT VỌNG VÌ CÔ ĐƠN

(Tiến sĩ Billy Graham)

SAU khi phu quân của Nữ hoàng Victoria qua đời, bà nói: “Chẳng còn ai để gọi tôi là Victoria nữa”. Tuy là một nữ hoàng, bà vẫn biết rõ cô đơn có nghĩa gì.

Vào sinh nhật thứ sáu mươi lăm của mình, H. G. Wells nói: “Tôi đã sáu mươi lăm tuổi, đang cô đơn, lòng không hề bình an”.

Isadora Duncan, nữ vũ công nhạc kịch lừng danh, từng khiêu vũ trước mặt các bậc đế vương của Âu châu, và được cho là nữ vũ công tài ba nhất của mọi thời đại, nói: “Tôi chưa bao giờ phải ở một mình, nhưng lòng tôi đau đớn, mắt tôi đẫm lệ, tay tôi run rẩy vì mong được sự bình an và niềm vui mà tôi chẳng bao giờ tìm thấy”. Rồi bà nói tiếp rằng, dầu đang sống giữa nhiều triệu người ái mộ mình, thật ra, bà là một người vô cùng cô đơn.

Mấy năm trước đây, một minh tinh trẻ đẹp của Hollywood, là người dường như có đầy đủ tất cả những gì một thiếu nữ có thể mơ ước, đã tự kết liễu đời mình. Cô ghi một lời ngắn ngủi, vô cùng đơn giản để nhắn lại với mọi người rằng cô ta cô đơn đến mức không thể nào chịu đựng nổi nữa.

Tác giả Thi-thiên nói: “Tôi giống như con chàng bè nơi rừng vắng, khác nào chim mèo ở chốn bỏ hoang. Tôi thao thức, tôi giống như chim sẻ hiu quạnh trên mái nhà” (Thi Thiên 102:6, 7).

Ông lại nói: “Sự sỉ nhục làm đau thương lòng tôi, tôi đầy sự khổ nhọc; tôi trông đợi có người thương xót tôi, nhưng chẳng có ai; tôi mong chờ người an ủi, song nào có gặp” (Thi Thiên 69:20)

Nỗi cô đơn của nơi hoang vắng

Trước hết, có nỗi cô đơn do vắng vẻ. Tôi cảm nhận nỗi cô đơn của đại dương khi chẳng còn tiếng động nào khác hơn là tiếng rì rào dọc theo một bờ biển lởm chởm những tảng đá. Tôi từng cảm thấy nỗi cô đơn trên một cánh đồng cỏ, thỉnh thoảng mới vang lên tiếng tru não nuột của một con chó sói. Tôi cảm thấy nỗi cô đơn của những rặng núi nhấp nhô, chỉ nghe tiếng gió thở dài.

Người lính canh vì nhiệm vụ phải đứng một mình trong trạm gác; hàng ngàn người sống trong các bệnh viện tâm thần; và những người bị biệt giam trong các lao xá, các trại tập trung, vốn biết rõ ý nghĩa của nỗi cô

 

đơn và nơi hoang vắng.

Louis Zamperini, vận động viên lừng danh trên đường chạy Thế vận hội từng kể lại nỗi cô đơn khủng khiếp của mình giữa cảnh vắng vẻ, khi anh phải lênh đênh bốn mươi ngày trên một chiếc bè cứu sinh, trong trận Thế chiến thứ hai.

Trong quyển sách rất hấp dẫn, quyển ‘Cô Đơn’(Alone), Đô đốc Richard E. Byrd kể lại thời gian ông sống đầy hoang mang, não lòng trong bóng tối. Ông phải nằm trong một nhà lều thật sự bị chôn vùi trong dải đất băng giá bao phủ Nam cực. Ông đã phải chịu đựng năm tháng tại đó. Ngày cũng tối đen như đêm. Trong vòng một trăm dặm,chẳng có một sinh vật bất cứ thuộc loại nào sinh sống cả. Cái lạnh gay gắt đến nỗi ông có thể nghe thấy hơi thở của mình đông cứng lại khi gió thổi nó bay ngang tai ông.

Ông nói: “Ban đêm, trước khi tắt đèn, tôi đã tập thành thói quen thảo kế hoạch cho công việc ngày hôm sau”. Để duy trì sức khỏe, ông buộc phải làm như vậy. Ông tiếp: “Thật là kỳ diệu khi có thể phân chia thời gian như vậy. Nó đòi hỏi tôi phải có một ý thức hết sức phi thường để tự ra lịnh cho chính mình; vì nếu không hoạt động liên tục, các ngày sống ở đó sẽ trở thành vô mục đích; mà nếu vô mục đích, chắc chắn chúng sẽ kết thúc bằng sự tan rã - như những ngày như thế bao giờ cũng kết thúc như vậy”.

Nỗi cô đơn giữa xã hội

Rất có thể bạn cho rằng sống trong vùng đất hoang vu băng giá như thế, Richard Byrd đã là người cô đơn nhất trong toàn thể mọi người. Nhưng nỗi cô đơn giữa xã hội còn tệ hại hơn cả nỗi cô đơn nơi hoang vắng, vì trong nhiều thành phố lớn, còn có sự cô đơn tệ hại hơn thế nữa.

 

Những con người khốn khổ sống trong một căn nhà thuê chật hẹp, chẳng bao giờ nhận được một lá thư, nghe một lời khích lệ, được một bạn thân nắm chặt bàn tay; cũng như nhà lãnh tụ xã hội mà tiền bạc dư thừa có thể mua tất cả mọi sự ngoại trừ tình yêu thương và hạnh phúc - đều biết rõ nỗi cô đơn mà ít người có thể cảm thông được.

Có nỗi cô đơn của những người sống đầu đường xó chợ, trên vỉa hè hay dưới những mái lều bằng giấy bồi, vơ vét thức ăn thừa trong hộp - đó là một nỗi cô đơn có một không hai.

Một chương trình truyền hình mới đây cho thấy cảnh cô đơn não lòng của một số người già bị bỏ mặc trong những nhà dưỡng lão đổ nát. Thế ngồi vô mục đích, đôi mắt thất thần của họ đã ám ảnh tôi. Họ là những người chết mà hãy còn sống. Thế nhưng ở phần hậu cảnh, có một cụ già bị bỏ rơi ngồi bên chiếc dương cầm cũ cũng bị bỏ đi, chỉ một ngón tay vào bài thánh ca nhan đề “Chúng ta có một bạn hiền, là Chúa Giê-xu”.

Trong sách Giăng 5:1-47, chúng ta đọc câu chuyện về Chúa Giê-xu; một hôm, Ngài đang đi qua các đường phố hẹp của Giê-ru-sa-lem, đến Cửa Chiên, gần ao Bê-tết-đa, Ngài thấy một đám rất đông người, ngồi chờ nước động. Bỗng Ngài chú ý một người dường như đang gặp khó khăn khổ sở hơn tất cả, Ngài dịu dàng hỏi người ấy: “Bạn có muốn lành bệnh không?” Người bại liệt đã tuyệt vọng ấy ngẩng đầu lên và nói: “Thưa ông, chẳng có ai giúp tôi, để khi nước động, thì ném tôi xuống ao”. Bạn hãy nghĩ xem, suốt ba mươi tám năm mỏi mòn chờ đợi, con người đau khổ này bị xô đẩy, chen lấn, đấm đá bởi cả một đám đông tại Giê-ru-sa-lem, cuối cùng, đã nói với Chúa Giê-xu: “Thưa ông, tôi chẳng có ai đưa tôi xuống ao cả”. Ông ta hoàn toàn không có bạn.

Bạn có thể có được một người bạn, còn thân thiết hơn cả anh em ruột nữa. Chúa Giê-xu có thể giúp bạn có một đời sống vui vẻ, mãn nguyện và vẻ vang. Ở khắp nơi trên thế giới, có triệu triệu người nam lẫn người

nữ đang yêu mến và phục vụ Chúa Giê-xu. Ngay lúc tin nhận Ngài, bạn sẽ trở thành thân thiết với họ, hơn cả với bà con thân thuộc của bạn nữa.

Tại Hoa-kỳ, không có một thành phố nào mà không có một Hội thánh ấm cúng để bạn có thể đến và gặp được những con người tuyệt diệu nhất nước Mỹ. Trong tất cả các cộng đồng tại Hoa-kỳ đều có một màng lưới khổng lồ các Cơ Đốc nhân chân chính đang hoạt động. Ngay lúc bạn siết chặt bàn tay họ, bạn biết chắc rằng mình đã có được những người bạn thân.

Nhưng trước hết, bạn phải ăn năn tội, dâng trọn tấm lòng và cuộc đời bạn cho Chúa Cứu Thế. Hãy để Ngài tha thứ các tội lỗi quá khứ của bạn, rồi Ngài sẽ nhận bạn vào gia đình Ngài; Ngài sẽ dẫn bạn đến cạnh lò sưởi, để bạn cảm nhận được hơi ấm của ngọn lửa. Nếu hôm nay bạn cô đơn, tôi nài xin bạn hãy đến ngay với Chúa Cứu Thế để biết rõ tình bạn mà Ngài sẽ đem đến cho bạn.

Nỗi cô đơn do đau khổ

Thứ ba, có nỗi cô đơn do đau khổ. Mấy năm trước đây, một thính giả nghe chương trình phát thanh của chúng tôi viết thư cho chúng tôi kể rằng, từ năm năm rồi, bà ta bị chứng sưng khớp xương làm cho bại liệt, phải ngồi một chỗ. Suốt năm năm trường mỏi mòn đau đớn, bà không thể nào vươn vai hay nằm duỗi dài ra được. Nhưng bà viết: “Tôi đã sống một mình trong nhiều ngày, nhưng chưa bao giờ bị cô đơn”. Tại sao vậy? Chính Chúa Cứu Thế đã tạo ra chỗ khác nhau đó. Với Chúa Cứu Thế là Cứu Chúa và là người Bạn chung thủy, thì chính bạn, dù sống một mình, bạn cũng sẽ chẳng bao giờ bị cô đơn.

Nếu hôm nay bạn đang nằm trên giường của một bệnh viện, bị cô đơn và đau khổ, bạn nên tin chắc rằng Chúa Cứu Thế có thể ban cho bạn ân điển và sức lực của Ngài. Trong lúc nằm đó, bạn vẫn có thể hữu ích cho Ngài. Bạn có thể biết được phần nào về chức vụ cầu thay, là một trong những chức vụ quan trọng nhất trên đất này, khi bạn cầu nguyện cho nhiều người khác.

Nỗi cô đơn do âu sầu

Thứ tư, có nỗi cô đơn do âu sầu. Trong chương 11 của sách Giăng, chúng ta đọc thấy trường hợp của Ma-ri và Mặc-thê. Anh trai của họ là Lã-xa vừa qua đời. Chúa Giê-xu vẫn chưa đến. Họ chỉ còn biết đứng bên thi hài anh mình mà khóc.

Có lẽ đối với bạn, cuộc đời cũng là một nghĩa địa mênh mông toàn những mồ mả. Có lẽ bạn hiện đứng trong phòng bệnh để chờ đợi một người thân thiết nhất đang nằm ngoài tầm tay mình. Bạn đang khát khao được một ai đó làm bạn với mình.

Bạn đang cần ai đó, có bàn tay mạnh sức đến với bạn, giúp lau khô những giọt lệ, đưa nụ cười nở lại trên gương mặt, để ban cho bạn niềm vui trong cảnh âu lo sầu muộn. Chúa Giê-xu có thể làm chính điều đó đấy. Kinh Thánh chép: “Hãy trao mọi lo âu cho Chúa, vì Ngài luôn luôn chăm sóc anh em” (I Phi e rơ 5:7). Đức Chúa Trời yêu thương con cái Ngài. Nếu bạn sẵn sàng tin cậy và dâng phó chính bạn cho Ngài, thì Ngài có thể gánh lấy nỗi sầu muộn của bạn.

Nỗi cô đơn do tội lỗi

Thứ năm, có nỗi cô đơn do tội lỗi. Trong Giăng 13:1-38, chúng ta thấy câu chuyện về Bữa Tiệc Tối Cuối Cùng. Chúa Giê-xu đã nói tiên tri về sự phản bội của Giu-đa. Các môn đệ ngây thơ của Ngài đã kinh ngạc nhìn nhau. Giăng hỏi: “Thưa Chúa, người đó là ai?” Chúa Giê-xu đáp: “Người lấy miếng bánh ta sắp nhúng đây”. Chúa nhúng một miếng bánh, rồi trao cho Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, con trai Si-môn; và chúng ta được biết là quỉ Sa- 

tan đã nhập vào Giu-đa. Chúa Giê-xu bảo ông ta: “Việc con làm, hãy làm cho nhanh”. Kinh Thánh chép: “Lấy miếng bánh xong, Giu-đa vội vã ra đi trong đêm tối”. Giu-đa đi ra - xa khỏi sự hiện diện của Chúa Cứu Thế - và lúc ấy là đêm tối.

Có lẽ bạn nghĩ rằng mình đã biết được niềm vui và sự bình an vì đã được sanh ra trong gia đình Thượng Đế. Bạn từng nếm trải mối thông công ngọt ngào với những người thuộc về Ngài. Bạn đã được hưởng trọn vẹn hạnh phúc và toại nguyện vì Chúa Cứu Thế hiện diện với bạn, nhưng rồi bạn lại phạm tội. Bạn đã xa lìa sự hiện diện của Chúa Cứu Thế, và nhận thấy bây giờ là đêm tối. Bạn không còn thông công được cả với các Cơ Đốc nhân lẫn với các tội nhân, và chắc chắn bạn không có thể thông công được với Chúa Cứu Thế. Có lẽ chẳng còn có nỗi cô đơn nào cay đắng hơn nỗi cô đơn của một Cơ Đốc nhân sa ngã.

Thế nhưng, vẫn có sự tha thứ dành cho bạn. Nếu bạn xưng tội của mình và lìa bỏ nó, thì sự thông công giữa bạn với Chúa Cứu Thế được phục hồi. “Nhưng nếu chúng ta thú tội với Chúa, Ngài sẽ giữ lời hứa tha thứ chúng ta và tẩy sạch tất cả lỗi lầm chúng ta, đúng theo bản tánh công chính của Ngài” (I Giăng 1:9)

Có lẽ bạn bảo rằng mình đã phạm tội suốt một thời gian dài lắm rồi - rất có thể đúng như vậy. Kinh Thánh bảo rằng khi phạm tội thì người ta cảm thấy vui thích đến một mức độ nào đó. Tuy nhiên, nó vốn ngắn ngủi và vô cùng tai hại. Có lẽ bạn đã được đọc bản tường trình của bác sĩ Kinsey hay một công trình nghiên cứu nào đó, và rất hài lòng khi được biết rằng có rất nhiều tội nhơn cũng xấu xa y như bạn - hoặc có khi còn tồi tệ hơn cả bạn nữa kia. Bạn không cô đơn. Không. Bạn vẫn nằm trong số đông. Hẳn bạn sẽ hỏi, thế thì nỗi cô đơn do tội lỗim đến từ đâu? Hiện nay, có thể bạn là một người trong đám đông, nhưng sẽ có một ngày, từng người trong các bạn sẽ phải ứng hầu một mình trước mặt Thượng Đế Toàn Năng, để chịu sự phán xét của Ngài. Bấy giờ sẽ là tuyệt đỉnh nỗi cô đơn của bạn trên quả đất này, nhưng mới chỉ là phần dự báo cho nỗi cô đơn của hỏa ngục mà thôi.

Vì đối với tất cả những ai trải qua nẻo đường tội lỗi, thì có một vực sâu của đêm tối bao phủ, cách ly, cô lập họ khỏi tất cả những gì là tình bạn, là sự thông công đẹp đẽ, chân thực. Tội lỗi bao giờ cũng là tối tăm. Tội lỗi luôn luôn là tối tăm. Giu-đa bị cô đơn vì ông ta đã phạm tội. Trong Ô Sê 4:17, Thượng Đế phán: “Ép-ra-im mê thần tượng; hãy để mặc nó (cô đơn một mình)”. Vì có lòng tham và tội thờ hình tượng của dân Ép-ra-im mà Thượng Đế phán rằng: “Chớ có giao du, bè bạn với chúng nó. Cứ để mặc chúng nó trong cô đơn”. “Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy” (Ê sai 53:6). Ở đây, một lần nữa, chúng ta thấy nỗi cô đơn do tội lỗi gây ra.

Một tiếng đồng hồ trước khi đấu súng với Alexander Hamilton, Aaron Burr ngồi trong thư viện của ông ta tại Richmond Hill, New York, viết cho con gái mình, rằng: “Có một nhà hiền triết đã nói: Kẻ nào tưởng chỉ có một mình trong nỗi cô đơn, thì thật ngu dại”. Ngay trước tiếng súng định mạng nổ vang, và hành động đẫm máu được thực hiện, ông đã cảm nhận được nỗi cô đơn do tội lỗi mình gây ra. Chỉ trong vài giờ nữa, ông sẽ trở thành kẻ trốn chạy để xa lánh sự ghê tởm bất ngờ và sâu xa của đồng bào ông. Sự nghiệp chính trị của ông bị tiêu ma vĩnh viễn, và các tham vọng lớn lao của ông cũng tan tành.

Trong thành phố cũng như ở vùng quê, có hàng ngàn người cô đơn, mang nặng những gánh âu lo phiền muộn, đau khổ và thất vọng hết sức khó chịu của mình; nhưng linh hồn cô đơn nhất vẫn là kẻ mà cuộc sống đang đắm chìm trong tội lỗi. Tôi muốn nói với bạn rằng mỗi một tội mà bạn cố ý bám chặt vào, đều là một năng lực vô cùng mạnh mẽ khiến cho bạn bị cô đơn. Càng cao tuổi bao nhiêu, bạn sẽ càng bị cô đơn bấy nhiêu. Tôi 

nài khuyên bạn hãy đến dưới chân thập tự giá và xưng nhận rằng mình là một tội nhân, rồi hãy từ bỏ các tội lỗi của mình đi.

Chúa Cứu Thế có thể ban quyền năng cho bạn để bạn chiến thắng tất cả các tội lỗi và thói xấu trong đời sống bạn. Ngài có thể cắt đứt mọi dây trói buộc, đập tan mọi xiềng xích gông cùm của tội lỗi; nhưng chính bạn, phải ăn năn hối cải, xưng tội và hạ mình đầu phục Ngài trước đã. Ngay giờ này, mọi việc đều có thể được thu xếp, để bạn có thể kinh nghiệm được sự bình an, niềm vui và sự thông công kết bạn với Chúa Cứu Thế.

Nỗi cô đơn của Chúa Cứu Thế

Sau cùng, có nỗi cô đơn của Chúa Cứu Thế. Hàng ngàn người đang chen chúc nhau chung quanh Ngài. Niềm vui lớn của ngày Lễ Vượt-qua lan tràn khắp nơi, nhưng Chúa Giê-xu là người “đã bị người ta khinh dể và chán bỏ, từng trải sự buồn bực, biết sự đau ốm, bị khinh như kẻ mà người ta che mặt chẳng thèm xem; chúng ta cũng chẳng coi người ra gì. Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Thượng Đế đánh và đập, và làm cho khốn khổ. Nhưng người đã vì tội lỗi của chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác của chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bệnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy; Chúa đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người” (Ê sai 53:3-6).

Chúa Giê-xu rất cô đơn. Ngài đã đến với dân mình, nhưng dân Ngài đã không tiếp nhận. “Nhưng mọi việc xảy ra đây đều làm ứng nghiệm lời các nhà tiên tri trong Thánh Kinh. Khi ấy, tất cả các môn đệ đều bỏ chạy.” (Ma thi ơ 26:56). Đám đông vừa tung hô: “Hô-sa-na”, thì ngay trong ngày hôm đó, họ cũng đã hò hét: “Đóng đinh nó vào cây thập tự! Đóng đinh nó vào cây thập tự!” Bây giờ, cả đến mười hai môn đệ trung thành với Ngài cũng từ bỏ Ngài.

Và cuối cùng, chúng ta còn nghe Ngài kêu lên: “Thượng Đế ơi! Thượng Đế ơi! Sao Ngài lìa bỏ Con?” (Mác 15:34). Chẳng những Ngài đã bị bạn bè là loài người lìa bỏ, mà giờ đây, vào giây phút cô đơn tuyệt vọng - vì đang gánh tội lỗi của chúng ta trong thân thể Ngài trên thập tự giá - Ngài cũng bị cả Thượng Đế bỏ rơi nữa! Sở dĩ Chúa Giê-xu phải gánh chịu sự thống khổ và phán xét của hỏa ngục như vậy, chính là vì bạn và vì tôi.

Hỏa ngục, chính là sự phân cách với Thượng Đế. Hỏa ngục là nơi vắng vẻ, quạnh hiu nhất trong vũ trụ này. Chúa Giê-xu đã nhận lấy sự đau khổ đó là vì bạn, thay cho bạn. Nhưng Thượng Đế phán: Hãy ăn năn, hối cải, tin Chúa Cứu Thế, nhận Chúa Cứu Thế thì bạn sẽ chẳng bao giờ còn phải chịu sầu muộn, cô đơn, và chịu sự hình phạt của hỏa ngục.

“Vì tất cả những người kêu cầu Danh Chúa đều được cứu rỗi” (Rô ma 10:13).

 

Nhắm đích

posted Sep 15, 2011 4:57 PM by Mục sư Huỳnh Thiên Trung

 

Nhắm đích

Sally đã thuật lại cho chúng tôi nghe một kinh nghiệm mà cô học được trong một lớp ngoại khóa với tiến sĩ Smith. Cô kể rằng tiến sĩ Smith là diễn giả nổi tiếng với những bài giảng rất tinh tế.

Một ngày nọ, khi bước vào lớp, Sally nhận thấy rằng hôm nay lớp sẽ có một trò vui gì đấy. Trên tường là một tấm bia lớn, và trên chiếc bàn gần đó có rất nhiều phi tiêu. Tiến sĩ Smith bảo với tất cả học sinh rằng hãy vẽ hình của người nào mà bạn ghét nhất, hoặc là hình của ai làm cho bạn tức giận, và ông cho phép họ ném phi tiêu vào hình vẽ đó.

Cô bạn của Sally vẽ hình cô gái đã "cướp" mất người yêu của cô.Một người khác thì vẽ hình đứa em trai của mình. Sally cũng vẽ bức hình của một người bạn cũ, cô dồn công sức để vẽ sao cho thật giống, ngay cả những cái mụn trên mặt cô bạn. Xong xuôi, Sally có vẻ rất hài lòng với tác phẩm của mình...

Cả lớp xếp hàng và bắt đầu ném phi tiêu, mọi người cười nói rôm rả và không khí có vẻ rất vui nhộn.Một số học sinh ném phi tiêu rất mạnh đến nỗi tấm hình của họ bị rách toạc cả ra. Sally chờ tới lượt mình... Và cô đã rất thất vọng khi tiến sĩ Smith đề nghị mọi người dừng lại và trở về chỗ ngồi vì thời gian có hạn.

Trong khi Sally ngồi nghĩ và hậm hực trong lòng vì không có cơ hội để ném phi tiêu vào hình kẻ mình ghét, thì tiến sĩ Smith bắt đầu gỡ tấm bia ra khỏi tường.

 

Và sau tấm bia đó là bức hình của Chúa Jesus...

Một sự im lặng bao trùm cả lớp học khi các học sinh trong lớp nhìn thấy bức hình của Chúa Jesus bị rách nham nhở trên tường; Những cái lỗ và những dấu lởm chởm trên mặt Chúa, và hai mắt Chúa bị đâm thủng.

Tiến sĩ Smith chỉ nói một câu, "Hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy."

Tất cả mọi người đều im lặng, nước mắt chảy dài trên khuôn mặt của những học sinh trong lớp, mọi người nhìn vào bức ảnh của Chúa và suy gẫm cho bản thân mình.

Câu hỏi suy gẫm

Hãy nghĩ về người mà bạn ghét nhất! Bạn đang đối xử với người đó như thế nào?

Kinh Thánh dạy, "... Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy."

 

1-10 of 68